Tải bản đầy đủ
CÁC BƯỚC CƠ BẢN XÂY DỰNG TUYẾN ỐNG MSP6 - MSP4

CÁC BƯỚC CƠ BẢN XÂY DỰNG TUYẾN ỐNG MSP6 - MSP4

Tải bản đầy đủ

23
thế tại các đoạn trong tuyến ống đã được xác định trước đó. Trong điều kiện hệ thống
giao thông tốt, việc vận chuyển thiết bị ra vào để lắp đặt tuyến ống trở nên dễ dàng.
- Vật liệu chế tạo ống: chúng ta phải xác định được ngoại lực tác động lên đường
ống khi làm việc rồi chọn vật liệu và bề dày thích hợp để ống làm việc an toàn.
- Tổn thất áp suất trên tuyến: đây là vấn đề quan trọng nhất, để đảm bảo các
thông số vận hành. Vấn đề này liên quan đến việc lựa chọn đường kính ống, lựa chọn
những góc ngoặt thay đổi hướng của tuyến ống, lựa chọn các thiết bị và phụ kiện của
đường ống phải thích hợp.
- Công việc lắp đặt phải thuận tiện: nơi tuyến ống lắp đặt thuận tiện khi vận
chuyển tập kết vật tư ống cùng các phụ kiện cũng như phương tiện cơ giới, sử dụng
máy móc phục vụ công tác lắp đặt.
- Tuổi thọ lâu dài của đường ống thể hiện ở chất lượng thép vật liệu làm ống, độ
bền vững của các mối hàn ống, phương pháp bảo vệ ăn mòn đường ống, thiết bị cũng
như việc bảo vệ và bảo dưỡng sau này.
- Đảm bảo tính ổn định của đường ống, thể hiện ở việc tính toán khối lượng, số
lượng các gối đỡ, khối bê tông gia tải (đối với đường ống trên bờ trong các trạm phân
phối khí). Để tránh hiện tượng giãn nở vi nhiệt.
- Yêu cầu về môi trường: nhằm mục đích đảm bảo sức khoẻ cho con người, tuổi
thọ của thiết bị và bảo vệ môi trường trong suốt quá trình xây dựng và vận hành tuyến
ống. Luật môi trường Việt Nam được áp dụng trong phần lớn các trường hợp. Luật
môi trường Quốc tế sẽ được sử dụng chỉ khi luật môi trường Việt Nam chưa đầy đủ
hoặc không thích hợp.
2.2.2 Tính toán công nghệ cho tuyến ống
Khi làm việc, ống sẽ chịu kéo, nén của ngoại lực như: trọng lượng bản thân, nước
biển, đất đá, cấu trúc ống khi chế tạo (uốn, tiện, rèn, hàn nối,…)… đây là cơ sở để
chọn vật liệu và bề dày thích hợp cho ống làm việc an toàn. Ngoài ra, ống còn chịu áp
suất bên trong ống như: áp suất bơm, áp suất chất lưu, ứng suất biến dạng, nhiệt độ
thay đổi, những động tác ngẫu nhiên khác,… ống đẫn được xem như ống nằm ngang
nên tải trọng kéo nén do trọng lượng bản thân có thể bỏ qua, chỉ chú ý đến áp suất
trong ống. Trong tính toán công nghệ bao gồm:
- Tính toán bền
- Tính toán nhiệt
- Tính toán thủy lực
2.2.2.1 Tính toán bền
Chúng ta phải xác định được ngoại lực tác động lên đường ống khi làm việc rồi
chọn vật liệu và bề dày thích hợp để ống làm việc an toàn.

24
Khi làm việc, ống sẽ chịu kéo nén do trọng lượng bản thân, do áp suất bơm, chịu áp
suất của chất lưu và các ống ngầm còn chịu áp suất ngoài do nước biển, đất đá, các
ngoại lực do biến đổi nhiệt độ, các mạch đập áp suất. Tuy nhiên, ống dẫn được xem
như là ống nằm ngang nên tải trọng kéo nén do trọng lượng bản thân có thể bỏ qua.
a, Tải trọng do áp suất trong ống
Là tải trọng quan trọng nhất đối với ống vận chuyển. Để tính công suất do áp suất
trong gây ra, thường dùng công thức Barlow cho tất cả các loại vật liệu và các quy
chuẩn khác nhau.

σ=

PD
i e
2;δ

(2.1)

Trong đó:

σ - Ứng suất theo chu vi ống, kG/cm2
Pi - Áp suất trong, kG/cm2
De - Đường kính ngoài của ống, cm
δ - Bề dầy định mức của thành ống, cm
Nếu xem σ o là giới hạn chảy đối với vỡ ống, thì áp suất gây ra vỡ sẽ là:

Pv =

2σ oσ
De

(2.2)

Khi tính toán phải kể đến hệ số an toàn mà trước hết là an toàn do chế tạo,
thường chấp nhận 0,875 và ngoài ra phải tính đến sai số khi thiết kế với hệ số 0,72 do
đó:

Pv = 0,72 x0,875(

σ oσ
)
De

(2.3)

Hoặc bề dày an toàn của ống phải là:

δ=

P.De
2.0,72.0,875.δ o

(2.4)

Trường hợp ống chịu cả hai áp suất trong P i và Pe và thuộc vùng đàn hồi
(De/δ>18), ta xem thành ống như một xi lanh mỏng dàn hồi thì giá trị ứng suất có thể
tính theo công thức Lamé:

( Pi − Pe )( De2 − 2 De .δ + 2δ 2 )
σ=
− Pe
2σ ( De − δ )

(2.5)

25

-

-

Áp suất cho phép trong ống thường có 3 giá trị (theo TCVN 1287 – 72):
Áp suất quy ước: là giá trị lớn nhất ở nhiệt độ môi trường 20 0C, cho phép ống và các
phụ kiện làm việc lâu dài, xác định trên cơ sở lựa chọn vật liệu và đặc tính bền của
chúng ở nhiệt độ 200C.
Áp suất làm việc: giá trị lớn nhất để làm việc lâu dài ở nhiệt độ thực tế của môi trường
được vận chuyển. Với các ống thép, phạm vi trong khoảng 0 - 1200C.
Áp suất thử: áp suất thử nghiệm thủy lực bằng nước về độ bền, độ kín khi nhiệt
độ không vượt quá 1000C.
b, Tải trọng do áp suất bên ngoài:
Có tác dụng làm méo ống, áp suất này ít gây nguy hiểm cho ống dẫn trừ trường
hợp lắp ngầm sâu và trong ống rỗng (không có áp suất trong). Giá trị áp suất bóp méo
được tính bằng lý thuyết và thực ngiệm các đường ống có độ oval nhất định, bề dày
không đều, công thức lý thuyết do Sarkixôp đề ra đã lưu ý đến hai đặc điểm trên.

Pd = K min  ∂ e + uv − (∂ e + uv ) − 4ue 
u = Ek0 ;

v =1+

(2.6)

3
4.K min . p 3

Trong đó:
E - Mô dun Young, 2,1.106 kG/cm2

∂ e - giới hạn chảy của thép kG/cm2
e - độ oval của ống, có thể xem e = 0.01

K0 =

δ0
De ;

K min =

δ min
δ
p= 0
De ;
δ min

δe, δmin, δ0 – bề dày trung bình, tối thiểu và định mức của thành ống, thông thường
với các ống thép cán thì δe=0,9δ và δmin=0,875δ
Công thức (2.6) thuần túy lý thuyết, kết quả thấp hơn số liệu thí nghiệm có lưu ý
đến độ oval của ống trong giới hạn các sai số. Khi xác định áp dụng ngoài giới hạn (áp
suất bóp méo), người ta phân biệt hai trường hợp ống thành dày và thành mỏng căn cứ
vào tỷ số De / ∂ (nếu De / ∂ bé thì thuộc vùng dẻo và giới hạn chảy của thép chiếm vai
trò quan trọng, còn nếu De / ∂ lớn sẽ thuộc vùng đàn hồi và lúc đó kích thước hình học
giữ vai trò chính). Thực ra, không tồn tại một quan điểm chính xác về sự thay đổi giữa

26
hai vùng mà sự chuyển tiếp xảy ra từng bước, nghĩa là có sự chuyển tiếp giữa hai
vùng, công thức phổ biến API như sau:
Trong vùng dẻo De / ∂ < 14 :

Pd = 0,75.2.σ (

De
δ
− 1).( )
δ
De

(2.7)

Trong vùng đàn hồi De / ∂ > 18 :

1 1

Pd = 0,75.4,4.106.  .( − 1) 
 De De


2

(2.8)

Trong vùng chuyển tiếp:



 2,5

Pd = 0,75.∂ e . 
− 0,046 
D
 e

 δ


(2.9)

Trong các công thức từ (2.7) đến (2.9), ∂ e là giới hạn chảy của vật liệu, các giá trị
Pd tính ra kG/cm2. Các giá trị tính toán lớn hơn 25 - 30% so với công thức Sarkixop.
2.2.2.2 Tính toán nhiệt
Khi vận chuyển trong đường ống, nhiệt độ của chất truyền tải được truyền từ ống
ra môi trường khí quyển nên nhiệt độ chất tải sẽ giảm dần theo khoảng cách.
Với khí, nhiệt độ giảm sẽ dẫn tới sự ngưng tụ các thành phần lỏng hoặc hình
thành các chất ở thể rắn.Việc tính toán nhiệt là xác định sự thay đổi nhiệt độ dọc theo
tuyến ống để xác định vị trí có thể xảy ra hiện tượng độ nhớt chất lỏng vượt quá giới
hạn thiết kế hoặc chất khí bắt đầu ngưng tụ. Từ đó, chúng ta có các giải pháp phù hợp,
chủ yếu là:
- Ngăn cản hoặc giảm thiểu sự truyền nhiệt ra môi trường xung quanh,tức là giải
quyết bài toán về bảo ôn tuyến ống.
- Dùng các giải pháp vật lý và hóa học để hạ thấp hoặc ngăn chặn sự ngưng tụ
chất khí.
Sự hiểu biết về quy luật thay đổi nhiệt độ theo đường ống là cần thiết cho các nhà
thiết kế cũng như vận hành. Viện sỹ Sukhôp là một trong những người đầu tiên nghiên
cứu về quy luật này. Ông đã tiến hành tính toán tổn thất nhiệt cho đường ống dẫn một
pha ở chế độ ổn định cho trường hợp chung nhất. Trên tuyến ống tại khoảng x, ta khảo

27
sát một phân tó dx (hình 2.2) và xác định sự cân bằng nhiệt trong phân tố. Tổn hao
nhiệt của phân tố trong một đơn vị thời gian ra môi trường là:
dq = K(t - t0)πDedx

(2.10)

Trong đó:
t - Nhiệt độ chất lưu trong phân tố, 0C
t0 - Nhiệt độ môi trường, 0C
πDe.dx - bề mặt của phân tố
K - Hệ số truyền nhiệt từ của chất lưu ra môi trường, wat/m2.0C
Hệ số truyền nhiệt K, thực tế khi chế độ chảy ổn định vẫn thay đổi theo chiều dài
nhưng không đáng kể (< 3%) nên có thể xem là hằng số.
Mặt khác, khi chảy qua phân tố dx, nhiệt độ sẽ giảm đi dt0C do vậy tổn hao nhiệt sẽ là:
dq = -G.Cp.dx

(2.11)

Trong đó:
G - Tốc độ khối, KG/sec
Cp - Tỷ lệ dung, Joul/KG.0C
Ở chế độ chảy ổn định, lượng nhiệt mất đi chính là được truyền vào môi trường
nên:
K(t - t0)π.De.dx = -G.Cp.dt

(2.12)

Gộp các giá trị không đổi thành một hằng số chung là: α =

πDe .K
G.Cp

- dt = a(t - t0)dx

(2.13)

Giả sử chiều dài tuyến ống là L, nhiệt độ đầu tuyến là t1 và cuối tuyến là t2
t2

Thay

L

dt
∫t 1 − t 0 = a ∫0 dx
1

t2 = t ⇒

t −t
ln  2 0
t −t
⇒-  1 0

t = t0 + (t1 - t0)e-ax;

Công thức (2.14) được gọi là công thức Sukhop

t2 − t0

= e − aL
=
α
.L
÷
t −t

⇒ 1 0
(2.14)

28

Hình 2.1: Sự thay đổi nhiệt độ, độ nhớt theo chiều dài
Khi xét đoán một cách chi li, ta lưu ý đến tổn hao masat dọc theo tuyến ống sẽ
biến thành nhiệt và nhiệt này bổ sung cho chất lưu.
Do đó viện sỹ Laybenzon về sau đã bổ sung thêm vào công thức Sukhop bằng
một hệ số b:
t = t0 + b + (t1 - t0 - b)c-al

(2.14a)

G.i
ρ.De .K.E
b=
Trong đó:
i - Độ dốc thủy lực trung bình, tổn hao thủy lực trên một đơn vị chiều dài
E - Đương lượng cơ học của nhiệt
∆t = b(1 - eaL)
Ở đầu tuyến ống L = 0, ∆t = 0
Do dòng khí chứa các thành phần nặng, quá trình làm lạnh sẽ có một số khác biệt
từ nhiệt độ đầu ống t 1 đến với vị trí có nhiệt độ kết tinh của các thành phần nặng vẫn
tuân theo quy luật (2.14a). Trong phần đường ống xảy ra kết tinh, tốc độ làm lạnh
chậm lại do được bổ sung nhiệt tách ra từ quá trình kết tinh, do đó ở phần này sự biến
thiên nhiệt độ theo khoảng cách sẽ tuân theo công thức Tremrhink.

t K − t0
C
t = t0 + e

(2.14b)

29

πK.De (x − 1)

ε.X 
G C p +

t K − 1x 

C=
Một số tác giả đề nghị bổ sung vào (2.14) hiệu ứng Joul/Tomsons và chênh lệch
cao trình đường ống.

 P1 − P2 1 − e− ax A.∆Z 
.
.


1
α
Cp .l 

-ax

t = t0 + (t1 - t0)e - Di

(2.15)

Trong đó:
Di - Hệ số Joul/Tomson, kể đến sự giảm nhiệt của khí khi giảm 1 (at) áp suất.
Di = 0,30C
A - Đương lượng nhiệt của công, A = 1/427 KKal Joul
∆% - Chênh lệch cao trình, m
tk - Nhiệt độ kết tinh của các thành phần nặng
l - Khoảng cách từ đầu tuyến (t 1) đến vị trí kết tinh (tk), xác định theo công thức
(2.14).
ε - Số lượng các thành phần nặng tách ra khi tăng nhiệt độ từ tk đến tx.
x - Khoảng cách tính từ đầu tuyến, x > 1
X - Nhiệt ẩn của quá trình kết tinh
Để tính nhiệt độ dòng chảy tại điểm bất kỳ trong đường ống vận chuyển.

Hình 2.2: Đoạn ống tính toán nhiệt dòng chảy.
TL = TS + (T1 - TS)exp(-L/A)
Trong đó:
TS - Nhiệt độ môi trường xung quanh
T1 - Nhiệt độ tại điểm vào (L = 0)
TL - Nhiệt độ tại vị trí L
L - Khoảng cách nơi tính so với điểm đầu chất khí vào

(2.16)

30
A - Khoảng cách hồi phục nhiệt
WC p

A=

πdU

(2.17a)

Hoặc một phương trình thực nghiệm khác của Shiu và Bégg;
C 5 C6
C2 C3 C 4
A = C1 W .p ld (API) γ g

(2.17b)

Trong đó:
Cp - hệ số áp nén đẳng áp
C1 = 0.0149

C2 = 0.5253

C3 = 22.9303

C4 = 0.2904

C5 = 0.2608

C6 = 4.4146

W - Tổng lưu lượng khối lượng
ρL - Khối lượng riêng pha lỏng tại điều kiện tiêu chuẩn, 1bm/ft3
γg - Tỷ trọng khi (γair = 1)
D - Đường kính trong của ống
U - Hệ số truyền nhiệt
Phương trình sai số khoảng 5%
Thực tế, một đường ống có bảo ôn thường bao gồm các lớp: ống thép, lớp chống
ăn mòn, lớp cách nhiệt và lớp bảo vệ. Bài toán nhiệt phải tính toán chi tiết: Truyền từ
đầu ống và từ ống lần lượt qua các lớp được đặc trưng bởi hệ số truyền nhiệt K i và bề
dày khác nhau.
2.2.2.3 Nhiệm vụ tính toán thuỷ lực
Nhiệm vụ tính toán thuỷ lực chiếm khối lượng lớn khi thiết kế các tuyến ống mới
cũng như khi kiểm tra, sửa chữa các tuyến ống sẵn có cho phù hợp với yêu cầu cụ thể.
Nhiệm vụ của tính toán là phải xác định một trong các thông số: khả năng vận chuyển
Q, áp suất đầu hoặc cuối tuyến ống P, đường kính D hoặc cả hai thông số P và D. Quan
hệ giữa P và Q, P = f(Q) được coi là đặc tính của tuyến ống. Các kết quả tính toán phụ
thuộc vào sơ đồ thuỷ lực, tính chất vật lý của chất được chuyển tải.
Căn cứ vào sơ đồ thuỷ lực, người ta phân chia ra ống đơn giản chỉ bao gồm một
cấp đường kính và không phân nhánh, còn ống phức tạp là tuyến có đường kính thay
đổi hoặc phân nhánh. Loại ống đơn giản lại được chia ra ống dài và ống ngắn. Nguyên
tắc phân chia là căn vào tỷ lệ giữa tổn hao cục bộ và tổn hao theo chiều dài. Thông
thường khi tổn hao cục bộ bé hơn 10% tổn hao dọc đường thì được xem là dài và
ngược lại. Một tuyến ống phức tạp có thể được phân ra nhiều đoạn đơn giản cho nên
việc tính toán cho ống đơn giản là cơ bản.

31
Căn cứ vào tính chất chất lưu, người ta chia ra:
- Chất lỏng một pha (Newton, phi Newton).
- Chất khí một pha.
- Hỗn hợp dầu – khí.
- Nhũ tương nước – dầu.
2.3 Công tác xây lắp tuyến ống trên biển
2.3.1 Phương pháp thi công
Tuyến ống dẫn dầu MSP6 đến MSP4 mỏ Bạch Hổ hoàn toàn trên biển. Do vây
lắp đặt đường ống ngoài biển đồng thời với đào hào chôn ống. Việc chôn ống xuống
đáy biển là một trong những vấn đề cơ bản trong quá trình xây dựng đường ống dưới
đáy biển. Thực tế cho thấy những đường ống đã được chôn dưới đáy biển ở độ sâu
nhất định không bị nguy hiểm vì hư hỏng do neo tàu, do thả lưới sát đáy, cũng như tác
động của sóng và dòng chảy. Ngoài ra việc chôn ống còn làm hạn chế sự dịch chuyển
dọc của đường ống khi có chênh lệch nhiệt độ thành ống và áp suất của sản phẩm được
bơm, giảm tác động lực lên đoạn ống cong nối giữa ống đứng của giàn cố định và
đường ống. Việc chôn ống có thể thực hiện bằng các phương pháp sau đây:
- Đào hào, đặt ống xuống đáy và lấp hào lại.
- Đặt ống xuống đáy biển, chôn ống bằng tàu chôn ống và lấp lại.
- Đồng thời vừa đào hào vừa đặt ống và lấp hào.
Khi đào hào bằng tàu cuốc đòi hỏi phải đào một khối lượng đất đá thừa so với
khối lượng cần thiết để chôn ống, đôi khi lớn gấp 10 lần.
Công nghệ phổ biến nhất là phương pháp chôn ống bằng thiết bị đào hào kiểu
cày đất. Thiết bị này đảm bảo năng suất chôn ống cao và ít tác động lên môi trường
xung quanh, đào hào hẹp trong những điều kiện đất đá khác nhau. Ta tìm hiểu những
phương pháp kỹ thuật mới về rải ống ngầm với việc đồng thời chôn ống xuống đáy
biển bằng thiết bị cày đất áp dụng cho các phương pháp lắp đặt ống khác nhau.
Khi lắp đặt đường ống bằng tàu đặt ống, thiết bị cày đất được kéo trực tiếp bằng
tàu đặt ống. Lực kéo cần thiết để kéo đường ống và thiết bị cày đất được tạo ra bằng
tời neo của tàu đặt ống và tàu kéo vận chuyển. Trên hình 2.3 chỉ ra sơ đồ rải ống bằng
tàu đặt ống đồng thời với việc đào hào bằng thiết bị cày đất. Nếu đường ống có lớp
bọc bảo vệ bằng bê tông liên tục, thì có thể nằm trực tiếp lên các gối đỡ bằng con lăn
của thiết bị cày. Trong trường hợp này đường ống sẽ hạn chế sự di chuyển lệch của
thiết bị cày so với hướng thẳng của tuyến ống và thiết bị cày sẽ thả ống xuống hào.
Nếu đường ống không bọc bê tông để ngăn ngừa sự hư hỏng lớp bọc chống ăn mòn,

32
đường ống cần phải được nằm trên thiết bị cày, tuy nhiên chiều dài cáp kéo từ tàu đến
thiết bị cày không thể giảm được vì sẽ xuất hiện thành phần lực kéo thẳng đứng tác
dụng lên thiết bị cày. Trong trường hợp đó cần phải tính toán để tăng chiều dài đoạn
ống treo bằng cách tăng lực kéo hoặc buộc phao.

Hình 2.3: Sơ đồ lắp đặt đường ống dưới biển bằng phương pháp dùng tàu đặt ống
đồng thời với việc sử dụng thiết bị đào hào kiểu cày đất.
1 - Tàu đặt ống

2 - Đường ống

5 - Thiết bị đào hào kiểu cày đất

3 - Cáp kéo

6 - Hào chôn ống

4 - Đáy biển
7 - Bờ đất.

Phương pháp gia cố cáp kéo thiết bị cày với tàu đặt ống có ảnh hưởng đến việc
thực hiện các thao tác tiếp theo liên quan đến việc dừng và tiếp tục công việc đặt ống
trong trường hợp điều kiện thời tiết không thuận lợi và kết thúc quá trình xây dựng
đường ống. Khi nối cáp thẳng đứng từ thiết bị cày tới tàu, cáp kéo phải gồm một vài
đoạn dây nối với nhau bằng má kẹp để có thể tháo thiết bị cày ra và cẩu lên tàu.
Phương pháp tốt nhất là liên kết cáp kéo qua một block đặt trên thiết bị cày. Một
đầu cáp cố định trên tàu, còn đầu kia đưa qua block trên thiết bị cày và nối với tời kéo.
Trong trường hợp này có thể thay đổi chiều dài cáp kéo, đơn giản hóa quá trình nâng
lên và hạ thiết bị cày xuống, giảm hai lần lực kéo thiết bị đào hào và chia thời gian
thao tác lần lượt ra thành kéo ống và kéo thiết bị đào hào, nghĩa là kéo thiết bị đào hào
trong khi thực hiện các công việc hàn - lắp ráp, lúc đó tàu đặt ống đứng tại chỗ. Tuy
nhiên trong trường hợp này cần có thêm một tời kéo vì tời của đường rải ống duy trì
việc kéo ống. Trước khi tiến hành công việc, đặt thiết bị đào hào lên sàn tàu đặt ống,
điều chỉnh vị trí các tấm trượt của gối đỡ phía trước để xác định độ sâu đào hào và rải
cáp kéo. Dùng cần cẩu của tàu đặt ống thả thiết bị đào hào xuống đáy biển khi điều
kiện thời tiết thuận lợi. Đặc biệt lưu ý khi kiểm tra vị trí của thiết bị đào hào (thiết bị

33
đào hào phải dựa trên các tấm trượt phía trước và trục của nó phải song song với tuyến
ống), việc thả cáp kéo vào giai đoạn đầu đào hào. Việc kiểm tra này do thợ lặn thực
hiện hoặc dùng thiết bị dưới nước. Tàu đặt ống dịch chuyển đồng thời với việc đào hào
và đặt ống xuống đáy hào. Có thể dùng máy đo độ sâu để kiểm tra việc đào hào và vị
trí đường ống trong hào. Để làm việc này, tàu cùng với máy đo độ sâu dịch chuyển
vuông góc với trục hào và ghi lại trong máy mặt cắt ngang hào, vị trí đất lở và vị trí
đường ống trong hào có thể dùng thiết bị dưới nước và ghi lại kết quả vào băng video.
Việc lắp đặt ống đồng thời chôn ống xuống đáy biển có thể được thực hiện bằng
phương pháp kéo ống theo đáy biển, sát đáy hoặc trong dạng ống cong đàn hồi. Trong
trường hợp này thiết bị đào hào được đặt trước đầu ống được kéo. Việc kéo những
đoạn ống dài đồng thời chôn ống xuống đáy biển có thể áp dụng để xây dựng các
tuyến đường ống chính, cũng như các đường ống nối giữa các giàn trong nội bộ mỏ.
Sơ đồ kéo ống đồng thời với việc đào hào bằng thiết bị kiểu cày được biểu diễn trên
(hình 3.4)

Hình 2.4: Sơ đồ lắp đặt đường ống dưới biển bằng phương pháp kéo ống đồng thời
với việc sử dụng thiết bị đào hào kiểu cày đất
1 - Tàu kéo 2 - Cáp kéo
5 - Cáp kéo

3 - Đáy biển

6 - Hào chôn ống

4 - Thiết bị đào hào kiểu cày đất
7 - Đường ống

8 - Bờ đất.

2.3.2 Các công đoạn thi công rải ống
Việc rải ống ngầm được thực hiện bằng tàu Nam Côn Sơn, các công đoạn chính
trên tàu rải ống bao gồm:
- Bước 1: Chuẩn bị mép vát
Mép vát đã được nhà sản xuất ống vát theo tiêu chuẩn, thường vát chữ V, góc vát
30 . Công việc chuẩn bị bao gồm mài sạch mép vát, sửa chữa những chỗ bị bóp méo
0