Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

đến nay đã có 100% phường xã có điện lưới quốc gia và 82% số hộ được dùng
điện.
Việc thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp gặp nhiều khó khăn do
vốn đầu tư cho công nghiệp còn thấp, triển khai các dự án còn chậm và xúc tiến
đầu tư công nghiệp còn nhiều hạn chế, đây là một trong những khó khăn lớn
đối với phát triển công nghiệp của Tỉnh. Các khu, cụm công nghiệp đang ở
bước triển khai xây dựng như: Khu Công nghiệp Hòa Phú, Cụm tiểu thủ công
nghiệp thành phố Buôn Ma Thuột và hoàn thành Quy hoạch chi tiết các Cụm
Công nghiệp Buôn Hồ, EaĐar, song triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng còn chậm
so với yêu cầu.
2.2.2. Nông, Lâm, Ngư nghiệp và du lịch:
Ngành nông nghiệp của Đăk Lăk đã có bước phát triển rất mạnh. Năm
2008 giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 9.329,7 tỷ đồng, vượt 3,6% kế
hoạch, tăng 6,57% so với năm 2007. Sản lượng lương thực ước đạt 946.789
tấn, vượt 5,2% kế hoạch, tăng 7,4% so với năm 2007. Trong năm, toàn tỉnh có
181,120 ha cà phê, tăng 2.217 ha so với năm 2007, trồng được 5.700 ha rừng
các loại, vượt 14% kế hoạch. Hiện có 40 doanh nghiệp được có chấp thuận cho
khảo sát đất để thực hiện dự án trồng cao su. phát triển cây cao su theo Chương
trình phát triển 100.000 ha cao su ở Tây Nguyên của Thủ tướng Chính phủ,
trong đó Đắk Lắk có 30.000 ha. Về chăn nuôi, so với năm 2007 tổng đàn trâu
tăng 1,3%, đàn bò tăng 3,7%, đàn lợn tăng 7,0%, đàn gia cầm tăng 1,2%.
Năm 2009 ngành nông nghiệp tập trung vào thực hiện đầu tư thâm canh,
áp dụng các loại giống và quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao.
Chuẩn bị quỹ đất để đảm bảo chỉ tiêu trồng mới cao su theo chủ trương của
Chính phủ. Chuyển đổi một số diện tích cà phê kém hiệu quả và diện tích rừng
nghèo sang trồng cao su. Triển khai thực hiện Chương trình phát triển cà phê
bền vững theo Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh, tăng sản lượng và giá trị
sản phẩm cà phê xuất khẩu. Trong chăn nuôi, tập trung phát triển nhanh chăn
nuôi gia súc ăn cỏ ở các địa bàn thuận lợi. Cải tạo và nâng cao chất lượng
giống, áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến, để tăng năng suất, chất lượng và
hiệu quả.
Về du lịch: Với nguồn tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, thời
gian qua Đắk Lắk đã có nhiều chính sách nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế
GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

9SVTH:Phạm Xuân Huy

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

để phát triển dịch vụ du lịch. Trong đó, chủ trương xã hội hóa du lịch đang
được bắt đầu thực hiện nhằm tranh thủ các nguồn lực của xã hội để đầu tư xây
dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí
Thực vậy, Đắk Lắk đã xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nhấn mạnh:
“Phát triển du lịch thành một ngành kinh tế có khả năng đóng góp đáng kể vào
tăng trưởng kinh tế và phù hợp với điều kiện, lợi thế của tỉnh…”. Thời gian qua
Đắk Lắk đã tạo điều kiện cho người dân và các thành phần kinh tế tham gia
phát triển du lịch, dịch vụ du lịch. Bằng những chính sách ưu đãi, tạo môi
trường thông thoáng đã huy động được các nguồn lực trong xã hội đầu tư phát
triển ngành du lịch; đẩy mạnh công tác tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, xây
dựng các cụm, tuyến du lịch, phát triển các làng nghề truyền thống gắn với hoạt
động du lịch…
Ngoài ra, trong phát triển du lịch của tỉnh, Đắk Lắk đã chú trọng thúc
đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong quy hoạch phát triển
du lịch. Trong quá trình phát triển các điểm, khu du lịch, Đắk Lắk đã chú trọng
đảm bảo sự phân chia lợi ích hợp lý giữa các đơn vị kinh doanh du lịch và dân
cư địa phương, nâng cao đời sống người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã
hội. Phát triển dịch vụ du lịch ở đây luôn gắn liền với lợi ích của dân cư địa
phương, họ trực tiếp tham gia vào các dịch vụ như thuê voi, chèo thuyền, bán
đồ lưu niệm, chụp ảnh, kinh doanh nhà hàng, khách sạn… Mặt khác, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch còn thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ năng giao
tiếp, ứng xử và nâng cao nhận thức cho người dân trong bảo vệ môi trường,
cảnh quan các điểm du lịch. Đặc biệt, qua hoạt động du lịch, các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ truyền thống của đồng bào địa phương được khách du lịch quốc
tế rất ưa chuộng và tiêu thụ khá mạnh.
Cùng với công tác quy hoạch, ngành du lịch Đắk Lắk đã đẩy mạnh công
tác tuyên truyền quảng bá về du lịch, đồng thời chỉ đạo chính quyền các địa
phương tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về văn hoá, du
lịch, tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch, bảo đảm xanh,
sạch, đẹp và văn minh để thu hút ngày càng đông khách du lịch đến tham quan.
Sở đã phối hợp với UBND các huyện Lăk, Buôn Đôn và các công ty du lịch
đóng trên địa bàn thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khu dân
GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

10SVTH:Phạm Xuân Huy

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

cư; hình thành đội văn nghệ cồng chiêng tại Khu du lịch Hồ Lăk và Khu du
lịch Buôn Trí A - Buôn Đôn. Xúc tiến, chuẩn bị các điều kiện xây dựng thương
hiệu cho một số sản phẩm đặc trưng của địa phương như: Rượu thuốc Ama
Kông, cơm lam, rượu cần. Khảo sát khôi phục Làng Văn hoá dân tộc cổ Buôn
M/Liêng. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ du lịch cho các trưởng thôn, bản, các
đoàn thể, các gia đình tham gia hoạt động du lịch.
Ngoài chính sách hỗ trợ theo quy định của nhà nước khuyến khích các tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực du lịch, tỉnh Đắk Lắk
tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, thành lập
quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ và khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia hoạt
động du lịch, nhất là các loại hình du lịch tại các gia đình, thôn, bản, các làng
văn hoá - du lịch. Trong kế hoạch phát triển du lịch đến năm 2010, Đắk Lắk
phấn đấu thu hút trên 500.000 lượt khách đến tham quan du lịch tại các điểm
du lịch trên địa bàn, phát triển khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, các điểm vui
chơi, giải trí, đạt giá trị doanh thu trên 220 tỷ đồng, tạo điều kiện làm việc ổn
định cho trên 1.200 lao động hoạt động trong ngành
Về lâm nghiệp: Đắk Lắk là tỉnh có diện tích rừng tương đối lớn trong cả
nước. Diện tích đất có rừng: 604.807.5 ha (độ che phủ 46,1%). Tổng trữ lượng
gỗ trên toàn tỉnh ước khoảng 59 triệu m3. Việc quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp
lý tài nguyên rừng không những có ý nghĩa trực tiếp đối với các ngành kinh tế,
xã hội trong tỉnh, mà còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ cho
các tỉnh Tây Nguyên, phía nam và nam trung bộ.
Mục tiêu chung đến năm 2020, ngành lâm nghiệp ĐắkLắk trở thành một
ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa nghề rừng, trên cơ sở bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng hiện có; tổ
chức, quản lý, sửd ụng tài nguyên rừng bền vững, làm nền tảng cho việc phát
triển kinh tế tế, giải quyết kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, bảo vệ môi
trường, ổn định xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng.
Về thuỷ sản: Đắk Lắk là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Tây
Nguyên, có tiềm năng lớn về phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, là 01
trong 09 Tỉnh điểm của Việt Nam được lựa chọn thực hiện Chương trình hỗ trợ
ngành thủy sản (FSPS II) giai đoạn II do DANIDA hỗ trợ giai đoạn 2006-2010.
GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

11SVTH:Phạm Xuân Huy

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

Trong giai đoạn FSPS II, việc thúc đẩy phát triển hoạt động truyền
thông về Đồng quản lý trong nghề cá được lồng ghép vào trong tất cả 4 hợp
phần, cùng với việc thực hiện Chương trình Phát triển bền vững ngành Thuỷ
sản (Chương trình Nghị sự 21) và việc thành lập Tổ tư vấn đồng quản lý trong
lĩnh vực thuỷ sản (FICO), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) đã
thể sự quan tâm sâu sắc và quyết tâm thúc đẩy việc phát triển các hoạt động về
đồng quản lý trong quản lý thuỷ sản ở Việt Nam. Chính vì vậy, việc tuyên
truyền rộng rãi và lôi kéo sự quan tâm và tham gia của nhiều đối tượng có liên
quan tới hoạt động đồng quản lý nghề cá trong quá trình triển khai áp dụng
đồng quản lý là những việc làm cấp thiết và là những bước khởi đầu quan
trọng. Việc phát triển hoạt động truyền thông về đồng quản lý thuỷ sản là một
trong những hoạt động đầu tiên của quá trình này.
2.3 Tình hình kinh tế- xã hội khu vực tuyến đi qua:
Khu vực Đắk Lắk nằm ở khu vực cao nguyên. Có thể nói giao thông
phát triển nhất ở khu vực Tây Nguyên. Nói về tiềm năng kinh tế thì Đắk Lắk là
một trong những tỉnh có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Ngoài những tiềm năng
đang được khai thác thì ngày nay Đắk Lắk đang đẩy mạnh phát triển ngành du
lịch.
Nhưng hạn chế của khu vực là địa hình có nhiều đồi núi, cơ sở hạ tầng
không đồng bộ, thiếu thốn nhiều và yếu kém. Nhìn chung nền kinh tế của khu
vực phát triển chậm so với mức phát triển chung của cả nước. Chính vì vậy
việc xây dựng tuyến đường trong khu vực này nó góp một phần không nhỏ vào
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đáp ứng một phần nào đó nhu cầu đi lại,
vận chuyển hàng hoá của nhân dân trong vùng.

GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

12SVTH:Phạm Xuân Huy

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

CHƯƠNG III: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỀN KINH TẾ XÃ
HỘI CỦA KHU VỰC
3.1 Định hướng phát triển kinh tế- xã hội của vùng nghiên cứu
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội theo hướng dài hạn, ngắn hạn
và trung hạn
Phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh, trước hết là về con người, về vốn,
về tài nguyên đất, rừng, thủy năng và các khoáng sản để đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái,
giải quyết các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao
động, cải thiện cơ bản đời sống nhân dân; góp phần giảm nghèo, rút ngắn
khoảng cách giàu nghèo giữa các cộng đồng dân cư, giữa các vùng và thực
hiện công bằng xã hội.
Đẩy nhanh việc xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
xây dựng Đắk Lắk trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tây
Nguyên “một cực phát triển” trong tam giác phát triển Việt Nam - Lào Campuchia.
Phát triển kinh tế - xã hội phải góp phần củng cố khối đoàn kết các
dân tộc, tăng cường năng lực quản lý, điều hành của hệ thống chính trị các
cấp, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội.
3.1.2 Dự báo một số chỉ tiêu chính về phát triển kinh tế - xã hội của kế
hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
a. Về phát triển kinh tế
Phấn đấu tăng trưởng GDP (giá so sánh 1994) giai đoạn 2011-2015 bình quân
hàng năm từ 14-15% và giai đoạn 2016 – 2020 đạt khoảng 12,5% - 13%.
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế đến năm 2015 có cơ cấu nông-lâm-ngư
nghiệp chiếm 32 - 33%; công nghiệp, xây dựng 25 - 26%; thương mại, dịch vụ
41- 42%. Năm 2020, tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn 25% - 26%; công
nghiệp đạt khoảng 34% – 35% và dịch vụ đạt khoảng 41%;
- Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu của tỉnh năm 2015 đạt đạt 4.000 triệu USD;
năm 2020 đạt 1.000 triệu USD; tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách khoảng
GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

13SVTH:Phạm Xuân Huy

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ ĐƯỜNG
63DCCD02

L ớp :

11% - 12% vào năm 2015 và 16% - 18% vào năm 2020. Tổng nhu cầu đầu tư
toàn xã hội thời kỳ 2011 – 2015 khoảng 76 – 77 nghìn tỷ đồng (bình quân 18 19%/năm) và thời kỳ 2016– 2020 là 148 – 149 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng vốn
đầu tư bình quân năm đạt khoảng 18 - 19% thời kỳ 2011 – 2015 và 19 - 20%
thời kỳ 2016 – 2020.
b. Về phát triển xã hội
- Đến năm 2015 có 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế xã có
bác sĩ. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn dưới 20% và dưới 15% vào năm
2020.
- Phấn đấu đến năm 2015 có trên 80% hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa các
cấp; 65% thôn, buôn, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa; 100% cơ quan đạt
tiêu chuẩn văn hóa; 100% thôn, buôn được quy hoạch đất để xây dựng hội
trường, điểm sinh hoạt văn hóa - thể thao; 100% số huyện, thị xã trong tỉnh có
thư viện theo đúng tiêu chuẩn quy định của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch;
100% số nhà sinh hoạt cộng đồng được trang bị phương tiện hoạt động văn
hoá. Phủ sóng phát thanh và truyền hình địa phương trên toàn tỉnh.
- Xã đạt chuẩn nông thôn mới chiếm 20% vào năm 2015 và 50% vào năm
2020.
3.1.3 Dự báo phát triển dân số và lao động.
- Phấn đấu giảm tốc độ tăng dân số tự nhiên vào năm 2015 xuống còn 1,2 1,22%; mức giảm tỷ suất sinh 0,5-0,7 % và năm 2020 là 1,1%. Tỷ lệ dân số
thành thị chiếm 35% năm 2015 và 45,6% năm 2020. Tỷ lệ lao động nông
nghiệp trong lao động xã hội năm còn 50% - 55% năm 2020;
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội cơ bản, giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm và
đến năm 2020 về cơ bản không còn hộ nghèo;
- Phấn đấu tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 46% vào năm 2020 (trong
đó tỷ lệ lao động qua đào tạo là đồng bào các dân tộc thiểu số phấn đấu đạt
từ 30% - 40% trong các năm tương ứng). Năm 2015 giải quyết việc làm
cho 13 vạn lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống dưới
3%; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 95%; giảm
GVHD:Th.S HOÀNG THỊ THU HIỀN

14SVTH:Phạm Xuân Huy