Tải bản đầy đủ
IV.7 Ví dụ tính toán dập giếng

IV.7 Ví dụ tính toán dập giếng

Tải bản đầy đủ

Xâm nhập xảy ra, giếng được đóng phù hợp và ghi lại áp suất. Không có phao
nổi trên cột cần.
Bể chứa

30 bbl

SIDPP

750 psi

SICP

1375 psi

Áp suất đường xả giảm được biết như sau ( với dung dịch 12.0 ppg)
3.5 bbl/phút

450 psi

Tốc đột tuần hoàn chậm được ghi lại dưới ống chống và trên ống bao là :
3.5 bbl/ phút

800 psi

Chú ý: CLFL = Choke Line Friction Loss : Tổn thất ma sát đường xả.

Hình 5.14 Bảng tính xâm nhập dưới biển điển hình 1/4

Hình 5.15 Bảng tính xâm nhập dưới biển điển hình 2/4

Hình 5.16 Bảng tính xâm nhập dưới biển điển hình 3/4

Hình 5.17 Bảng tính xâm nhập dưới biển điển hình 4/4
A. Đầu tiên nhìn qua ta thấy, SCIP cao hơn MAASP và có nguy cơ chân ống
chống nứt vỡ. Tuy nhiên, nó nên được nhớ rằng đường xả chứa đầy nước
biển (0.445 psi/ft) từ khi gradient của dung dịch là :
13.0 x 0.052
True SICP

= 0.676 psi/ft
= 1375 – 1800 x (0.676 – 0.445)

= 1375 - 415
= 960 psi
Do đó MAASP là không vượt quá.
B. Gradient xấp xỉ của dòng bây giờ có thể được tính từ công thức:
G dòng

= G dung dịch -

Ht dòng

= khoảng không hố khoan vành xuyến
= 30 0.0836
= 359 ft

G dòng

= 0.676 = 0.676 – 0.584
= 0.1 psi/ft (0.092 psi/ft)

Do đó dòng được giả sử là khí và vấn đề liên quan đến sự di chuyển và giãn nở
khí nên được giải quyết trước.
C. Nếu nó được quyết định dập giếng tại 3.5 bbl/phút và bao gồm giảm áp suất
đường dập giếng trong áp suất tuần hoàn ban đầu, vậy áp suất tuần hoàn cuối
cùng là gì? Không có hệ số an toàn khác được sử dụng.
Trong lượng dung dịch yêu cầu để dập giếng (W2) cho bởi:
W2 = W1 +
= 13.0 +
= 13.0 + 1.6
= 14.7 ppg
Xem tính toán dung dịch dập giếng:
Áp suất vỉa là (8800 x 13 x 0.052) + 750 = 6698.8 psi (được tính)
Xu hướng làm tròn tính toán được xem xét tiêu chuẩn, chúng ta phải dựa vào
dung dịch dập giếng.
Dung dịch dập giếng ( bùn hãm, dung dịch nặng) = + 13 ppg
= + 13 ppg
= 14.64 ppg
(làm tròn hai số sau dấy phẩy)
Áp suất thủy tĩnh làm tròn 14.6 = 6680.96 (dưới cân bằng)

14.63 = 6694.68 (dưới cân bằng)
14.638 = 6698.34 (dưới cân bằng)
14.64 = 6699.26 (cân bằng)
Trọng lượng thực tế có thể là 14.7 ppg, điều này sẽ tạo ra sự mất cân bằng rất
nhỏ = 6726.72 psi = (+27.92 psi trên cân bằng)
Sử dụng ống bao PSCR và đường xae PSCR cho tính toán dập giếng
Nhiều người lần đầu làm việc tính toán kiểm soát giếng dưới biển thường hỏi tại
sao áp suất tuần hoàn chậm (SCR) qua ống bao được sử dụng, trong khi giếng được
tuần hoàn qua đường xả, và áp suất tuần hoàn chậm đường xả không được bao
gồm?
Tính toán dưới đây bao gồm tổn thất ma sát đường xả, nó sẽ chỉ ra rằng giếng sẽ
được tăng áp suất bởi giá trị ma sát đường xả.
Vì vậy phải điều chỉnh, để cho phép ma sát thoát ra khỏi van xả.
So sánh áp suất khi tính ICP và FCP:
Sử dụng ống bao SCR (psi)

Sử dụng ma sát đường xả (psi)

ICP = SIDPP + SCR

ICP = SIDPP + SCR + CLFL

= 750 + 800

= 750 + 800 + 450

= 1550 psi

= 2000 psi

FCP = 800 x
= 901 psi

FCP = 1250 (800 + 450) x
= 1414 psi

Nó có thể không được ghi chú từ hai ví dụ, nếu áp suất tổn thất ma sát đường xả
được sử dụng để tính toán dập giếng, ICP VÀ FCP sẽ là áp suất giếng quá cao 450
psi tại điểm khởi động và 513 psi tại FCP.
Áp suất thêm này có thể là nguyên nhân tổn thất vỉa.
Nó cũng không cần thiết để giữ áp suất CLFL thêm này trong giếng, như trong
sử dụng áp suất ống bao SCR để tính toán, sau đó chúng ta cần lấy giá trị của CLFL
từ giếng bằng sử dụng xả tự động (dụng cụ đo ống chống) trong quá trình khởi động
giếng.

Chương 5. Quy trình và các biện pháp an toàn trên Tàu khoan
Kết luận
Tài liệu tham khảo