Tải bản đầy đủ
2 Giới thiệu về mỏ Ruby và giàn Ruby A

2 Giới thiệu về mỏ Ruby và giàn Ruby A

Tải bản đầy đủ

Sodium

5

1

14

12

Vanadium

<1

3

1

3

Nickle

12

25

<1

<1

Hình 1.3: Giàn khai thác Ruby A
Thiết bị bao gồm 1 giàn khai thác 4 chân với 1 sàn chính, các nhà trên giàn hầu
hết là để các thiết bị phụ trợ, các hệ thống xử lý, và 1 sàn chính. Giàn Ruby A thiết kế
là để không cần người và vận hành tự động, để có khả năng vận hành trên 7 ngày mà
không cần sự chăm lom và hỗ trợ.

8

Tuổi thọ thiết kế của các thiết bị là 25 năm và được thiết kế để đáp ứng các yêu
cầu cho công tác khoan và vận hành khai thác.Sự bảo vệ bằng catot cho các kết cấu để
đạt được tuổi thọ thiết kế như vậy thì được cung cấp bởi các anot thế.
Thiết bị xử lý được thiết kế để xử lý sơ bộ dầu chứa nhiều parafin cái mà chảy
tự do đến tàu FPSO cho quy trình xử lý cuối cùng để thu được dầu thương phẩm. Việc
kiểm tra giếng được thực hiện thường xuyên trên giàn bởi các nhà điều hành từ FPSO.
Vận chuyển công nhân từ FPSO đến giàn khai thác bằng tàu hoặc nếu thời tiết xấu thì
bằng máy bay trực thăng.
Trong suốt quá trình hoạt động vừa khoan vừa khai thác thì các kỹ thuật viên
điều hành sẽ ở trên giàn khoan để kết nối liên tục giữa giàn khoan với giàn khai thác để
kiểm tra giếng và xử lý bất kỳ vấn để nào có thể xảy ra.

9

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC CƠ HỌC
Trong quá trình khai thác dầu, tuỳ thuộc vào chế độ năng lượng vỉa mà giếng
sau khi khoan xong được chuyển sang khai thác theo các phương pháp khác nhau. Nếu
năng lượng vỉa đủ thắng tổn hao năng lượng trong suốt quá trình dòng sản phẩm chảy
(với một lưu lượng khai thác nhất định nào đó) từ vỉa vào đáy giếng, dọc theo cột ống
khai thác nâng lên bề mặt và theo các đường ống vận chuyển đến hệ thống thu gom, xử
lý thì giếng sẽ khai thác theo chế độ tự phun. Một khi điều kiện này không đáp ứng
hoặc hiệu quảkhai thác tự phun kém thì phải chuyển sang khai thác cơ học.

Hình 2.1: Các phương pháp khai thác cơ học
Mục đích áp dụng giải pháp cơ học là nhằm bổ sung thêm năng lượng bên ngoài
(nhân tạo) cùng với năng lượng vỉa (tự nhiên) để đảm bảo giếng hoạt động. Việc cung

10

cấp năng lượng bổ sung này thường để giảm chiều cao mực chất lỏng trong giếng hoặc
để giảm mật độ của dòng sản phẩm trong ống khai thác nhằm tăng chênh áp.
ΔP = Pv – Pñ

[2.1]

Nhưng thực tế trong khai thác dầu trên thế giới, phương pháp tự phun thường
kéo dài trong vài năm đầu tiên của đời mỏ. Do vậy cần phải có biện pháp kéo dài chế
độ tự phun của giếng dầu càng lâu càng tốt. Khi chế độ tự phun không thực hiện được,
người ta phải nghiên cứu và tìm ra các giải pháp khai thác dầu bằng phương pháp cơ
học. Tuy nhiên dựa theo nguyên lý truyền năng lượng mà các phương pháp khai thác
cơ học được phân loại theo các nhóm sau:
-

Truyền lực bằng cần.
Truyền lực bằng thủy lực.
Truyền lực bằng điện năng.
Truyền lực bằng khí nén cao áp.

Dưới đây là một số phương pháp khai thác cơ học hiệu quả và phạm vi ứng
dụng của từng phương pháp trong công nghiệp khai thác dầu trên thế giới.
2.1 Phương pháp khai thác dầu bằng máy bơm piston cần
2.1.1 Bản chất của phương pháp.
Máy bơm cần truyền lực còn gọi là máy bơm cần kéo (hình 2.2) bao gồm thiết
bị trên bề mặt và thiết bị trong giếng.Thiết bị trong giếng bao gồm máy bơm cùng với
van hút 1 (cố định); van đẩy 2; máy bơm 3 và các ống dẫn. Ngoài ra thiết bị lòng giếng
còn có các bộ phận bảo vệ khác như thiết bị chống cát, chống khí xâm nhập, v.v…
được nối với miệng hút của máy bơm nhằm tăng khả năng làm việc của máy bơm trong
những trường hợp phức tạp (giếng có khí hoặc có cát).

11

Thiết bị bề mặt bao gồm động cơ, bộ phận chuyển đổi, đầu miệng giếng.Động
cơ được dùng để cung cấp chuyển động quay cho toàn bộ tổ hợp. Bộ phận chuyển đổi
chuyển hóa chuyển động quay của động cơ sang chuyển động tịnh tiến lên xuống .
Thanh cân bằng có chức năng trung chuyển năng lượng và thay đổi độ dài chuyển động
của tổ hợp máy bơm.

Hình 2.2: Phương pháp khai thác bằng piston cần
Tất cả các chi tiết được gia cố chắc chắn với một khung, gắn chặt trên nền bê
tông. Ngoài ra tất cả máy bơm cần kéo còn được trang bị thiết bị điều chỉnh bởi thiết bị
phanh hãm nhằm giữ cân bằng và tay quay ở vị trí cho trước bất kỳ. Điểm giao nhau
với tay quay có thểthay đổi khoảng cách tương đối so với tâm quay bởi sự hoán vị vị trí
của tay quay.

12