Tải bản đầy đủ
Bảng 4. 19 Kết quả khảo sát của yếu tố Động lực làm việc

Bảng 4. 19 Kết quả khảo sát của yếu tố Động lực làm việc

Tải bản đầy đủ

76
Ngoài ra, có thể thấy các yếu tố thuộc chính sách đãi ngộ phi tài chính đều có
trung bình lớn hơn 3 cho thấy sự đánh giá cao của CBVC. Cao nhất là yếu tố cấp trên,
sau đó là yếu tố đồng nghiệp và chính sách đào tạo, phúc lợi.

Hình 4. 7 Biểu đồ trung bình chính sách đãi ngộ tài chính

Hình 4. 8 Biểu đồ trung bình chính sách đãi ngộ phi tài chính

77
Tóm tắt chương 4
Chương 4 đã giới thiệu tổng quát về Đài PT-TH Kiên Giang, đồng thời phân tích
thực trạng phát thanh, truyền hình và thực trạng chính sách đãi ngộ tại Đài trong
những năm gần đây. Thông qua việc phân tích thực trạng chính sách đãi ngộ của Đài,
tác giả đã tìm ra được nhiều vấn đề cần giải quyết nhằm tạo động lực làm việc cho
CBVC.
Dựa trên kết quả khảo sát định tính và các số liệu thứ cấp, tác giả đã tìm hiểu sâu
hơn các vấn đề để tìm ra nguyên nhân cụ thể và từ đó hình thành những giải pháp
được trình bày ở Chương 5.

78
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP
5.1. Kết luận
Thực trạng về chính sách đãi ngộ của Đài trong những năm vừa qua đa phần bị
hạn chế về mặt tài chính. Mức tổng thu nhập bình quân qua các năm đều nhỏ hơn 5
triệu đồng: năm 2012 – 4.654 triệu đồng, năm 2013 – 3.752 triệu đồng, năm 2014 –
3.925 triệu đồng và năm 2015 – 4.340 triệu đồng. Trong đó, chỉ có năm 2012 là
CBVC được hưởng thu nhập tăng thêm, từ năm 2013 trở đi, CBVC chỉ được hưởng
lương và một số loại phụ cấp.Tiền thưởng không gắn liền với hiệu quả lao động mà
chỉ là những khoản tiền thưởng cố định theo lễ, tết nên có rất ít tác động đến động lực
làm việc. Nhuận bút được chi trả khá công bằng, tuy nhiên chưa chi trả kịp thời và
chưa được cập nhật theo quy định mới nên còn ở mức thấp. Các khoản phúc lợi bắt
buộc đều được Đài đóng đủ theo quy định của Pháp luật, các khoản phúc lợi tự
nguyện được chi trả cho CBVC nhưng lại không công bố rõ ràng, dẫn đến sự hiểu lầm
của CBVC và gây nên sự chưa hài lòng không đáng có.
Đài cũng thực hiện các đãi ngộ phi tài chính thông qua việc tạo điều kiện cho
CBVC học tập, nâng cao trình độ trong quá trình công tác, được bồi dưỡng chuyên
môn, kiến nghị với ban giám đốc về những vấn đề liên quan đến chuyên môn và quản
lý Đài. Ngoài ra, Đài cũng tạo điều kiện làm việc, cơ sở vật chất tốt cho CBVC, tuy
nhiên có tình trạng một số máy đã dùng lâu, hay trục trặc hoặc không dùng được. Về
mối quan hệ, cấp trên luôn được nhận sự tôn kính và ủng hộ của nhân viên, đồng thời
luông lắng nghe và tạo điều kiện cho nhân viên làm việc, giữa các đồng nghiệp với
nhau luôn thân thiện, cởi mở và giúp đỡ. Tuy nhiên khi làm việc, đôi khi vẫn còn
trường hợp bằng mặt không bằng lòng hoặc bè phái.
Kết quả đánh giá chính sách đãi ngộ của Đài về mặt tài chính và phi tài chính
được trình bày trong bảng 5.1. Theo đó, những yếu tố thuộc chính sách đãi ngộ phi tài
chính đa phần đạt được sự hài lòng cao hơn so với chính sách đãi ngộ tài chính. Yếu
tố Cấp trên, Đồng nghiệp và Chính sách đào tạo, phúc lợi là những yếu tố được đánh
giá cao nhất. Yếu tố Tiền phụ cấp, Phúc lợi và Tiền thưởng là những yếu tố bị đánh
giá thấp nhất, hoàn toàn phù hợp với thực trạng hiện tại của Đài.

79
Bảng 5. 1 Thống kê đánh giá chính sách đãi ngộ của Đài
Trung bình Độ lệch chuẩn

Chính sách đãi ngộ tài chính
Tiền nhuận bút
3.43
0.561
Tiền lương
3.36
0.760
Thu nhập tăng thêm
3.04
0.635
Tiền thưởng
2.87
0.556
Phúc lợi
2.82
0.669
Tiền phụ cấp
2.72
0.573
Chính sách đãi ngộ phi tài chính
Cấp trên
3.49
0.504
Đồng nghiệp
3.44
0.611
Chính sách đào tạo, phúc lợi
3.44
0.541
Bản thân công việc
3.30
0.523
Điều kiện làm việc
3.19
0.805
Qua việc phân tích thực trạng, tác giả đã xác định được các vấn đề cần xem xét
để tạo động lực làm việc cho CBVC đài. Nguyên nhân của các vấn đề cũng được tìm
ra qua dữ liệu thứ cấp và sự đóng góp ý kiến của CBVC đang làm việc tại Đài. Bao
gồm:
• Vấn đề liên quan yếu tố tiền thưởng
Vấn đề 1. Tiền thưởng phải gắn với hiệu quả làm việc.
Vấn đề 2. Mức thưởng phải được xây dựng dân chủ và khách quan.
Vấn đề 3. Tiền thưởng phải được phân phối công bằng.
• Vấn đề liên quan đến yếu tố phụ cấp
Vấn đề 4. Xây dựng khoản phụ cấp theo lương và ngoài lương một cách
dân chủ và công bằng.
• Vấn đề liên quan đến yếu tố phúc lợi
Vấn đề 5. Cần xây dựng và công bố Chính sách phúc lợi rõ ràng
Vấn đề 6. Các trợ cấp phúc lợi tài chính cần kịp thời
Vấn đề 7. Trợ cấp nhà ở và phương tiện đi lại
Tuy nhiên các vấn đề khác nhau lại có mức độ quan trọng và tính khẩn cấp khác
nhau. Để xác định mức độ quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề, tác giả đã phỏng
vấn tay đôi lấy ý kiến của giám đốc Đài. Biểu đồ hình 5.1 thể hiện đánh giá của Giám
đốc Đài về mức độ quan trọng và khẩn cấp của các vấn đề.

80

Hình 5. 1 Biểu đồ về tầm quan trọng và mức độ khẩn cấp của các vấn đề
Theo ý kiến từ giám đốc Đài, vấn đề ở mức độ rất quan trọng và rất khẩn cấp là vấn
đề 1, 2 và 4 vì ảnh hưởng trực tiếp đến động lực làm việc trên khía cạnh hiệu quả làm
việc. Vấn đề 5 và 6 được đánh giá là quan trọng vì một khi Đài đảm bảo được phúc lợi
cho người lao động, họ có thể yên tâm làm việc và cống hiến cho Đài. Tuy nhiên 2
yếu tố này được đánh giá là tương đối khẩn cấp vì Giám đốc cảm thấy chính sách hiện
tại đã phù hợp, vấn đề còn lại là công bố rõ ràng và hỗ trợ kịp thời. Vấn đề 3 – khoản
tiền thưởng tuy không gắn liền với hiệu quả làm việc nhưng lại là một phần quà hỗ trợ
từ phía Đài vào những dịp cao điểm chi tiêu của CBVC hay khuyến khích tinh thần
khi NLĐ đạt thành tích đột xuất, đồng thời khoản thưởng này cũng như một sự công
nhận cho thành quả phấn đấu của 1 năm qua của CBVC. Cho nên vấn đề 3 cũng được
đánh giá là quan trọng. Tuy nhiên, việc thưởng bao nhiêu lại dựa trên lợi nhuận cuối
kỳ của Đài, rất khó chủ động và CBVC cũng hiểu được điều đó, nên được đánh giá là
ít khẩn cấp.