Tải bản đầy đủ
2 Đặc điểm cấu trúc địa chất mỏ Bạch Hổ

2 Đặc điểm cấu trúc địa chất mỏ Bạch Hổ

Tải bản đầy đủ

5
Trong quá trình phát triển, bồn trũng đã trải qua các giai đoạn: Mezozoi muộn –
Kainozoi sớm, Oligoxen sớm, Oligoxen muộn, Mioxen và Plioxen - Đệ Tứ.
a Các giai đoạn phát triển
Giai đoạn Mezozoi muộn – Kainozoi sớm
Giai đoạn này xảy ra các hoạt động tạo núi, các hoạt động núi lửa macma mạnh.
Các thành tạo trước Kainozoi bị đập vỡ và phân cách thành từng khối. Với kích thước
và độ sâu không đồng nhất tạo thành các địa hào, địa lũy. Các địa lũy và khối nâng bị
bào mòn, phong hóa và các vật liệu được đem đi lấp đầy các vùng trũng lân cận trước
Kainozoi. Cấu tạo của mỏ Bạch Hổ trong thời gian này là một bộ phận của địa lũy
trung tâm của bồn trũng Cửu Long, bị khống chế bởi các đứt gãy sâu ở hai bên sườn
Đông và Tây.
Giai đoạn Oligoxen sớm
Giai đoạn này gắn liền với các quá trình hình thành các địa hào ban đầu của bể
trầm tích Kainozoi dọc theo các đứt gãy. Trầm tích Điệp Trà Cú có tướng lục địa, lấp
đầy các địa hào với bề dày trầm tích khá lớn. Điều đó chứng tỏ quá trình tách dãn gây
sụt lún mạnh. Biên độ sụt lún và gradient thay đổi theo chiều dày ở phía Đông lớn hơn
phía Tây của mỏ Bạch Hổ. Phần nhô cao của Vùng trung tâm không có mặt trầm tích
Oligoxen sớm.
Giai đoạn Oligoxen muộn
Các hoạt động địa chất của giai đoạn này mang tính kế thừa giai đoạn trước. Các
trầm tích của Điệp Trà Tân mịn, hàm lượng hợp chất hữu cơ cao được lắng đọng trong
môi trường đầm hồ, sông, châu thổ và lấp đầy phẩn trên của các địa hào. Hoạt động
kiến tạo ở phía Tây mạnh hơn phía Đông và mang tính chất nén ép, hệ thống đứt gãy
phía Tây có hướng cắm chủ yếu về phía sụt lún của móng. Đây chính là con đường
dẫn hydrocacbon vào bẫy, đồng thời cũng là tầng chắn.
Giai đoạn Mioxen
Đây là giai đoạn sụt lún mang tính chất khu vực của toàn bộ bồn trầm tích nói
chung và của mỏ Bạch Hổ nói riêng. Tiếp theo sau thời kỳ tách giãn Oligoxen, hoạt
động đứt gãy giảm dần. Biển tiến theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, các trầm tích hạt
mịn được thành tạo với điển hình là tập sét Rotalia - tầng chắn của toàn mỏ. Hiện
tượng tái hoạt động trong suốt quá trình oằn võng ở thời kỳ Mioxen của đứt gãy là
nguyên nhân cơ bản thúc đẩy quá trình di chuyển hydrocacbon vào bẫy.
Giai đoạn Plioxen - Đệ Tứ

6
Do ảnh hưởng của quá trình lún chìm, biển tiến của toàn bộ khu vực làm cho cấu
tạo mỏ Bạch Hổ trong giai đoạn này có tính ổn định. Các thành tạo trầm tích có chiều
dày lớn gần như nằm ngang trên các thành tạo cổ.
b Địa tầng tổng hợp của mỏ Bạch Hổ
Mỏ Bạch Hổ nằm trong bể Cửu Long nên có phân vị địa tầng như địa tầng của bể
Cửu Long. Dựa trên các đặc điểm thạch học, cổ sinh, tài liệu karota các giếng khoan,
phân tích mẫu lõi, tài liệu địa chấn,… các nhà địa chất của XNLD Vietsovpetro đã lập
được cột địa tầng tổng hợp của mỏ Bạch Hổ. Phần lớn các giếng khoan đã khoan tới
đá móng kết tinh trước Kainozoi với mặt cắt địa chất đầy đủ từ móng đến Oligoxen,
Mioxen và trên cùng là Plioxen - Đệ Tứ. (Hinhvẽ cot dia tang)
1.2.2 Đặc điểm kiến tạo mỏ Bạch Hổ
Mỏ Bạch Hổ là một nếp uốn gồm 3 vòm nhỏ, kéo dài theo phương kinh tuyến bị
phức tạp bởi hệ thống đứt gãy, biên độ và độ kéo dài giảm dần về phía trên theo mặt
cắt. Cấu trúc tương phản nhất được thể hiện trên mặt tầng móng bằng các trầm tích
Oligoxen dưới. Đặc tính địa lũy thấy rất rõ ở phía dưới của mặt cắt. Nếp lồi có cấu trúc
bất đối xứng nhất là phần vòm. Góc dốc của vỉa tăng theo độ sâu từ 8 0 đến 28˚ ở cánh
Tây, từ 60 đến 210˚ ở cánh Đông. Trục nếp uốn ở phần kề vòm thấp dần về phía Bắc
với góc dốc 2100 (đo ở giếng 604) và tăng lên đến 4 0 - 9˚, mức nghiêng của đá là 70 400m/km. Trục uốn phía Nam thụt xuống thoải hơn ( <60 ) với mức nghiêng của đá từ
500 đến 200m/km.
Hướng phá hủy kiến tạo chủ yếu theo hai hướng á kinh tuyến và đường chéo.
Đứt gãy á kinh tuyến I, II có dạng hình phức tạp và kéo dài trong phạm vi vòm trung
tâm. Độ nghiêng của bề mặt đứt gãy không phản ảnh rõ trong các tài liệu do địa chấn
nên tạm lấy bằng 600.
- Đứt gãy số I chạy dọc theo hướng á kinh tuyến ở cánh Tây của lớp uốn theo
móng và tầng địa chấn CG 2 lên vòm Bắc thì chạy sang hướng Đông Bắc, độ dịch
chuyển ngang ở phía Nam khoảng 500km, vòm trung tâm khoảng 400m, vòm Bắc
khoảng 200m. Độ nghiêng xoay của mặt trượt khoảng 600, trong phạm vi vòm Bắc nó
kéo theo hai đứt gãy thuận gần như song song là Ia và Ib với biên độ từ 100 đến 200m.
- Đứt gãy số II chạy theo sườn Đông vòm trung tâm ở rìa Bắc quay theo hướng
Đông Bắc độ dịch chuyển ngang tới 900m. Sự dịch chuyển ngang bề mặt đứt gãy cũng
được xác định bằng các đứt gãy cắt III, V, VI,VIII. Hiện tượng lượn sóng giữ vai trò
quan trọng trong việc hình thành cấu trúc mỏ hiện nay.
Đây là hai đứt gãy thuận tạo thành cấu trúc địa hào đặc trưng của mỏ.

7
Ngoài hai đứt gãy trên có rất nhiều đứt gãy phát triển trong phạm vi của từng
vòm với độ dịch chuyển ngang từ vài chục đến 200m, dài từ 1 đến 2km theo hướng
chéo. Sự lượn sóng của nếp uốn và các đứt gãy đã phá hủy khối nâng thành hàng loạt
cấu trúc kiến tạo.
- Vòm Trung Tâm: là phần cao nhất của kiến tạo đó là những địa lũy của phần
móng. Trên cớ sở hiện nay nó được nâng cao hơn so với vòm Bắc và vòm Nam của
móng tương ứng là 250m và 950m. Phía Bắc ngăn cách bằng đứt gãy thuận IV, có kinh
tuyến và hướng đổ bề mặt nghiêng về phía Tây Bắc. Phía Nam được giới hạn bằng đứt
gãy số IV có phương vĩ tuyến với hướng đổ bề mặt về phía Nam. Các đứt gãy phá hủy
chéo II, VI, VII, loại trừ đứt gãy V vắng mặt ở vòm Trung Tâm làm cho cánh Đông
của vòm bị phá hủy thành một khối dạng bậc thang lún ở phía Nam, biên độ phá huỷ
tăng dần về phía Đông và đạt tới 900km. Phần vòm bị phá hủy yếu của khối bị chia cắt
bời hàng loạt đứt gãy a, b, c, d, e có biên độ nhỏ từ 0 đến 200m kéo dài trong khoảng
ngắn từ 1,5 đến 2km.
- Vòm Bắc: là phần phức tạp nhất của khối nâng. Đứt gãy thuận số I và các nhánh
của nó chia vòm thành hai khối có cấu trúc riêng biệt. Ở phía Tây nếp uốn dạng lưỡi
trai tiếp nối với phần lún chìm của cấu tạo. Cánh Đông và vòm Bắc của nếp uốn bị
chia cắt thành nhiều khối bởi một loạt các đứt gãy thuận V, VI có phương chéo đổ về
phía Đông Nam tạo thành dạng địa hào, dạng bậc thang, trong đó khối phía Nam lún
thấp hơn khối phía Bắc kế cận. Theo mặt móng, bẫy cấu tạo vòm Bắc được khép kín
bằng đường thẳng sâu 4300m, lát cắt Oligoxen – Đệ Tứ của phần này có cấu tạo đặc
trưng với đầy đủ các thành phần.
- Vòm Nam: đây là phần lún chìm sâu nhất của cấu tạo. Phía Bắc được giới hạn
bởi đứt gãy thuận á vĩ tuyến số IV, các phía khác được giới hạn bởi đường đồng mức
4300 mét theo mặt móng. Phần nghiêng xoay của cấu tạo bị phân chia ra nhiều khối
riêng biệt. Tại đây phát hiện được một vòm nâng, đỉnh vòm nâng thấp hơn vòm trung
tâm 950m.
Như vậy, hệ thống phá hủy kiến tạo mỏ Bạch Hổ thể hiện khá rõ trên mặt móng
và Oligoxem dưới. Số lượng đứt gãy, biên độ và mức độ liên tục của chúng giảm dần
từ dưới lên và hầu như mất đi ở Oligoxen thượng.
1.3 Tính chất vật lý của vỉa sản phẩm và của chất lưu trong vỉa
1.3.1 Tính chất vật lý của vỉa sản phẩm
a Đặc trưng về chiều dày

8
Việc phân chia chiều dày hiệu dụng trong đá móng rất khó khăn do sự có mặt
của vi nứt nẻ có thể tích rất nhỏ nhưng lại cho phép dầu chảy qua với giá trị gần đúng
đầu tiên, giá trị tới hạn của độ rỗng được lấy bằng 0,6%.
Tầng 23 Mioxen phát triển trên toàn bộ diện tích mỏ chỉ ở khu vực giếng khoan
44, 41, 35 và 403 trên vùng trung tâm phát hiện ra dải cát kết bị sét hóa. Tại vòm Bắc
thấy đá không chứa, chỉ ghi nhận thấy ở giếng khoan GK-91. Trên vòm Bắc chiều dày
tầng 23 thay đổi từ 11,6 ÷ 57,6m, trung bình là 13,6m chiều dày hiệu dụng chứa dầu là
11,3m; đá chứa của tầng bị phân ra từ 2 đến 5 vỉa bởi các lớp sét kết mỏng, hệ số phân
lớp trung bình là 3,6 với hệ số biến đổi là 0,28, hệ số cát (phần chứa trong chiều dày
chung của tầng) là 0,45 với hệ số biến đổi 0,3. Trên vòm trung tâm tầng 23 có chiều dày
là 40,8m (6,4 ÷ 58,8m) với hệ số biến đổi là 0,41, chiều dày hiệu ứng chứa dầu khoảng
8,4m, hệ số phân lớp là 0,5 còn hệ số cát là 0,34 với hệ số biến đổi 0,58.
Trầm tích sản phẩm Oligoxen dưới nói chung chỉ phát triển ở vòm Bắc, bị vát
nhọn ở cánh Tây của vòm và ở trên vòm Trung Tâm. Tại đó, đá chứa tốt nhất trên vòm
Bắc, chiều dày chung thay đổi từ 35 ÷ 268,2m, trung bình là 149m, với hệ số biến đổi
là 0,41 chiều dày hiệu dụng (ứng với chiều dày chứa dầu của vì chưa xác định được
ranh giới dầu – nước) thay đổi từ 0m (ở ranh giới vát nhọn) đến 146,4m. Chiều dày
hiệu dụng trung bình trong số +7,5m, với hệ số giếng khoan riêng biệt xác định được
18 ÷ 20 vỉa vát. Hệ số cát trung bình là 0,39 với hệ số biến đổi tương đương nhỏ 0,29.
Hệ số biến đổi của chiều dày chứa dầu là 0,71. Liên kết tỷ mỉ lát cắt giếng khoan gặp
nhiều khó khăn. Các đứt gãy làm tăng mức độ không liên tục của vỉa.
Chiều dày đá móng được tính ở độ sâu tuyệt đối 4046m (chiều sâu này ứng với
giếng khoan GK – 4221 cho dòng dầu không lẫn nước). Tại vòm Bắc chiều dày chung
của móng thay đổi từ 0 ÷ 375m, trung bình là 522m, với hệ số biến đổi là 0,40. Trên
vòm Trung Tâm chiều dày chung của đá móng nằm trong khoảng từ 0 ÷ 987m, trung
bình là 690m với hệ số biến đổi là 0,30. Chiều dày hiệu dụng của đá móng nứt nẻ theo
tài liệu địa vật lý giếng khoan là 9,4 ÷ 91,3% (ở vòm Bắc) và 41,8 ÷ 89,2% (ở vòm
trung tâm) chiều dày của đá móng do các giếng khoan mở ra.
b Đặc trưng về độ chứa dầu
Trữ lượng dầu cơ bản tập trung ở tầng 23 thuộc Mioxen dưới, tầng VI đến tầng X
thuộc Oligoxen dưới và đá móng.
- Tầng 23 bao gồm cát và bột kết phát triển hầu như trên toàn bộ diện tích mở. Ở
một vài khu vực, đá chứa bị sét hóa đáng kể, mất tính dị dưỡng. Các thân dầu dạng
vỉa, vòm ranh giới dầu – nước, nhưng vai trò quan trọng trong việc phân bố độ chứa