Tải bản đầy đủ
3 Nghiên cứu lựa chọn phương pháp khai thác Gaslift định kỳ áp dụng khai thác các giếng có sản lượng thấp tại mỏ Bạch Hổ.

3 Nghiên cứu lựa chọn phương pháp khai thác Gaslift định kỳ áp dụng khai thác các giếng có sản lượng thấp tại mỏ Bạch Hổ.

Tải bản đầy đủ

132
 Có thể tiến hành khảo sát và xử lý đáy giếng mà không phải kéo ống khai thác
và thay thiết bị lòng giếng.
 Giảm đáng kể sự tạo thành Parafin trên thành ống khai thác : Do ở chu kỳ nghỉ
, dầu được tích lũy trong ống nâng đến độ sâu 500 – 1000 m với nhiệt độ ở đáy cao 90
– 1000C . Khi sang chu kỳ làm việc , dầu khí được nén đẩylên bề mặt với vận tốc cao.
Vận tốc như vậy cùng với nhiệt độ dòng dầu sẽ đảm bảo không có điều kiện thành tạo
Parafin trong ống.
 Chế độ cấp khí nén ổn định , van làm việc đóng mở theo một chế độ nhất định
tại độ sâu đặt van dẫn đến ổn định toàn hệ thống Gaslift.
Nhược điểm :
 Lưu lượng khai thác cực đại bị giới hạn .
 Áp suất dao động mạnh ở vùng cận đáy giếng , có thể dẫn đến phá hủy đáy giếng.
 Không thích hợp với những giếng sâu trang bị cột ống nâng nhỏ.
 Khó điều khiển trong hệ thống Gaslift khép kín và nhỏ.
Kết luận :
Bằng việc phân tích , nghiên cứu và tìm hiểu phân tích các phương pháp Gaslift
định kỳ đang được áp dụng trên thế giới và xí nghiệp liên doanh Vietsov petro qua
tổng kết các ưu nhược điểm , các điều kiện cần thiết của các trang thiết bị hiện có cũng
như hiệu quả từng phương pháp đối với từng điều kiện khai thác . Việc áp dụng
phương pháp Gaslift định kỳ dùng van Gaslift chu kỳ trên phạm vi mỏ Bạch Hổ cho
các giếng khai thác có sản lượng thấp sẽ đen lại hiệu quả kinh tế cao so với phương
pháp Gaslift định kỳ sử dụng bồn tích chứa và phương pháp khai thác Gaslift định kỳ
sử dụng con thoi đẩy.
8.3.2 Phân tích kết quả áp dụng phương pháp khai thác Gaslift định ky sử dụng
van Gaslift chu ky tại mỏ Bạch Hổ
Hiện nay tại mỏ Bạch Hổ thuộc XNLD Vietsov Petro , một số giếng khai thác
Gaslift liên tục có sản lượng thấp người ta chuyển sang khai thác Gaslift bán chu kỳ
điều khiển bằng thiết bị định giờ bề mặt ( cho làm việc vài giờ trong ngày ) và phương

133
pháp Gaslift định kỳ sử dụng van Gaslift chu kỳ : Phương pháp Gaslift định kỳ sử
dụng van Gaslift chu kỳ. Sau đây là những phân tích đánh giá theo chế độ làm việc của
một số giếng theo các chế độ khai thác Gaslift định kỳ trên.
Giếng No. 175 : Thuộc Oligoxen dưới vòn Nam. Trước khi chuyển sang chế độ
Gaslift định kỳ , giếng khai thác liên tục với chế độ khí nén đặt Q kt = 10000 m3/Ngđ ,
lưu lượng khai thác trung bình khoảng 23 m 3/Ngđ. Nhiệt độ miệng giếng trung bình 26
– 32 0C , khoảng thời gian dừng giếng để xử lý Parafin trong ống nâng và cụm phân
dòng khoảng 3 lần / tháng ( mỗi lần khoảng chừng 6 -8 giờ ) . Khi chuyển sang chế độ
khai thác Gaslift bán chu kỳ điều khiển bằng thiết bị định giờ bề mặt , lưu lượng khí
nén vẫn đặt Qkt =10000 m3 /Ngđ và lưu lượng chất lỏng khai thác trung bình khoảng
15 m3/Ngđ , lượng khí nén tiêu thụ thực tế trung bình khoảng 5921 m 3/ Ngđ, nhiệt độ
miệng giếng trung bình khoảng 28 – 38oC . Tiếp theo chuyển sang chế độ khai thác
Gaslift định kỳ sử dụng van Gaslift chu kỳ ( thay van làm việc bằng van chu kỳ loại
WFM – 14R bằng dụng cụ cáp tời ) . Lưu lượng khí nén vẫn đặt Q kt = 10000 m3/Ngđ,
lưu lượng khai thác trung bình 28 m3/ Ngđ và nhiệt độ miệng giếng dao động khoảng
26 – 39oC.
Giếng No.708 : Thuộc Mioxen dưới vòn Bắc. Trước khi chuyển sang chế độ
khai thác Gaslift định kỳ , giếng khai thác Gaslift liên tục với chế độ khí nén đặt Q kt =
9000 m3/Ngđ , lưu lượng khai thác trung bình 6 m 3/Ngđ, nhiệt độ miệng giếng trung
bình là 26 – 310C , khoảng thời gian dừng giếng để xử lý Parafin trong ống nâng và
cụm phân dòng khoảng 1 lần/ tháng ( mỗi lần 6 – 8 giờ) . Khi chuyển sang chế độ khai
thác Gaslift bán chu kỳ điều khiển bằng thiết bị định giờ bề mặt , lưu lượng khí nén
vẫn đặt Q = 9000 m3/Ngđ lưu lượng chất lỏng khai thác trung bình 5,3 m 3/ Ngđ lượng
khí nén tiêu thụ thực tế trung bình khoảng 4560 m3/Ngđ , nhiệt độ miệng giếng trung
bình khoảng 28 – 330 C . Tiếp theo chuyển sang chế độ khai thác Gaslift định kỳ sử
dụng van Gaslift chu kỳ ( thay van làm việc bằng van Gaslift chu kỳ loại WFM – 14R
bằng dụng cụ cáp tời. Lượng khí nén vẫn đặt Q kt = 9000 m3/Ngđ , lưu lượng khai thác
trung bình khoảng 6,2 m3/Ngđ và nhiệt độ miệng giếng dao động trong khoảng 26 –
360C.
Giếng No.145: Thuộc Mioxen vòn bắc . Trước khi chuyển sang chế độ khai thác
Gaslift định kỳ , giếng khai thác Gaslift liên tục với chế độ khí nén đặt Q kt = 10000 m3/

134
ngđ , lưu lượng khai thác trung bình đạt 18 m 3/Ngđ , nhiệt độ miệng giếng trung bình
khoảng 26 – 330C , khoảng thời gian dừng giếng để xử lý Parafin trong ống nâng và
cụm phân dòng khoảng 2 lần / tháng ( mỗi lần 6 -8 giờ ). Khi chuyển sang chế độ khai
thác Gaslift bán chu kỳ điều khiển bằng thiết bị định giờ bề mặt , lưu lượng khí nén
vẫn đặt Qkt = 10000 m3/Ngđ , lưu lượng chất lỏng khai thác được trung bình 14
m3/Ngđ , lượng khí nén tiêu thụ thực tế trung bình khoảng 7580 m 3/ Ngđ, nhiệt độ
miệng giếng trung bình 28 – 390 C . Tiếp theo chuyển giếng sang chế độ khai thác
Gaslift định kỳ sử dụng van Gaslift chu kỳ ( thay van làm việc bằng van chu kỳ loại
WFM – 14 R bằng dụng cụ cáp tời ). Lưu lượng khí nén vẫn đạt Q kt = 10000 m3/
Ngđ / lưu lượng khai thác trung bình 25m 3/ Ngđ và nhiệt độ miệng giếng dao động
khoảng 28 – 380C.

135

CHƯƠNG 9 AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
9.1 Vai trò của công tác an toàn trong khai thác dầu khí
Khai thác dầu khí là công việc nặng nhọc và độc hại. Công nhân viên phải làm
việc trong điều kiện cơ nguy cơ xảy ra tai nạn cao. Hàng ngày họ phải đối mặt với
nguy hiểm như các hóa chất độc hại trong việc xử lý vùng cận đáy giếng, chất nổ, chất
khí độc có thể rò rỉ từ bộ phận thu gom, vận chuyển. Dầu lại là một chất có khả năng
gây nổ, dù chỉ một hành động không tuân theo các qui tắc an toàn cũng có thể gây
cháy nổ giàn rất nguy hiểm. Cùng với nguy hiểm gây ra do hóa chất trong quá trình
khai thác thì các thiết bị máy móc cũng là nguồn có khả năng gây tai nạn cao. Do phải
thường xuyên đối mặt với các nguy hiểm như vậy, để đảm bảo không xảy ra các tai
nạn đáng tiếc gây thiệt hại đối với của cải cũng như đối với con người, vì thế công tác
an toàn đặt lên hàng đầu trong quá trình khai thác. Thực hiện tốt công tác an toàn
không những mang lại những lợi ích kinh tế mà còn đảm bảo cuộc sống an lành đối
với công nhân viên làm việc trên giàn khoan. Nó không những giúp chúng ta bảo vệ
được những thành quả lao động đã đạt được, mà còn mang lại cho chúng ta những sức
lực và ý chí để có thể lao động ngày càng tốt hơn.
9.2 Các yêu cầu đối với công tác an toàn lao động ở trên giàn khoan
9.2.1 Yêu cầu đối với người lao động
Người lao động có thể làm việc được trong điều kiện này đòi hỏi phải có sức
khỏe tốt, ít bệnh tật. Yêu cầu quan trọng lớn nhất đối với người lao động là phải nắm
vững các quy tắc lao động. Muốn vậy người lao động cần phải tổ chức học các quy tắc
an toàn tại trung tâm an toàn của xí nghiệp liên doanh. Cần phải ghi nhớ và tiến hành
thi lấy chứng chỉ trước khi ra làm việc ở giàn khoan. Công tác này phải được thực hiện
một cách nghiêm ngặt, có như vậy mới mang lại hiệu quả cao.
Người lao động cũng cần phải có trình độ chuyên môn vững vàng để khi làm
việc tránh khỏi những sai sót dẫn đến tai nạn. Họ cần nắm vững được nhiệm vụ của
mình trong công việc thực hiện quy trình an toàn. Đó là trách nhiệm đối với chính
mình cũng như đối với toàn thể công nhân trên giàn và thiết bị khai thác. Cùng với
việc thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức tự giác thực hiện các quy tắc an toàn,
nâng cao trình độ hiểu biết về an toàn lao động và tổ chức các đợt thực hành về công
tác chống cháy nổ.

136
Tổ chức kiểm tra thường xuyên các thiết bị an toàn như xuồng cứu sinh phao
cứu sinh, các đường cứu hỏa, các thiết bị cháy nổ, lập kế hoạch phòng chống các sự cố
và phương pháp giải quyết khi có cháy nổ.
9.2.2 Yêu cầu đối với các thiết bị máy móc
Đối với các thiết bị máy móc có nguy cơ cháy nổ cao can phải kiểm tra kĩ càng
về độ an toàn của thiết bị trước khi sử dụng. Thiết bị phải được đặt ở vị trí mà khi cháy
không ảnh hưởng đến các bộ phận khác. Trên thiết bị có các bộ phận an toàn như van
an toàn (đối với các thiết bị chịu áp lực), đồng hồ báo cháy tự động (thiết bị dễ cháy).
Như vậy thiết bị đóng góp đáng kể vào công tác an toàn lao động. Theo thống kê
những tai nạn do nguyên nhân chủ quan của người lao động là không tuân thủ các quy
tắc an toàn và các tai nạn xảy ra do không kiểm tra kĩ các thiết bị bảo đảm an toàn.
Vậy vấn đề cần đặt ra là phải kiểm tra tính an toàn của thiết bị (thiết bị dễ cháy, nổ,
đường day điện, dụng cụ treo vật nặng. . .). Kiểm tra số lượng, chất lượng của các loại
dụng cụ đảm bảo an toàn cho phao cứu sinh, thiết bị cứu hỏa. Thiết bị phải thường
xuyên được bảo dưỡng ở những chỗ hỏng, cần đặt thiết bị nguy hiểm xa khu vực sinh
sống và bố trí tàu cứu hộ thường xuyên túc trực ở nơi làm việc.
An toàn đối với giếng khai thác: Để tránh hiện tượng phun tự do người ta có
quy định về áp suất ống chống cho phép. Thông thường áp suất giữa các ống chống
bằng không. Trường hợp áp suất ống chống lớn hơn không phải xác định nguyên nhân.
Nếu vượt qua chỉ số cho phép thì phải có biện pháp khắc phục kịp thời.
Để an toàn trong công tác khai thác người ta lắp hệ thống K.O bao gồm: Paker
van an toàn sâu, van an toàn miệng giếng được điều khiển qua hệ thống TKS . . .
9.2.3 An toàn cháy
Cháy là sự cố rất nguy hiểm gây hậu quả nghiêm trọng, vì vậy trước nhất ta
phải đề phòng không để xảy ra cháy
Nguyên nhân cháy gồm 3 yếu tố: chất cháy, ôxi, nguồn cháy. Thiếu một trong
ba yếu tố thì đám cháy không thể xuất hiện và duy trì được.
Như ta đã biết dầu khí có thành phần là C nHm rất dễ bắt cháy và phát triển đám
cháy. Do đó trước tiên phải ngăn ngừa sự rò rỉ của Cacbuahiđrô ra môi trường bên
ngoài. Mặt khác hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn cháy. Chỉ được phép sử dụng ở nơi
an toàn.