Tải bản đầy đủ
1 Đặc điểm địa chất, vị trí, địa lý bồn trũng Cửu Long

1 Đặc điểm địa chất, vị trí, địa lý bồn trũng Cửu Long

Tải bản đầy đủ

được phát triển ở Bể Đông Phi.Cấu trúc mỏ Ruby là một lớp phủ nồi mà che phủ một
trong những đặc điểm địa lũy bên trong bể.
Phía Nam của Cửu Long là bể Nam Côn Sơn và được ngăn cách bởi một phần
mở rộng ra theo hướng TN-ĐB dọc theo dãy nồi tầng móng và được gọi là Bể Côn
Sơn. Bể Nam Côn Sơn dài khoảng 550km và phần rộng nhất là 200 km. Từ vết lộ đá
granit trên đảo Côn Sơn, nó được cho rằng một số phần của Bể Côn Sơn là được hình
thành của dạng granit cuối thời kỳ phấn kỷ.
1.1.2 Địa tầng

Hình 1.2: Cột địa tầng của bể Cửu Long
Theo tài liệu khoan, kết quả phân tích mẫu vụn, mẫu lõi, tài liệu carota và các
phân tích cổ sinh, địa tầng của bể Cửu Long bao gồm đá móng cổ trước Kainozoi và
trầm tích phủ Kainozoi.

4

 Móng cổ trước Kainozoi
Dựa vào đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thể chia thành ba phức hệ:
phức hệ Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná.
Phức hệ Hoàn khoai: tuổi Trias muộn và có thể được xem là phức hệ đá magma
cổ nhất trong móng của bể Cửu Long. Móng của phức hệ này chủ yếu là
amphybolbiotit-diorit, monzonit và adamelit.Đá bị biến đổi, cà nát mạnh.Hầu hết các
khoáng vật thứ sinh (calcit-epidot-zeolit) đã lấp đầy các khe nứt.Đá có thể phân bố chủ
yếu ở phần cánh của các khối nâng móng.
Phức hệ Định Quán: tuổi Jura, chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonitbiotit-thạch anh đa sắc. Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ dập vỡ và
biến đổi cao. Hầu hết các khe nứt được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcit,
zeolite, thạch anh, clorit, trong biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hóa. Phức hệ này
gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ, Ba Vì, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử
Đen, Sư Tử Vàng.
Phức hệ Cà Ná: tuổi Jura muộn, có phức hệ magma phát triển, đặc trưng là
granit thủy mica và biotit, thuộc loại Natri-kali, dư nhôm, silic và ít canxi. Đá bị dập vỡ
nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với hai phức hệ trên.
 Trầm tích Kainozoi
Trầm tích Eocene – Hệ tầng Cà Cối: hệ tầng này đặc trưng bởi trầm tích vụn thô
(cuổi sạn kết, cát kết đa khoáng, xen các lớp mỏng bột kết và sét kết hydromicacloritsericit), trầm tích có màu nâu đỏ, đỏ tím, tím lục, độ chọn lọc rất kém, đặc trưng
kiểu molas lũ tích lục tích lục địa thuộc các trũng trước núi creta-Paleocene-Eocene.
Chiều dày của hệ tầng có thể đạt tới 600m.
Trầm tích Oligocene dưới – Hệ tầng Trà Cú: trầm tích chủ yếu là sét kết, bột kết
và cát kết, có chứa các vỉa than mỏng và sét bôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ.
Đôi khi gặp các đá núi lửa, thành phần chủ yếu là porphyr diabas, tufbasal và gabbrodiabas. Đặc trưng tướng đá gồm 2 phần: phần trên chủ yếu là các thành tạo mịn và
phần dưới là thành tạo hạt thô. Hệ tầng này có tiềm năng chứa và sinh dầu khí rất
cao.Chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 đến 800m.

5

Trầm tích Oligocene trên – Hệ tầng Trà Tân: đá của hệ tầng Trà Tân đôi chỗ
nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú. Theo thành phần thạch học và tài liệu địa chấn,
mặt cắt hệ tầng có thể chia thành ba phần: trên, giữa và dưới. Phần dưới với bề dày từ 0
đến 2000m gồm chủ yếu là cát kết hạt mịn đến thô, đôi chỗ sạn, cuội kết, xen sét kết
nâu đậm, nâu đen, bột kết. Phần giữa có bề dày nằm trong khoảng 0-1000m gồm chủ
yếu là sét kết nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột kết.Phần trên bề dày thay đổi từ 0 đến
400m gồm chủ yếu là sét kết màu nâu, nâu đậm, nâu đen, rất ít sét màu đỏ, cát kết và
bột kết.Sét kết hệ tầng này có hàm lượng và chất lượng được tích tụ chủ yếu trong môi
trường đồng bằng sông, aluvi-đồng bằng ven bờ và hồ.
Trầm tích Miocene dưới – Hệ tầng Bạch Hổ: có thể chia làm hai phần: trên và
dưới. Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết, xen với các lớp sét kết màu xám, vàng
đỏ.Phần trên gồm chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh xen kẽ với cát kết và bột kết,
trên cùng là sét kết Rotalia có bề dày khoảng 50-150m.Sét kết Rotalia là tầng chắn khu
vực rất tốt cho toàn bể.Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trường đồng
bằng ven bờ - biển nông ở phần trên.Hệ tầng Bạch Hổ có chiều dày thay đổi từ 100 đến
1.500m.
Trầm tích Miocene giữa – Hệ tầng Côn Sơn: trầm tích chủ yếu là cát kết hạt thô
– trung, bột kết, xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu dày 5 – 15m, lớp than
mỏng. Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường sông (aluvi) ở phía Tây,
đầm lầy – đồng bằng ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc. Bề dày của hệ tầng này thay đổi
từ 250 – 900m. Tuy đá hạt thô của hệ tầng có khả năng thấm, chứa tốt nhưng chúng lại
nằm trên tầng chắn khu vực nên hệ tầng này và các tầng trẻ hơn của bể xem như không
có trển vọng chứa dầu khí.
Trầm tích Miocene trên – Hệ tầng Đồng Nai: trầm tích chủ yếu là cát hạt trung
xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa
carbonat hoặc than mỏng. Môi trường trầm tích đầm lầy – đồng bằng ven bờ ở tầng này
từ 500 – 750m.
Trầm tích Pliocene – Đệ Tứ - Hệ tầng Biển Đông: trầm tích chủ yếu là hạt cát
trung – mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và
glauconit thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi có gặp đá carbonat.
Bề dày khá ổn định trong khoảng 400 - 700m.

6

1.2 Giới thiệu về mỏ Ruby và giàn Ruby A
1.2.1 Mỏ Ruby
Trong mỏ Ruby, ở giàn khai thác RBDP-A chất lưu được khai thác từ 3 thành
hệ. Tầng cát nông nhất là tầng Miocene, tiếp theo đó là tầng Oligocene, và cuối cùng là
tầng đáy.
Các đặc trưng của chất lưu được xác định theo DSTs như sau:
Bảng 1.1: Các đặc trưng chất lưu của mỏ Ruby
Reservoir

MI-10

OL-04

OL-35/40

Basement

Pour point (deg C)

27

21

18

30

Wax content (wt%)

14.44

9.97

5.48

22.58

API Gravity

35.64

18.69

43.97

39

Sulphur content (wt
%)

0.11

0.16

0.24

0.06

Vicosity @40 deg C

0.511

469

4.541

5.53

Flash point (deg C)

<-35

<-35

<-35

<-35

Density @ 15 deg C

0.8462

0.9416

0.806

0.8295

Characterisation
factor

11.17

10.04

11.56

11.4

H2S

-

-

-

-

Asphaltene Content
(wt%)

0.26

2.67

1.46

0.39

1.065

1.47

1.03

1.42

Copper

<1

<1

<1

<1

Potassium

1

<1

<1

3

Total acid content
(mg KOH/100g)
Metal content (ppm)

7

Sodium

5

1

14

12

Vanadium

<1

3

1

3

Nickle

12

25

<1

<1

Hình 1.3: Giàn khai thác Ruby A
Thiết bị bao gồm 1 giàn khai thác 4 chân với 1 sàn chính, các nhà trên giàn hầu
hết là để các thiết bị phụ trợ, các hệ thống xử lý, và 1 sàn chính. Giàn Ruby A thiết kế
là để không cần người và vận hành tự động, để có khả năng vận hành trên 7 ngày mà
không cần sự chăm lom và hỗ trợ.

8