Tải bản đầy đủ
Hình 4.2: Ảnh chụp mẫu MCQIII-2

Hình 4.2: Ảnh chụp mẫu MCQIII-2

Tải bản đầy đủ

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

Trong quá trình thí nghiệm đã sử dụng các loại thuốc tuyển sau đây:
- Thuốc tập hợp là hỗn hợp axít oleic và dầu diesel theo tỷ lệ 1:1. Thuốc
tập hợp được pha dưới dạng 2% bằng cách nhũ hóa trong máy khuấy từ .
- Thuỷ tinh lỏng là sản phẩm sản xuất tại Công ty Apatit Việt nam. Thủy
tinh lỏng dùng ở dạng dung dịch 1% bằng cách cho 2,6g thuỷ tinh lỏng vào
100ml nước.
- Na2CO3 là hóa chất công nghiệp Trung Quốc. Na2CO3 dùng ở dạng dung dịch
5% bằng cách pha 5g Na2CO3vào 100ml nước.
4.3.2 Mẫu thuốc tuyển nổi
- Thuốc MD là thuốc tập hợp có tính chọn riêng đối với apatit. Thuốc
tập hợp này do hãng Azko Nobel cung cấp hiện đang áp dụng tại các nhà máy
tuyển quặng apatit vùng Lào Cai. Thuốc MD được pha dưới dạng dung dịch
xà phòng hóa 1% bằng cách cho 1g MD + 0,15g Na2CO3 100ml nước và đun
đến nhiệt độ 900C.
- Thuỷ tinh lỏng là sản phẩm sản xuất tại Công ty Apatit Việt nam. Thủy
tinh lỏng dùng ở dạng dung dịch 1% bằng cách cho 2,6g thuỷ tinh lỏng vào
100ml nước.
- Na2CO3 là hóa chất công nghiệp Trung Quốc. Na 2CO3 dùng ở dạng dung
dịch 5% bằng cách pha 5g Na2CO3vào 100ml nước.
4.3.3.Thiết bị thí nghiệm
Sơ đồ cấu tạo thiết bị tuyển nổi trọng lực thí nghiệm được trình bày tại hình
4.3.
Mô tả thiết bị thí nghiệm tuyển nổi trọng lực:
Thiết bị thí nghiệm là một cột tiết diện hình chữ nhật 8x10cm, cao 1,2m.
Nước được cấp bằng bơm đi qua tấm phân phối ở đáy cột, tạo ra dòng nước đi
lên. Tốc độ dòng đi lên này phụ thuộc vào lưu lượng bơm và có thể chỉnh thông

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

49

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

qua một biến tần. Bọt khí được tạo ra khi cấp khí nén qua các ống cao su đột lỗ.
Lưu lượng khí cũng được chỉnh thông qua van khí.
Nguyên lý hoạt động
Thiết bị sử dụng để tuyển nổi trọng lực các cấp vật liệu thô có độ hạt >0,2
mm. Vật liệu sau khi được khuấy trộn với thuốc tuyển được cấp lên đỉnh cột theo
phương nằm ngang. Nước được cấp vào thùng nước tuần hoàn cùng với thuốc
tạo bọt. Bơm nước cùng bọt khí tạo ra bởi cơ cấu tạo bọt tạo thành một dòng hỗn
hợp nước và bóng khí mịn chuyển động từ dưới lên trên. Các hạt vật liệu kỵ nước
sẽ tạo tổ hợp với bóng khí và có xu hướng đi theo dòng nước tràn qua ngưỡng và
được thu hồi trên một lưới sàng 0,2mm đặt trên miệng thùng nước tuần hoàn.
Đuôi thải sẽ được lắng đọng vào một bình lắp ở đáy cột.

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

50

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

Hình 4.3: Sơ đồ cấu tạo thiết bị tuyển nổi trọng lực thí nghiệm

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

51

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

Hình 4.4. Thiết bị tuyển nổi trọng lực tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Tuyển
khoáng Đại học Mỏ Địa chất

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

52

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

4.3.1.Thiết bị tuyển nổi truyền thống.

Mô tả thiết bị thí nghiệm
Thiết bị là một máy tuyển nổi thí nghiệm có dung tích ngăn máy là 1 lít.
Nước được cấp vào ngăn máy và được cấp liên tục trong quá trình tuyển để đảm
bảo lượng nước cần thiết cho quá trình tuyển.Tốc độ khuấy được điểu chỉnh bằng
bảng điện tử.
Bọt khí được tạo ra theo cơ chế tự hút. Lưu lượng khí cũng được chỉnh thông
qua van khí.
Nguyên lý hoạt động
Thiết bị sử dụng để tuyển nổi các cấp vật liệu mịn có độ hạt < 0,2 mm. Vật
liệu được cấp vào ngăn máy cùng với nước, sau đó khuấy trộn với thuốc tuyển
với vận tốc 1000 v/phút trong thời gian nhất định và phải đóng van cấp khí. Sau
thời gian khuấy tiếp xúc với thuốc tuyển ta điều chỉnh tốc độ lên 1400 v/phút, mở
van cấp khí ở mức phù hợp. Những hạt kỵ nước sẽ bám vào bóng khí và nổi lên
mặt được thu hổi bằng dụng cụ gạt bọt chuyên dụng. Đuôi thải nằm ở dưới đáy
của ngăn máy và được tháo ra sau khi quá trình tuyển kết thúc.
4.3.2 Phương pháp thí nghiệm
Công tác thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Bộ môn
Tuyển khoáng Đại học Mỏ Địa Chất. Mẫu quặng nghiên cứu tuyển là cấp -0,5
mm được tách ra từ quặng nguyên khai.
Thí nghiệm tuyển nổi trọng lực :được tiến hành trong máy tuyển nổi
trọng lực thí nghiệm. Các sản phẩm quá trình tuyển nổi trọng lực (sản phẩm
bọt, sản phẩm ngăn máy) được lọc, sấy khô, cân và gia công phân tích hoá.
Quá trình phân tích hoá các chỉ tiêu P 2O5 được tiến hành ngay tại phòng thí
nghiệm.
Sơ đồ thí nghiệm trình bày tại hình 4.5.

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

53

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

Mẫu quặng khối lượng 1kg
Thủy tinh lỏng

Trộn trong 5’

Khuấy với Na2CO3
Khuấy với axit oleic +
diezel

Trộn trong 5’

TUYỂN NỔI
TRỌNG LỰC

Sản phẩm apatit
(tràn)

Sản phẩm đá thải
(lắng đọng)

Hình 4.5 Sơ đồ thí nghiệm tuyển nổi trọng lực
Chế độ tuyển cụ thể như sau:
- Khối lượng mẫu 1,0 kg;
- Chi phí thuốc tập hợp : dùng hỗn hợp axit oleic với dầu diezel theo tỷ lệ
1:1; chi phí thuốc thay đổi trong các thí nghiệm từ 1,0 đến 2kg/t;
- Chi phí thuốc đè chìm thủy tinh lỏng trộn với mẫu: 0,5 kg/t;
- Chi phí thuốc Na2CO3 trộn với mẫu: 0,5 kg/t;
- Cấp Na2CO3 vào nước tuần hoàn đạt nồng độ 400 g/m3, pH 7,5 -8;
- Cấp thuốc tạo bọt MIBC vào nước tuần hoàn đạt nồng độ 40 g/m3
- Thời gian trộn mẫu với thủy tinh lỏng: 5 phút;
- Thời gian trộn mẫu với thuốc tập hợp: 5 phút;
- Thời gian tuyển 3 phút;
- Lưu lượng nước thay đổi tùy theo các thí nghiệm.
Thí nghiệm tuyển nổi truyền thống:
SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

54

Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất

Đồ Án Tốt Nghiệp

Mẫu quặng -0,2 mm
Thủy tinh
lỏng

Khuấy 2’

Na2CO3

Khuấy 2’

Thuốc MD

Khuấy 3’

TUYỂN NỔI 5’

Tinh quặng

Đuôi

Hình 4.6 Sơ đồ thí nghiệm tuyển nổi truyền thống
Chế độ tuyển cụ thể như sau
-Khối lượng mẫu :từ 200 ,250,300,350 g
-Chi phí thuốc xô đa : 300, 400, 500, 600 g/t
-Chi phí thủy tinh lỏng :300,400,500,600g/t
-Chi phí thuốc tập hợp MD :200, 250, 300, 350g/t
- Thời gian khuấy với thủy tinh lỏng: 2 phút;
-Thời gian khuấy với Na2CO3 :2 phút
- Thời gian khuấy với thuốc tập hợp: 3phút;
- Thời gian tuyển 3 phút;
Xác định chế độ tuyển nổi tối ưu , tuyển vòng hở,vòng kín

SVTH: Vũ Văn Hoàng
Vũ Thị Hiên

55