Tải bản đầy đủ
III.3 Hệ thống kiểm soát đối áp.

III.3 Hệ thống kiểm soát đối áp.

Tải bản đầy đủ

Khi máy bơm tích áp bơm chất lưu thủy lực vào trong bình (thông qua một cái
van ở đáy bình), ruột bên trong bình sẽ bị ép lại và nến khí nitro ở bên trong. Khi áp
suất ở trong bình đạt tới áp suất hoạt động của hệ thống thì máy bơm dừng lại và
chất lưu được chứa trong bình dưới dạng nén. Bình tích này thì có rất nhiều kích
thước. Loại 11 và 35 gallons thì được sử dụng phổ biến hơn. Đối với loại 11 gallons,
thể tích ruột nitro là khoảng 1 gallons. Còn loại còn lại là khoảng 10 gallons.

- Bình tích hình trụ với một phao nổi.
Loại bình này cũng có dạng hình trụ. Nhưng thay nó thay ruột mềm bằng một
phao nổi. Nitro được bơm trước đó tới áp suất trước nạp. Sau đó, máy bơm sẽ bơm
chất lưu thủy lực vào bình và phao sẽ dâng lên, nén khí nitro. Khi áp suất của bình
đạt tới áp suất hoạt động của hệ thống, máy bơm sẽ dừng lại và chất lưu được chứa
dưới dạng nén. Loại bình này cũng có nhiều kích cỡ khác nhau.

Hình 4.18 Kiểu van nổi và kiểu ruột mềm

- Bình hình cầu với phao nổi.
Có dạng hình cầu có một cái phao bên trong. Tuy nhiên ở đây phao lại không
ngăn cách nitro và chất lưu. Đây chính là hạn chế chính của loại bình này. Phao thì
nổi trên mực chất lỏng và đóng van trước khi chất lưu chảy ra ngoài. Sức chứa của
loại bình này là 80 gallons.

Hình 4.19 Thể tích và áp suất hoạt động của bình tích

III.3.3 Hệ thống máy bơm
Hệ thống máy bơm dùng để cung cấp chất lưu thủy lực cho các bình tích. Gồm
2 loại máy bơm: loại dùng khí và loại dùng điện. Mỗi bộ đều hoạt động độc lập với
cái còn lại. Cả hai bộ đều được nối tới hệ thống ống dẫn chung tới bình tích.

Hình 4.20 Máy bơm điện

Hình 4.21 Máy bơm dùng khí nén
III.3.4 Hệ thống ống dẫn
Hệ thống ống dẫn có tác dụng dẫn dòng chất lưu tới các bộ phận của đối áp
đồng thời cũng điều chỉnh áp suất dòng chất lưu tới đối áp. Hệ thống này gồm hai
bộ điều chỉnh chính: một cho đối áp ngàm và van, và một cho đối áp vạn năng.

Ví dụ : áp suất hoạt động của hệ thống là 3000 psi. thì bộ phận điều chỉnh sẽ
làm cho áp suất của bình tăng lên đến 3000 psi và điều chỉnh nó xuống 1500 psi cho
đối áp ngàm và van. Và nó cũng điều chỉnh xuống áp suất hoạt động của đối áp vạn
năng. Áp suất của đối áp ngàm, van, đối áp vạn năng và của bình tích sẻ hiển thị
trên đồng hồ đo (lắp trên cụm ống).
Hệ thống ống cũng có chức năng đưa chất lưu từ đối áp về các bể chứa.
III.3.5 Bể chứa
Bể chứa là một thiết bị dùng để chứa chất lưu sau khi từ đối áp trở về ở dạng
không nén.
III.3.6 Bảng điều khiển từ xa.
Bảng điều khiển được xem là xa vì nó nằm cách hệ thống tích áp một khoảng
cách nhất định. Vị trí thông thường bảng điều khiển được lắp là tại vị trí của thợ
khoan hoặc gần đường thoát hiểm. Một vài công ty đã qui định khoảng cách an toàn
cho bảng điều khiển. Có ba loại hệ thống hoạt động từ xa cơ bản là : khí, điện – khí
và loại điện – thủy lực.

Hình 4.22 Bảng điều khiển của thợ khoan
III.3.7 Những yêu cầu chung đối với hệ thống điều khiển.

- Công suất của bình nạp và máy bơm phải đủ cho hệ thống đối áp.
- Giữ được áp suất và không bị rò rỉ hoặc bơm vượt áp.
- Các máy bơm được thiết kế để nạp chất lưu cho bình tách trong một khoảng
thời gian phù hợp và duy trì quá trình nạp trong suất quá trình chống phun.