Tải bản đầy đủ
Bảng 8.3: Chi phí thuốc tuyển.

Bảng 8.3: Chi phí thuốc tuyển.

Tải bản đầy đủ

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
X là khối lượng thuốc khô.
B là khối lượng dung dịch thuốc đã pha.
A là nồng độ thuốc cần pha.
K là độ hoạt tính của thuốc.
Độ hoạt tính của các loại thuốc như sau:
- AP2 ( (CH3)2CHOCSSNHC2H5) :

95%.

- Butyl (C4H9COSSNa)

: 84,5%.

- BF ( NaSiO3)

: 93%.

- BK201 (Dầu thông)

: 70%.

Ví dụ:

Đối với một ngày sản xuất của xưởng B05, với cấp liệu vào nghiền là 170

tấn/h, nồng độ thuốc cần pha là 10%, chi phí là 75g/tấn quặng nguyên khai ta sẽ phải
pha thuốc tập hợp butyl như sau:
- Khối lượng thuốc tập hợp butyl cần dùng trong cả 3 ca sản xuất là: 75x170x24 =
306 kg (thuốc khô ) tức là tương đương với 2 thùng butyl(mỗi thùng nặng 150 kg).
Để pha thuốc có nồng độ 10% thì khối lượng thuốc sau khi pha sẽ là :
B = 306xKx100/ A = 306x84,5%x100/10 = 2585,7 kg.
Vì khi pha butyl vào nước không làm tăng thể tích của dung dịch nên khối lượng dung
dịch cũng chính là khối lượng nước cần pha.
8.4.2.2. Cấp thuốc.
Hiện nay do quặng nguyên khai đầu vào biến động liên tục về hàm lượng nên
việc cấp thuốc cũng gặp nhiều khó khăn. Công nhân cấp thuốc phải nắm bắt được tình
hình biến động của quặng trong từng giờ, từng ca sản xuất. Từ đó kết hợp với ý kiến
chỉ đạo của tổ trưởng, Cán bộ kỹ thuật để đưa ra các định hướng cấp thuốc sao cho
phù hợp với tính chất quặng đảm bảo tối ưu về chất lượng tinh quặng, đuôi thải và
năng suất.

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
137

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
Cấp thuốc rất quan trọng nhưng để có thể cấp thuốc với chi phí chính xác thì
người công nhân cấp thuốc phải có khả năng quan sát màu sắc của bọt tuyển để đánh
giá được lượng thuốc trong bùn quặng thừa hay thiếu, thừa thuốc gì và thiếu thuốc gì.
Muốn nắm bắt được như vậy đòi hỏi công nhân phải có thời gian tiếp xúc và quan sát
trực tiếp, liên tục trên sàn tuyển rồi rút ra những kinh nghiệm thực tế.
- Một số điểm cấp thuốc không thường xuyên , thay đổi tuỳ theo chất lượng quặng
nguyên khai.
- Chi phí cấp thuốc của một số loại thuốc cũng thay đổi tuỳ theo chất lượng quặng
nguyên khai
- Trên sơ đồ thiết kế có các điểm cấp vôi để đảm bảo độ PH. Cụ thể:
- Thùng khuấy 1, đảm bảo

pH = 8

- Tuyển tinh II Cu, đảm bảo

pH = 11,2

- Tuyển tinh II Cu, đảm bảo

pH = 11,4

- Tuyển tinh I Cu, đảm bảo

pH = 11,7

Về chi phí thuốc, do quặng biến động liên tục trong ca sản xuất vì vậy thuốc cũng
cấp thay đổi theo từng đối tượng cụ thể. Do đó ta chỉ có thể tổng hợp và tính toán
thuốc theo giá trị chi phí trung bình

CHƯƠNG 9 : BỐ TRÍ -XÂY XƯỞNG TUYỂN.
9.1.Yêu cầu bố trí – xây xưởng tuyển.
9.1.1.Yêu cầu.
Căn cứ theo thông tư Số: 23/2011/TT-BCT của Bộ Công Thương ban hành ngày
15/06/2011 “Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong nhà máy tuyển
khoáng’’. ( Tài liệu tham khảo 8)
Ta có :
Hầu hết các xưởng tuyển nổi bố trí thiết bị như sau:

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
138

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
Phân xưởng nghiền và tuyển nổi được bố trí trên cùng một tầng nhưng chia thành
nhiều bậc. Ở những vùng địa hình dốc có thể bố trí máy tuyển nổi trên hai tầng của
một gian nhà.Đủ để tận dụng tối đa tính tự chảy cho bùn quặng để tiết kiệm chi phí
bơm ...
*Máy đập.
-)Máy đập phải được bố trí trong nhà xưởng có mái che, diện tích đặt máy phải rộng
thoáng và đảm bảo độ chiếu sáng. Trong khu vực máy đập làm việc phải có hệ thống
thu bụi. Trường hợp không có hệ thống thu bụi thì phải có hệ thống phun nước để dập
bụi.
-Đối với máy đập đặt cao hơn nền nhà 1 m (tính từ miệng cấp liệu) đều phải có sàn
thao tác và bậc lên xuống.
-)Các máy đập búa kiểu đứng, kiểu ngang, kiểu vấu phải đấu khoá liên động.
- )Để đề phòng các cục vật liệu văng ra gây nguy hại cho người, trên máy đập phải
trang bị cơ cấu bảo vệ.
Đối với máy đập nón (đập côn) - bảo hiểm bằng hàng rào thành kín có thể tháo rời, trừ
máy đập giai đoạn đập thô, làm việc ở chế độ đổ trực tiếp.
Đối với máy đập hàm - bảo hiểm bằng hàng rào có thể tháo rời, có cửa sổ kiểm tra.

* Máy tuyển nổi.
-) Sàn thao tác của máy phải được chống trơn, trượt, xung quanh có lan can và độ cao
lan can không thấp hơn 0,8 m. Nền nhà khu vực lắp đặt máy phải thiết kế thuận tiện
cho công tác vệ sinh và thu gom nước rửa.
-) Nơi đặt máy tuyển nổi dạng buồng hoặc dạng cột phải đảm bảo trong quá trình hoạt
động, bảo dưỡng và sửa chữa không có vật liệu lạ rơi vào thùng chứa.
-) Phải thiết kế hệ thống thông gió tích cực để hạn chế sự tích tụ của hơi độc phát ra từ
thuốc tuyển trong các máy tuyển nổi.

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
139

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
-)Ngoài máy tuyển nổi, còn phải bố trí các thiết bị và dụng cụ khác như máy lấy mẫu,
thiết bị kiểm tra và tự động điều khiển, các tủ điện, thiết bị thông gió, đường ống dẫn
nước, khí nén...
*Máy nghiền.
-)Các máy nghiền phải được bổ trí ở khu vực riêng đủ rộng để sửa chửa hoặc nằm ở
khu vực có cầu trục chạy qua
-)Các máy nghiền được bố trí gần theo cụm cùng với các máy phân cấp , khoảng cách
tối thiểu các máy nghiền 1m .
-)Các hành lang lối đi xung qang máy nghiền phải đủ rộng khoảng cách tối thiểu
1,5m.Phía dưới máy nghiền bố trí các bể chứa bi vỡ , bi thải
-)Bể bơm dầu cấp cho máy nghiền thường được đặt gần hoặc phía dưới cot ngầm của
máy nghiền
-)Cụm phân cấp xyclon thường được đặt trên cot cao phái trên đầu máy nghiền
đủ để cát từ phấn cấp xyclon có thể tự chảy xuống cấp liệu cho nghiền
Tất cả các xiclon đều được bơm cấp liệu, do đó có thể đặt xiclon trên cao, bùn tràn của
xiclon tự chảy vào máy tuyển nổi. Xiclon nằm trên cao làm tăng thêm mức tiêu hao
điện năng nhưng bù lại lại có những lợi ích sau:
Có thể xây dựng phân xưởng nghiền-tuyển nổi trên một vùng địa hình bằng phẳng,
giảm rất nhiều khối lượng đào đắp để tạo ra mặt bằng.
Không cần đào rãnh sâu để đặt máy bơm do đó rất thuận lợi cho việc thoát nước trong
phân xưởng.
Từ bên ngoài dễ dàng đi vào phân xưởng.Khoảng cách tối thiểu cho các sàn là 1m
Có điều kiện để mở rộng phân xưởng khi cần.
Không nên bố trí thiết bị quá gần nhau và chừa nối đi hẹp ngay từ đầu.
Hệ thống vận chuyển vật liệu như bơm , băng tải phải được bố trí ngọn ngàng nhất
quẵng đường vận chuyển ngăn nhất .

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
140

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
Máy bơm được bố trí ở bậc cuối cùng hoặc ở cạnh các hố chứa của các bậc trên, tập
trung vào một chỗ thành dãy để phục vụ.
Độ dốc tối đa của băng tải khi vận chuyển nhỏ hơn 180 tùy theo thể trọng rời vật liệu.
-Các xưởng tuyển khi xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật an toàn theo các
quy chuẩn nhà nước bộ xây dựng đề ra , các xưởng tuyển phải đủ rộng đủ cao , thuận
tiện đi lại gần nhau để tiết kiệm chi phí vận chuyển vật liệu giữa các nhà xưởng với
nhau .
Các xưởng tuyển khi thiết kế phải có khẩu độ phù hợp để thuận tiện cho việc lắp đặt
cầu trục thường thì khẩu độ là lũy thừa của 3 : 6x6 ,6x9,9x9m
9.2. Tổng đồ thiết kế.
Tuỳ địa hình đặt xưởng , đặc điểm của phương pháp tuyển nổi là sử dụng nhiều khâu
tự chảy. Hơn nữa, để giảm bớt khối lượng đào đắp nên ta chọn mặt bằng xây dựng
theo địa hình thực tế. Toàn bộ nhà máy được bố trí như sau:

9.2.1. Phân xưởng sản xuất chính gồm.
Phân xưởng chuẩn bị khoáng sản, phân xưởng tuyển nổi, phân xưởng lọc sấy
Về tổng đồ xây dựng các nhà xưởng trong đồ án thiết kế của em thì gồm 4 nhà xưởng
chính .
+) Phân xưởng đập thô được xây dựng ở vị trí có độ cao cốt là +3,600m ,với diện tích
là 324m2 , khẩu độ là 9x9m ,chiều cao tùy theo chiều cao cột ,gồm 2 khu : đặt bố trí
thiết bị và khu sửa chữa vận hành (162m2)
+)Phân xưởng đập vừa và nhỏ - sàng được xây dựng ở vị trí có độ cao cốt là
+0,000m ,với diện tích là 1425m 2 , khẩu độ là 9x9m ,chiều cao tùy theo chiều cao
cột ,gồm 2 khu : khu đập sàng và khu đặt nhà có trạm truyền tải trung gian
Đối với khu đập sàng có S=900m2 gồm 3 tầng , bên trong nhà xưởng gồm khu bố trí
thiết bị đập sàng và khu sửa chữa vận hành (324 m 2 ) . Phía dưới nhà đập sàng có xây
dựng gian ngầm sâu 3mm , để đặt băng tải vận chuyển sảng phẩm dưới đập sàng đi
trạm truyền tải trung gian

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
141

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
+)Phân xưởng nghiền tuyển được xây dựng trên nền cốt +0,000m , với diện tích
S =4050m2 , khẩu độ là 9x9m ,chiều cao tùy theo chiều cao cột ,gồm 3 phân khu
chính :
Khu nghiền tuyển giai đoạn 1 . S =1215m2
Khu nghiền tuyển giai đoạn 2 . S =1134m2
Khu nhà tuyển. S =1701m2
trên mỗi khu đều bố trí 1 gian sửa chữa , sinh hoạt , phòng đặt các tủ điện ..
+) Phân xưởng lọc ép – kho quặng mịn được xây dựng trên nền cốt +0,000m , với diện
tích S =486m2 , khẩu độ là 9x9m ,chiều cao tùy theo chiều cao cột ,gồm 2 phân khu
chính : gian nhà lọc ép và kho chứa tinh quặng

9.2.2. Phân xưởng sản xuất phụ gồm.
Phân xưởng cơ khí, nồi hơi, ắc quy.
Các phân xưởng chính và phụ được bố trí trên cùng một sân công nghiệp.

9.2.3. Kho bãi gồm.
Kho quặng 3, hồ thải quặng đuôi tuyển vét và bùn tràn bể cô đặc.
Kho quặng tinh được bố trí ngay gần phân xưởng lọc, còn hồ thải được bố trí tại thung
lũng bên ngoài nhà máy

9.2.4. Thiết bị vân tải gồm:
Toa xe vận chuyển quặng về nhà máy, ôtô chở thải bã quặng, băng tải vận chuyển
quặng và các khâu nghiền rửa, bơm đường ống.

9.2.5. Thiết bị năng lượng.
Ba trạm biến áp nhỏ lấy từ trạm biến áp tổng
Trạm dùng cho phân xưởng chuẩn bị khoáng sản.
Trạm dùng cho phân xưởng tuyển chính.
Trạm dùng cho phân xưởng sản xuất và chiếu sáng cho toàn nhà máy.

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
142

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
9.2.6. Hệ thống điện nước kỹ thuật.
Có thể bố trí trên mặt đất, dưới mặt đất hoặc trên không

9.2.7. Khu nhà hành chính.
Bao gồm các phòng ban của nhà máy như: phòng điều độ, phòng tổ chức, hội
trường…Tất cả được bố trí trên một sân công nghiệp để tiện cho việc tổ chức sản xuất

9.2.8. Công trình phúc lợi gồm.
Nhà văn hoá, câu lạc bộ, trạm y tế. Nhà khách được bố trí bên ngoài sân công nghiệp.
Khu nhà ở của công nhân nằm gần nhà máy.
9.3. Xây dựng nhà máy.
9.3.1.Các loại công trình.
Dựa vào chất lượng công trình và thời gian sử dụng chia ra làm 3 loại công trình.
- Loại 1: Có chất lượng cao và sử dụng lâu dài
- Loại 2: Có chất lượng và sử dụng trung bình
- Loại 3: Có chất lượng và sử dụng thấp
Phần lớn các công trình của xưởng tuyển Apatit Lào Cai thuộc loại 2 và loại 3 vì thời
gian tồn tại của nhà máy phụ thuộc vào trữ lượng mỏ.
Loại 2: gồm nhà tuyển chính, nhà chuẩn bị khoáng sản, những công trình này chịu tải
trọng rất lớn của các thiết bị như: máy đập, máy nghiền…khi làm việc.Nên trong quá
trình thi công phải chú ý đến chất lượng công trình, độ chính xác, khả năng chịu tải.
Loại 3: gồm các phân xưởng phụ như nhà hành chính quản trị, các công trình phúc lợi.
Phải đảm bảo xây dựng với độ bền tương ứng với thời gian tồn tại của nhà máy

9.3.2. Độ kiên cố của nhà xưởng và các công trình khác.
Độ kiên cố của nhà xưởng và các công trình khác xác định bằng mức độ chịu lực của
kết cấu bên trong và mức độ chịu lực bên ngoài.
a. Mức độ chịu lực của các công trình phụ thuộc vào mức độ chảy của vật liệu xây
dựng
Vật liệu xây dựng được chia làm 3 loại:

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
143

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
Loại 1: có thời gian phục vụ lâu dài>100 năm
- Loại 2: có thời gian phục vụ là 50-100 năm
- Loại 3: có thời gian phục vụ là <50 năm

9.3.3. Chất lượng sử dụng.
Chất lượng sử dụng xác định bởi quy chuẩn về thể tích, diện tích, kết cấu bên trong, và
trang bị kỹ thuật. Nghĩa là xác định mức độ thuận tiện khi sử dụng

9.3.4. Diện tích sử dụng, độ cao nhà và công trình.
a. Nhà tuyển: phải đảm bảo hết diện tích, thể tích, để bố trí hết các trang thiết bị
b. Các phòng ban: theo tiêu chuẩn cán bộ công nhân viên hành chính có từ 3-3,5
m2/người trong một ca.
c. Trạm y tế: Tiêu chuẩn cho một gian làm việc là 12-18 m2

CHƯƠNG 10. AN TOÀN VỆ SINH TRONG XƯỞNG TUYỂN.
10.1. Mục đích của công tác ATVSLĐ.
Mục đích của công tác ATVSLĐ là nhằm loại trừ các yếu tố nguy hại đối với người lao
động và các mối nguy hiểm đối với thiết bị nhà xưởng, các nguy hiểm phát sinh trong
quá trình sản xuất. Công tác ATVSLĐ góp phần tạo nên môi trường và điều kiện lao
động thuận lợi nhất, giúp ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế
những thiệt hại về sức khỏe người lao động như ốm đau và giảm sút sức khỏe cũng
như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khỏe, đảm bảo an
toàn tính mạng cho người lao động và bảo đảm an toàn thiết bị nhà xưởng và hiệu quả
sản xuất.
ATVSLĐ trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất
lao động và hiệu quả sản xuất. ATVSLĐ được thực hiện thông qua việc tổ chức các
biện pháp khoa học kỹ thuật, các biện pháp hợp lý, các biện pháp kinh tế và cả các
biện pháp xã hội tại nơi làm việc

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
144

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
10.2. Tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ.
ATVSLĐ là phạm trù tất yếu của lao động sản xuất, luôn đc đặt ra do yêu cầu của sản
xuất và luôn gắn liền với quá trình sản xuất. ATVSLĐ mang lại lợi ích vật chất lẫn lợi
ích tinh thần cho người lao động, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho gia đình, cho xã
hội nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và ý nghĩa xã hội to lớn thông qua việc xây
dựng nếp sống an toàn, ý thức lành mạnh góp phần xây dựng thành công văn hóa an
toàn trong công việc, trong đời sống hàng ngày và trong cả xã hội
Xưởng tuyển khoáng hay nhà máy tuyển khoáng là nơi tổ chức thực hiện các khâu gia
công làm giàu và chế biến khoáng sản với khối lượng rất lớn. Quy mô và mức độ ảnh
hưởng sức khỏe người lao động cũng như tới môi trường xung quanh là rất lớn, do vậy
vấn đề ATVSLĐ trong xưởng tuyển khoáng nói riêng và trong công nghiệp nói chung
là vô cùng quan trọng
ATVSLĐ liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả mọi người tham gia sản xuất.
Người lao động là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực
hiện các quy trình công nghệ do đó họ chịu tác động trực tiếp của điều kiện lao động
và công tác ATVSLĐ.
Do vậy công tác ATVSLĐ không chỉ có tính chất chuyên ngành mà còn mang tính
khoa học xã hội nhân văn. Đòi hỏi phải có các điều luật, quy định cụ thể đối với cả
người lao động và người sử dụng lao động
10.3. Thực trạng công tác ATVSLĐ trong nước.
Công tác bảo hộ lao động được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Có thể nói rằng, cơ sở
pháp luật về bảo hộ lao động ở nước ta về cơ bản là khá đầy đủ. Bộ luật lao động được
ban hành năm 1994 nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi và an toàn cho người lao động.
Nhà nước ban hành các văn bản pháp lý về ATVSLĐ như các quy chuẩn, quy phạm và
tiêu chuẩn ngành
Hiệu quả của sự quan tâm đặc biệt của nhà nước và các bộ ngành là điều kiện lao động
và chế độ làm việc của người lao động càng ngày càng được cải thiện. Chế độ làm việc
hợp lý 5 ngày/tuần được sử dụng rộng rãi. Các nhà máy, công xưởng, xí nghiệp luôn

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
145

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
được kiểm tra đánh giá định kì và được giám sát chặt chẽ. Số giờ an toàn tại các cơ sở
sản xuất được nâng cao rõ rệt.
10.4.Kiểm tra an toàn trong vận hành một số thiết bị chính trong xưởng tuyển.
Căn cứ theo thông tư Số: 23/2011/TT-BCT của Bộ Công Thương ban hành ngày
15/06/2011 “Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong nhà máy tuyển
khoáng’’, ( Tài liệu tham khảo 8)
Ta có tiêu chuẩn vận hành , sửa chữa , xử lý sự cố một số thiết bị chính trong xưởng
tuyển như sau :

10.4.1. Vận hành máy đập.
1. Nguyên liệu khoáng sản trước khi cấp cho máy đập, phải loại bỏ vật thải, đá quá cỡ,
sắt thép, gỗ, cao su, giẻ lau máy và các tạp chất khác theo yêu cầu đặc tính của máy.
2. Trước khi khởi động máy, phải phát tín hiệu báo trước. Khi có hai hoặc nhiều máy
đập trong khu vực phải đủ có hai loại tín hiệu: còi và ánh sáng. Phải khẳng định chắc
chắn không có người trong máy và những nơi nguy hiểm gần máy.
3. Khi vận hành máy phải tuân thủ quy trình vận hành thiết bị công nghệ của xưởng.
4. Chỉ nạp liệu vào máy đập khi tốc độ đã ổn định (sau 2 - 3 phút). Công nhân thao tác
đứng cạnh cửa cấp liệu phải mang kính bảo hộ. Đối với các máy đập búa phải đóng
kín các cửa quan sát trước khi mở máy.
5. Khi máy đập, làm việc, chấp hành nghiêm túc nội quy an toàn vận hành máy. Không
được mở các cửa để quan sát bên trong máy. Cần phải ngừng máy khẩn cấp trong
những trường hợp sau:
a) Có tiếng ồn hoặc tiếng gõ bất thường trong khoang máy đập;
b) Máy đập rung mạnh bất thường;
c) Động cơ hoặc các ổ bi quá nóng;
d) Sự cố hoặc tai nạn lao động.

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
146

Bộ Môn Tuyển Khoáng – Trường Đại Học Mỏ Địa Chất.
6. Quá trình đập quặng mà tạo bụi có thể gây nổ, phải được tiến hành với việc thực
hiện các giải pháp loại trừ bụi gây nổ.
7. Định kỳ kiểm tra tình trạng kỹ thuật của máy, các chi tiết mau mòn, chóng hỏng,
bảo vệ an toàn và thay thế các chi tiết có vết nứt hoặc mòn quá quy định. Các khớp nối
truyền động của thiết bị phải có rào chắn bảo vệ an toàn.
8. Để đảm bảo an toàn máy đập nghiêm cấm:
a) Người vận hành máy bỏ vị trí làm việc;
b) Giao việc khởi động và giám sát hoạt động của máy đập cho người khác;
c) Tháo bỏ vỏ bảo vệ và che chắn bảo hiểm;
d) Điều chỉnh khoảng cách giữa các bộ phận của máy và khắc phục lỗi khác;
e) Mở cửa máy đập;
g) Nhìn ngó vào khoảng không gian trong máy đập khi máy đang làm việc mà không
có thiết bị bảo vệ;
h) Dùng gậy chọc tháo vật liệu vướng mắc ở miệng cấp liệu;
i) Để vật lạ lên máy đập hoặc đứng lên bất kỳ bộ phận nào của máy;
k) Sử dụng sàn thao tác phục vụ công tác sửa chữa, bảo dưỡng bố trí trên thân máy để
kiểm tra sự làm việc của máy đập;
l) Đi vào khu vực nguy hiểm thuộc không gian làm việc của máy đập;
m) Chạy các máy đập búa khi nắp của thân máy đang ở trạng thái mở.
* Bảo dưỡng, sửa chữa máy đập
1. Trước khi tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa máy đập phải tuân theo quy định tại Điều
8 của Quy chuẩn này.
2. Khi bảo dưỡng, sửa chữa máy đập phải thực hiện đúng nội dung công việc, biện
pháp kỹ thuật an toàn đã được hướng dẫn sửa chữa bên trong máy. Phải thông gió theo

Svth:Phạm Ngọc Liêm

Gvhd:PGS.TS : Nhữ Thị Kim Dung
147