Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

Tải bản đầy đủ

79
Bảng 5. 1 Thống kê đánh giá chính sách đãi ngộ của Đài
Trung bình Độ lệch chuẩn

Chính sách đãi ngộ tài chính
Tiền nhuận bút
3.43
0.561
Tiền lương
3.36
0.760
Thu nhập tăng thêm
3.04
0.635
Tiền thưởng
2.87
0.556
Phúc lợi
2.82
0.669
Tiền phụ cấp
2.72
0.573
Chính sách đãi ngộ phi tài chính
Cấp trên
3.49
0.504
Đồng nghiệp
3.44
0.611
Chính sách đào tạo, phúc lợi
3.44
0.541
Bản thân công việc
3.30
0.523
Điều kiện làm việc
3.19
0.805
Qua việc phân tích thực trạng, tác giả đã xác định được các vấn đề cần xem xét
để tạo động lực làm việc cho CBVC đài. Nguyên nhân của các vấn đề cũng được tìm
ra qua dữ liệu thứ cấp và sự đóng góp ý kiến của CBVC đang làm việc tại Đài. Bao
gồm:
• Vấn đề liên quan yếu tố tiền thưởng
Vấn đề 1. Tiền thưởng phải gắn với hiệu quả làm việc.
Vấn đề 2. Mức thưởng phải được xây dựng dân chủ và khách quan.
Vấn đề 3. Tiền thưởng phải được phân phối công bằng.
• Vấn đề liên quan đến yếu tố phụ cấp
Vấn đề 4. Xây dựng khoản phụ cấp theo lương và ngoài lương một cách
dân chủ và công bằng.
• Vấn đề liên quan đến yếu tố phúc lợi
Vấn đề 5. Cần xây dựng và công bố Chính sách phúc lợi rõ ràng
Vấn đề 6. Các trợ cấp phúc lợi tài chính cần kịp thời
Vấn đề 7. Trợ cấp nhà ở và phương tiện đi lại
Tuy nhiên các vấn đề khác nhau lại có mức độ quan trọng và tính khẩn cấp khác
nhau. Để xác định mức độ quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề, tác giả đã phỏng
vấn tay đôi lấy ý kiến của giám đốc Đài. Biểu đồ hình 5.1 thể hiện đánh giá của Giám
đốc Đài về mức độ quan trọng và khẩn cấp của các vấn đề.

80

Hình 5. 1 Biểu đồ về tầm quan trọng và mức độ khẩn cấp của các vấn đề
Theo ý kiến từ giám đốc Đài, vấn đề ở mức độ rất quan trọng và rất khẩn cấp là vấn
đề 1, 2 và 4 vì ảnh hưởng trực tiếp đến động lực làm việc trên khía cạnh hiệu quả làm
việc. Vấn đề 5 và 6 được đánh giá là quan trọng vì một khi Đài đảm bảo được phúc lợi
cho người lao động, họ có thể yên tâm làm việc và cống hiến cho Đài. Tuy nhiên 2
yếu tố này được đánh giá là tương đối khẩn cấp vì Giám đốc cảm thấy chính sách hiện
tại đã phù hợp, vấn đề còn lại là công bố rõ ràng và hỗ trợ kịp thời. Vấn đề 3 – khoản
tiền thưởng tuy không gắn liền với hiệu quả làm việc nhưng lại là một phần quà hỗ trợ
từ phía Đài vào những dịp cao điểm chi tiêu của CBVC hay khuyến khích tinh thần
khi NLĐ đạt thành tích đột xuất, đồng thời khoản thưởng này cũng như một sự công
nhận cho thành quả phấn đấu của 1 năm qua của CBVC. Cho nên vấn đề 3 cũng được
đánh giá là quan trọng. Tuy nhiên, việc thưởng bao nhiêu lại dựa trên lợi nhuận cuối
kỳ của Đài, rất khó chủ động và CBVC cũng hiểu được điều đó, nên được đánh giá là
ít khẩn cấp.

81
5.2. Giải pháp
5.2.1. Mục tiêu giải pháp
Động lực làm việc của CBVC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Đài PT-TH
Kiên Giang. Nếu CBVC có động lực làm việc thì họ sẽ phấn đấu làm tốt công việc
hơn, mức độ gắn bó với Đài cao hơn. Trong khu vực hiện nay có nhiều Đài PT-TH
nên CBVC hoàn toàn có nhiều sự lựa chọn để làm việc. Cần phải có các giải pháp giữ
chân CBVC để họ không rời bỏ Đài vì không còn động lực làm việc hay vì Đài khác
có chế độ tốt.
Mục tiêu chính của giải pháp là cải thiện chính sách đãi ngộ một cách nhanh
chóng và hợp lý nhằm tạo động lực làm việc cho CBVC. Các giải pháp được đánh giá
là tốt khi tạo được động lực làm việc và phải củng cố được niềm tin, sự gắn bó của
CBVC với Đài, góp phần giúp Đài phát triển và hoạt động tốt. Từ đó, tạo được nhiều
lợi nhuận và đảm bảo được các chính sách đãi ngộ cho CBVC.
5.2.2. Giải pháp về chính sách đãi ngộ tài chính
5.2.2.1. Giải pháp cho vấn đề Tiền thưởng
Vấn đề 1. Tiền thưởng phải gắn với hiệu quả làm việc.
Tiền thưởng hiện nay chủ yếu chỉ là các khoản thưởng vào dịp lễ, tết mà không
hề gắn với hiệu quả làm việc bởi vì các khoản thưởng dựa trên hiệu quả lại có nhiều
tiêu chí khó đạt được. Điều này sẽ tạo tâm lý “không làm cũng được thưởng” và “khó
quá thì bỏ qua khỏi làm”. Tâm lý này sẽ tạo sức ỳ và dần làm mất đi động lực làm
việc của CBVC. Khen thưởng một cách đúng đắn, kịp thời sẽ có tác dụng to lớn
khuyến khích NLĐ nỗ lực hơn trong công việc. Điều quan trọng trong công tác khen
thưởng là tiến hành việc bình chọn phải hết sức công bằng, hợp lý. Có như vậy công
tác khen thưởng mới có ý nghĩ thiết thực, khuyến khích NLĐ nỗ lực hơn trong công
việc bằng không sẽ phản tác dụng gây ra tâm lý bất mãn cho NLĐ. Đề giải quyết vấn
đề này, cần phải xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng và có khả năng đạt được.
Nội dung giải pháp sẽ được trình bày gộp ở vấn đề 2.
Vấn đề 2. Mức thưởng phải được xây dựng dân chủ và khách quan.
Nội dung giải pháp
- Xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng và có khả năng đạt được. Hiện
tại việc đánh giá CBVC là dựa trên tổ trưởng và các trưởng – phó phòng. Tuy nhiên

82
các tiêu chí dùng đánh giá CBVC lại rất khó đạt được, trong khi mỗi tổ trưởng, trưởng
– phó phòng lại có cách nhìn nhận khác nhau về công việc và mức độ hoàn thành
công việc. Dẫn đến các tiêu chí đánh giá của họ cũng sẽ khác nhau. Việc xây dựng các
tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể và thống nhất sẽ giúp việc đánh giá có tính khách
quan hơn, CBVC cũng dễ dàng tự theo dõi và đánh giá bản thân nhằm tiếp tục phấn
đấu để nhận phần thưởng. CBVC ở những bộ phận khác nhau, vị trí khác nhau sẽ có
các tiêu chí đánh giá khác nhau tuỳ theo đặc điểm và tính chất của công việc họ đảm
nhiệm. Các tiêu chí cần phù hợp với mục tiêu phát triển chung của Đài và mục tiêu
riêng của từng bộ phận, đồng thời phải có khả năng đạt được thì mới tạo được động
lực cho CBVC. Các tiêu chí đánh giá có thể là: số lượng chương trình/bài viết, chất
lượng chương trình/bài viết dựa trên đánh giá của người xem, số lượng người xem
chương trình, tin tức… Ngoài ra cần đánh giá tác phong làm việc, thái độ với công
việc, trách nhiệm với công việc, việc chấp hành giờ giấc, mối quan hệ sự phối hợp, hỗ
trợ công tác với đồng nghiệp, tuân thủ mọi nội quy quy chế của cơ quan và nội quy về
an toàn khi tác nghiệp…
- Thay đổi người đánh giá. Hiện nay việc đánh giá được thực hiện bởi các
trưởng phòng. Việc này rất cảm tính vì trưởng phòng phải theo dõi nhiều công việc từ
chuyên môn đến quản lý một lúc và khó có thể đánh giá hết quá trình làm việc của
CBVC. Ngoài ra, nếu chỉ có một người đánh giá và không có sự kiểm tra chéo thì sẽ
không khách quan và công bằng. Quá trình đánh giá nên có nhiều người tham gia, đặc
biệt là những người cùng trực tiếp làm việc với người được đánh giá (bao gồm người
cùng bộ phận và khác bộ phận hoặc có bộ phận giám sát nhân sự) và bản thân CBVC
cũng phải tự đánh giá quá trình làm việc của mình. Dĩ nhiên là việc đánh giá sẽ dựa
trên những tiêu chí cụ thể được xây dựng trước. Việc thêm những người đánh giá khác
vào quá trình đánh giá sẽ đảm bảo được tính khách quan và dân chủ, công bằng.
- Xây dựng trọng số cho các tiêu chí đánh giá. Việc xây dựng trọng số cho
các tiêu chí đánh giá là quan trọng, bởi vì có những tiêu chí đối với bộ phận này là
quan trọng nhưng đối với bộ phận khác là không cần thiết. Ví dụ như tiêu chí trang
phục(cách ăn mặc) là cần thiết đối với MC và phát thanh viên truyền hình, nhưng lại
không quan trọng đối với phát thanh viên phát thanh hoặc tiêu chí cách phát âm
chuẩn, chất giọng thể hiện nội dung bài viết quan trọng đối với Phát thanh viên nhưng

83
không quan trọng với kỹ thuật. Các tiêu chí đánh giá sẽ có mức độ quan trọng khác
nhau. Việc xây dựng trọng số này sẽ do trưởng phó các phòng và tổ trưởng tiến hành
họp bàn và thống nhất ý kiến trình lên Ban giám đốc.
Tính khả thi của giải pháp
Giải pháp này hoàn toàn khả thi với sự trợ giúp của phần mềm Excel. Việc tính
toán số điểm của CBVC sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. Với cách tính điểm
có trọng số và quá trình đánh giá gồm nhiều người tham gia, việc đánh giá sẽ công
bằng và khách quan hơn. Tuy nhiên việc xây dựng các tiêu chí đánh giá sẽ mất nhiều
thời gian, nên được tiến hành ngay để có thể nhanh chóng áp dụng nhằm tạo động lực
làm việc cho CBVC kịp thời.
Vấn đề 3. Khoản tiền thưởng phải được phân phối công bằng
Nội dung giải pháp
Không nên đưa phần thưởng vào thành hệ số của thu nhập tăng thêm hay phụ
cấp theo lương, không có tác dụng khuyến khích nhiều mà gây ra tình trạng cào bằng
khi bình xét. Nên để dành một khoản thưởng cuối năm và tập trung cho những NLĐ
thật sự có sự nỗ lực và thành tích xuất sắc trong năm. Làm như vậy chắc chắn sẽ tạo ra
động lực làm việc để mỗi CBVC đều cố gắng giành được phần thưởng đó.
Phải đảm bảo chính xác, công khai, công bằng, dân chủ và kịp thời trên cơ sở
đánh giá đúng hiệu quả công tác của các tập thể và cá nhân; coi trọng chất lượng theo
tiêu chuẩn, không gò ép để đạt số lượng; việc khen thưởng đối với tập thể, cá nhân
không bắt buộc theo trình tự có hình thức khen thưởng mức thấp rồi mới được khen
thưởng mức cao hơn; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó; thành tích đạt được
trong điều kiện khó khăn và có phạm vi ảnh hưởng càng lớn thì được xem xét, đề nghị
khen thưởng với mức càng cao;
- Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng;
- Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng;
- Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất.
Ngoài ra, cần xem xét mức chia thưởng cao hơn đối với các cá nhân có nhiệm vụ
và trách nhiệm nặng nề hơn như các cấp quản lý, vì họ phải điều phối hoạt động của
toàn bộ phận, toàn phòng ban.

84
Tính khả thi của giải pháp
Việc xác định trả thưởng có công bằng hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự rõ
ràng trong cách tính và tính minh bạch trong thông tin. Nếu Đài đảm bảo công bố đầy
đủ thông tin và các CBVC đều hiểu rõ cách thức tính thưởng cũng như lý do tính
thưởng cao/thấp thì giải pháp này hoàn toàn có thể thực hiện được, thậm chí còn là
một đòn bẫy thúc đẩy CBVC cố gắng hơn để đạt mức thưởng cao hơn.
5.2.2.2. Giải pháp cho vấn đề Phụ cấp
Vấn đề 4. Xây dựng khoản phụ cấp theo lương và ngoài lương một cách dân
chủ, công bằng.
Nội dung giải pháp
Quy chế chi tiêu nội bộ là căn cứ pháp lý để thực hiện và kiểm soát các khoản
chi trong Đài. Do vậy đòi hỏi phải được xây dựng đảm bảo tính công khai, dân chủ,
thống nhất trong tập thể đội ngũ CBVC của Đài.
Quy chế chi tiêu nội bô ̣của Đài được lấy ý kiến đóng góp của tập thể CBVC
toàn Đài, bộ phận tổ chức hành chính tổng hợp ý kiến trình Ban Giám đốc cùng Công
đòan xem xét điều chỉnh. Nhưng hầu như ý kiến của CBVC đưa ra đều chưa được tiếp
thu với lý do là chưa cân đối được nguồn thu vì thế mấy năm nay chưa điều chỉnh nên
không phù hợp với giá cả thị trường và mong muốn thỏa đáng hợp lý của NLĐ.
Do vậy, để quy chế chi tiêu nội bộ thực sự là công cụ trong việc kiểm soát chi
tiêu đòi hỏi Đài cần phải sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế và có chiến lược
dài hạn theo hướng tăng cường chi cho con người cụ thể:
+ Tăng các khoản chi phụ cấp công tác phí, khoán điện thọai, trang phục… ở
mức phù hợp để nâng cao được tinh thần trách nhiệm của CBVC trong việc thực hiện
công tác này.
+ Đẩy nhanh tốc độ thanh toán các khoản chi cho cá nhân như: tiền phụ cấp làm
thêm giờ, nhuận bút, phụ cấp công tác phí…
+ Xây dựng và áp dụng hình thức khoán kinh phí cho một số khoản chi cho các
phòng, ví dụ như khoán văn phòng phẩm, khoán tiền điện thọai cố định…vì hiện tại
đang theo hình thức cấp phát không đáp ứng nhu cầu sử dụng thực tế có hiện tượng
thừa thiếu và chưa khuyến khích tinh thần tiết kiệm cho mỗi phòng.
+ Tiền phụ cấp làm thêm ngoài giờ:

85
Nên chi trả đảm bảo công sức tiêu hao theo thực tế của NLĐ vì theo qui định
chỉ thanh tóan 300 giờ/năm, nhưng do đặt thù công việc của Đài nên thực tế đội ngũ
trực truyền dẫn tín hiệu và phát sóng trực nhiều hơn giờ qui định mà Đài chưa bố trí
nhân sự cho họ được nghỉ bù đúng qui định nhưng lại chỉ được thanh tóan 300 giờ
chưa đủ hao phí đã bỏ ra, điều này bất hợp lý vì thế Đài nên xây dựng khỏang tiền phụ
cấp cho những NLĐ ở những vị trí công việc này hoặc ký hợp đồng khoán với họ cho
những giờ vượt qui định không được thanh toán, điều này nhằm hạn chế và tiết kiệm
nhân sự lẫn chi phí khi phải tuyển thêm nhân sự.
Tính khả thi của giải pháp
Việc xây dựng phụ cấp công bằng là hết sức cần thiết. CBVC thường xuyên làm
việc cùng nhau, dễ đẫn đến sự so sánh, nếu hiện tượng không công bằng xảy ra,
CBVC rất bất mãn và sẽ mất động lực làm việc. Giải quyết tốt vấn đề xây dựng khoản
phụ cấp theo lương và ngoài lương một cách dân chủ, công bằng cũng như thanh toán
kịp thời các khoản chi cho cá nhân, không chỉ tạo động lực cho NLĐ hoàn thành tốt
công việc được giao mà còn tránh được ùn tắc quá nhiều công việc dễ dẫn đến sai sót
ở bộ phận phòng Tổ chức hành chính. Để giải pháp được khả thi, cần phải có công tác
đánh giá hiệu quả làm việc của phòng Tổ chức hành chính, đặc biệt là đánh giá chéo
từ các phòng ban khác (như đã nêu ở vấn đề 2). Có như vậy mới tránh xảy ra tình
trạng tiêu cực.
5.2.2.3. Giải pháp cho vấn đề Phúc lợi
Vấn đề 5. Cần xây dựng và công bố Chính sách phúc lợi rõ ràng
Mục tiêu của chính sách phúc lợi
Các mục tiêu của chính sách phúc lợi cần phải gắn kết, hoà hợp với các chính
sách quản lý nguồn nhân lực. Bởi vậy, mục tiêu của tổ chức trong việc đề ra phúc lợi
phải là:
- Duy trì và nâng cao năng suất lao động;
- Thực hiện chức năng xã hội của chúng đối với người lao động;
- Đáp ứng đòi hỏi của đại diện người lao động và nâng cao vai trò điều tiết của
Chính phủ;
- Duy trì mức sống vật chất và tinh thần của người lao động.
Nguyên tắc xây dựng chính sách phúc lợi

86
Chính sách phúc lợi phải vừa có lợi cho người lao động, vừa có lợi cho người
quản lý. Chi phí cho phúc lợi phải đưa đến kết quả là tăng chất lượng phục vụ, sự
trung thành hơn của CBVC và tinh thần của họ được nâng cao hơn, giảm sự mâu
thuẫn giữa người lao động và tổ chức. Hai loại phúc lợi (nghỉ phép được trả tiền và trợ
cấp ốm đau) là tương đối có ý nghĩa đối với phục hồi sức khoẻ và tinh thần của
CBVC.
Chi phí của chính sách phải nằm trong khả năng thanh toán của Đài.
Chính sách phải được xây dựng rõ ràng, thực hiện một cách công bằng và vô tư
với tất cả mọi người.
Chính sách phải được người lao động tham gia và ủng hộ. Các phúc lợi như
là vui chơi, giải trí, thể thao có thể do CBVC tổ chức trong thời gian nhàn
rỗi của họ.
Các bước xây dựng chính sách phúc lợi
Bước 1: Thu thập các dữ liệu về giá cả chủ yếu của tất cả các mặt hàng và dịch
vụ có liên quan.
Bước 2: Đánh giá xem cần có bao nhiêu tiền thì có thể thực hiện được tất cả các
loại phúc lợi trong kỳ tới.
Bước 3: Đánh giá bằng điểm từng loại phúc lợi và dịch vụ theo các yếu tố như:
yêu cầu của luật pháp, nhu cầu và sự lựa chọn của CBVC, và sự lựa chọn của Đài.
Bước 4: Đưa ra quyết định về phương án tối ưu kết hợp giữa các loại phúc lợi và
dịch vụ khác nhau.
Các bước trên thực hiện phải mang tính logic, khách quan, có kế hoạch và phù
hợp thực tế.
Quản lý chính sách phúc lợi
Chính sách phúc lợi là điều kiện để thu hút và giữ chân CBVC giỏi, nên Đài cần
phải quản lý tốt để tìm ra những vướng mắc không đáng có, giải quyết kịp thời nhằm
thu được kết quả tốt. Hơn nữa, chi phí cho chính sách ngày càng có xu hướng tăng tỷ
trọng trong tổng chi phí thù lao. Do đó, Đài cần phải theo dõi, hạch toán một cách sát
sao để chi phí cho chính sách nằm trong khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh
của Đài. Việc quản lý chương trình phúc lợi cần lưu ý tới các khía cạnh sau:

87
- Tiến hành nghiên cứu chính sách phúc lợi của các Đài khác trong khu vực để
tham khảo (thường nghiên cứu cùng với tiền công, tiền lương)
- Nghiên cứu sở thích và sự lựa chọn của CBVC: việc nghiên cứu này có thể tiến
hành thông qua huỷ bỏ, phỏng vấn, điều tra chọn mẫu trong Đài.
- Tiến hành xây dựng các quy chế phúc lợi một cách rõ ràng công khai bao gồm:
các quy định, điều khoản, điều kiện để thực hiện từng loại phúc lợi và dịch vụ, thông
tin thường xuyên, công bố rõ ràng và giải thích cho người lao động hiểu tránh tình
trạng người lao động có những đòi hỏi quá mức và không hợp lý.
- Tiến hành theo dõi và hạch toán chi phí một cách thường xuyên. Chỉ tiêu dùng
để hạch toán phải dựa trên những nhân tố có thể đo được những thu nhập của CBVC
hoặc thời gian phục vụ trong Đài của họ như: chi phí phúc lợi so với doanh
thu/năm; chi phí phúc lợi/ tổng quỹ lương, chi phí phúc lợi/1 giờ làm việc...
- Phải quản lý thông tin thông suốt: Duy trì việc trao đổi thông tin giữa CBVC
và Đài với lợi ích mà các bên thu được từ chính sách; đánh giá những mặt được và
chưa được để điều chỉnh hợp lý và kịp thời. Đồng thời, giải thích những thắc mắc phát
sinh từ phía người lao động nhằm giảm những chi phí xung đột không đáng có.
Khi thực hiện chính sách phúc lợi, phòng quản trị nguồn nhân lực có vai trò tư
vấn cho lãnh đạo về việc xây dựng, thực hiện và quản lý các chương trình phúc lợi và
dịch vụ được cung cấp.
Tính khả thi của giải pháp
Các chính sách rõ ràng sẽ giúp Đài xác định được và ngăn chặn những rủi ro xảy
đến đối với CBVC và đảm bảo rằng Đài đang tuân theo đúng luật pháp. Chúng cũng
sẽ giúp tạo lập văn hoá Đài: khi mà tất cả mọi vấn đề được giải quyết công bằng và
nhất quán. Việc xây dựng một chính sách phúc lợi và công bố rõ ràng sẽ mất nhiều
thời gian, nhưng đây là việc cần thiết thực hiện để tạo động lực làm việc cho người lao
động. Ngoài ra, CBVC làm việc quản lý nhân lực tại phòng tổ chức hành chính là
những CBVC có thâm niên và kinh nghiệm trong nghề, hoàn toàn có khả năng xây
dựng chính sách phù hợp một khi kết hợp tham khảo ý kiến từ các CBVC hiện đang
làm việc tại Đài.
Vấn đề 6. Các trợ cấp phúc lợi tài chính cần kịp thời
Nội dung giải pháp

88
Hiện nay, do thủ tục nhận trợ cấp gồm nhiều bước, kiểm đếm và nhận tiền mặt
lâu, thường được thực hiện sau khi sự việc xảy ra; công đoàn chưa thực hiện tốt và kịp
thời trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người lao động, chưa gần gũi đi sâu đi sát để nắm
bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng và những khó khăn mà CBVC gặp phải, nên các trợ
cấp phúc lợi tài chính vẫn chưa kịp thời. Để giải quyết tình trạng này, Đài quyết định
đổi phương pháp nhận trợ cấp qua tài khoản ngân hàng, Công đoàn phải tăng trách
nhiệm và tham gia giải quyết chế độ chính sách cho CBVC, nên ứng trước tiền trợ cấp
cho CBVC để họ có thể nhận được tiền ngay sau đó hoàn tất hồ sơ thủ tục, khi phòng
hành chính thực hiện xong các thủ tục cần thiết thì chi bổ sung và thu hồi khoản ứng
trước có như vậy thì các chế độ và trợ cấp phúc lợi của CBVC mới được giải quyết
kịp thời nhanh nhạy.
Tính khả thi của giải pháp
Việc chi trả các khoản trợ cấp qua tài khoản ngân hàng là hoàn toàn khả thi và
bắt kịp xu hướng hiện nay. Ngoài ra việc này cũng chứng tỏ lợi ích khi có thẻ đồng bộ
hoá vào quá trình chi trả lương, chi trả thưởng, phụ cấp, nhuận bút. Các CBVC của
Đài đều có trình độ hiểu biết và có thể dễ dàng sử dụng các loại thẻ để rút tiền. Công
đoàn tăng cường trách nhiệm, quan tâm và sâu sát thì sẽ nắm bắt kịp thời tâm tư
nguyện vọng cũng như những khó khăn của NLĐ qua đó giúp họ có niềm tin, an tâm
công tác khi được quan tâm và bảo vệ quyền lợi hợp lý, thỏa đáng.
Vấn đề 7. Trợ cấp nhà ở và phương tiện đi lại
Nội dung giải pháp
Do đặc thù ngành PT-TH, các CBVC của Đài thường xuyên phải đi công tác tại
các địa bàn lân cận, việc trợ cấp nhà ở và chí phí, phương tiện đi lại được thực hiện
sau chuyến công tác, cộng thêm thủ tục hành chính nhiều bước và các tiêu chuẩn qui
định về việc hoàn phí khắc khe rườm rà, đôi khi CBVC không nhận được khoản này.
Bên cạnh đó CBVC ở xa lại không có nhà ở phải thuê trọ nên hàng tháng tiền thu
nhập của họ phải chi phí thêm cho khoản tiền thuê nhà. Để không phải thực hiện
nhiều thủ tục và không làm mất quyền lợi của CBVC, Đài nên có phương án hỗ trợ xe
đưa đón tại địa phương khi công tác. Bên cạnh đó Đài nên trích trước tiền xây dựng
khu tập thể (từ quỹ đất sẵn có của Đài) để xây dựng nhà ở cho những CBVC có hoàn

89
cảnh khó khăn, ở xa và không có nhà ở, sau đó thu góp hàng tháng với khoản thời
gian nhất định.
- Duy tu bảo dưỡng 0 2 xe truyền hình màu, phục vụ truyền hình lưu động.
- Đầu tư mới 01 xe truyền hình màu hiện đại với nhiều chức năng phục vụ việc
tác nghiệp ở hiện trường chuyên nghiệp và nhanh chóng hơn.
- Đầu tư mới 02 xe loại 16 chỗ phục vụ E kip sản xuất chương trình.
Tính khả thi của giải pháp
CBVC không cần suy nghĩ về vấn đề di chuyển hay phải cực nhọc và tốn tiền
thuê nhà ở hàng tháng, cũng không phải lo lắng về việc chậm trễ và bù lỗ do trượt giá
giữa qui định công tác phí của Đài và giá cả thị trường cũng như tiêu chuẩn thủ tục
khắc khe, rườm rà. Họ có thể yên tâm và hoàn thành tốt công việc cũng như sản xuất
được chương trình hấp dẫn thu hút người xem, viết được nhiều tin/ bài hay phản ánh
đúng và kịp thời tình hình diễn biến xã hội. Nếu giải pháp “Đài chủ động lo việc di
chuyển và nhà ở” của CBVC khi đi công tác hiệu quả, nghĩa là chất lượng tin/bài
chương trình tăng, doanh thu của các chương trình gia tăng dẫn đến đảm bảo cho Đài
giải quyết được nhiều vấn đề trước tiên là đảm bảo cuộc sống cho CBVC, thì việc Đài
xem xét trang bị phương tiện để chủ động hơn trong công việc là hoàn toàn khả thi.
5.2.2.4. Giải pháp cho các vấn đề khác của chính sách đãi ngộ tài chính
Ngoài các vấn đề được giải quyết trong mục 5.2.2.1 đến 5.2.2.3, như đã phân
tích trong phần 4.4.4, tuy không có nhiều người không đồng ý với những chính sách
còn lại, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến trung lập. Để giải quyết triệt để, biến
những người không đồng ý và người trung lập thành người đồng ý với chính sách đãi
ngộ, cần thực hiện kết hợp các giải pháp sau:
* Giải pháp tăng thu, đảm bảo ngân sách cho hoạt động
Qua phân tích thực trạng chính sách đãi ngộ cho thấy vấn đề chủ yếu trong việc
tạo động lực cho NLĐ là thu nhập, thu nhập thấp sẽ không đủ đảm bảo cho đời sống
của bản thân và gia đình mỗi NLĐ. Mà với mỗi Đơn vị thực hiện chế độ tự chủ đều
hạch toán tự cân đối thu-chi, thì thu nhập của NLĐ phụ thuộc nhiều vào các khoản mà
Đơn vị thu được. Là một Đơn vị sự nghiệp công lập, doanh thu chính là quảng cáo.
Giá thu phải xây dựng theo quy định của nhà nước và phải cân đối xây dựng mức giá
cạnh tranh với các Đài khu vực, các khoản thu khác của Đài thì chưa được khai thác