Tải bản đầy đủ
2 Sơ đồ nghiền phân cấp

2 Sơ đồ nghiền phân cấp

Tải bản đầy đủ

cho thấy nếu nghiền đến 65% cấp -0,074mm sẽ thu được chất lượng quặng tinh đạt
yêu cầu ≥ 31,5% P2O5 nhưng tỷ lệ thu hồi 60%.
Theo tài liệu thí nghiệm của Việt Nam cho thấy nghiền đến 90% cấp -0,074mm
thì tỷ lệ thu hồi đạt mức tối đa 60-70% mà vẫn đảm bảo chất lượng quặng tinh.
Qua các tài liệu khảo sát, và qua thực tế của nhà máy đang hoạt động, căn cứ vào
đặc tính quặng nguyên khai ta chọn nghiền quặng đến 0,1mm tương ứng độ mịn
nghiền 90% cấp -0,074mm.
3.2.2 Chọn giai đoạn nghiền
Khi nghiền ta có thể chọn 1 hoặc 2 hay nhiều giai đoạn. Thông thường hay sử
dụng 1 hoặc 2 giai đoạn nghiền
* Nghiền một giai đoạn có ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ It máy phân cấp do đó chi phí mua máy giảm, diện tích nhà xưởng giảm
+ Điều chỉnh và khắc phục khâu nghiền đơn giản
+ Bố trí máy đơn giản, vì không có vận chuyển từ giai đoạn I sang giai đoạn II
+ Có thể đặt tất cả các máy nghiền vào một dãy trên cùng một độ cao
+ Có thể đặt tất cả các máy lớn làm việc với hệ số tính cao
- Nhược điểm:
+ Hiệu suất nghiền thấp
+ Khó nhận được bùn tràn của máy phân cấp có độ mịn nghiền cao
+ Không thể thực hiện tuyển giai đoạn
Vì những lý do trên ta thấy nghiền một giai đoạn được dùng khi không nghiền
mịn hơn 55-65% cấp -0,074mm. Muốn nghiền mịn hơn thì phải dùng sơ đồ nghiền 2
giai đoạn
* Ưu nhược điểm của nghiền 2 giai đoạn
+ Tác dụng của bi nghiền tốt hơn
+ Tránh hiện tượng quá nghiền
+ Năng suất nghiền tăng, chi phí năng lượng giảm
Theo thực tế để đạt được độ mịn nghiền 90% cấp -0,074mm thì thường chọn
nghiền 2 giai đoạn. Nhưng đối tượng quặng đang xét thuộc loại cứng trung bình, chứa
nhiều mùn sét, dễ tạo slam thứ sinh. Để giảm hiện tượng tạo slam thứ sinh trong quá
trình nghiền ta chọn sơ đồ nghiền 1 giai đoạn với 2 lần phân cấp kiểm tra, phân cấp
thứ hai dùng xyclon để bùn tràn đạt 90% cấp -0,074 mm
3.2.3 Phân cấp
Vì quặng đưa vào nghiền có hàm lượng mùn và sét tương đối cao nên phải dùng

phân cấp sơ bộ và sau khi nghiền có phân cấp kiểm tra dể tránh hiện tượng quá nghiền,
đảm bảo cho bi nghiền làm việc tốt.
Quặng tạo nhiều slam trong quá trình nghiền sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình
tuyển nổi nên cần phải khử slam. Ta sử dụng hệ thống xyclon cô đặc và bể cô đặc
để khử slam.
có sơ đồ nghiền phân cấp
13
PHÂN CẤP RUỘT XOẮN
15
16

14

18

17
PHÂN CẤP RUỘT XOẮN
19

20

21
XICLON PHÂN CẤP
23
22
BỂ CÔ ĐẶC
24
slam

25

3.3 Chọn sơ đồ tuyển nổi.
Sơ đồ tuyển nổi có nhiều dạng đơn giản hay phức tạp đối với mỗi loại quặng
cụ thể sẽ có một sơ đồ tuyển riêng. Để lựa chọn sơ đồ tuyển nổi thường dựa trên các
công trình nghiên cứu thí nghiệm lâu dài để quyết định.
3.3.1 . Các yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn sơ đồ tuyển và sự khác nhau
giữa chúng.
- Thành phần hóa học của quặng, tính chất của quặng, thành phần khoáng vật,
dạng xâm nhiễm khoáng vật trong quặng
- Tính khả tuyển của khoáng vật có ích
- Hàm lượng khoáng vật có ích trong quặng đầu và yêu cầu chất lượng đối với
quặng tinh.
Các sơ đồ tuyển nổi chủ yếu khác nhau ở những điểm sau:
- Số giai đoạn tuyển
- Số lượng chu trình tuyển
- Mục đích của tổng giai đoạn
- Điểm vòng lại của sản phẩm trung gian
3.3.2 . Một số nguyên tắc chung để chọn cấu tạo sơ đồ tuyển:
- Khoáng vật có ích xâm nhiễm không đều đặn, dễ slam hóa khi nghiền thì
càng có cơ sở chắc chắn để dùng sơ đồ tuyển nhiều giai đoạn
- Quặng tinh cuối cùng phải đạt chất lượng yêu cầu
- Đất đá thải và khoáng vật có hại loại ra khỏi chu trình càng sớm càng tốt
để tránh quá nghiền gây tốn năng lượng
- Số giai đoạn tuyển phụ thuộc vào đặc điểm xâm nhiễm của khoáng vật có
ích và mức độ slam của nó
- Điểm quay lại của sản phẩm trung gian phù hợp với chất lượng quặng trung
gian để tránh làm ảnh hưởng toàn khâu
3.3.3 Chọn sơ đồ tuyển
a. Chọn giai đoạn tuyển
Quặng Apatit Lào Cai cung cấp cho nhà máy tuyển nổi là quặng vụn và quặng
khối, chủ yếu là Apatit xâm nhiễm mịn trong đá phiến thạch anh. Do vậy với quặng
này ta chọn 1 giai đoạn
b. Số vòng tuyển
Quặng Apatit Lào Cai đưa vào tuyển lấy ra một khoáng vật duy nhất là P2O5.
Các khoáng vật đi kèm theo không cần thiết, nên ta chỉ cần chọn một vòng tuyển
c. Chọn số khâu tuyển

+Trong mỗi vòng tuyển chỉ có một khâu tuyển chính
+ Khâu tuyển tinh: Quặng thuộc loại khó tuyển α = 14% P2O5, yêu cầu quặng
tinh đạt hàm lượng 31,5%. Do đó để đảm bảo chỉ tiêu chất lượng quặng tinh ta chọn 3
khâu tuyển tinh.
+ Khâu tuyển vét: để đảm bảo về chỉ tiêu thực thu ta chọn 2 khâu tuyển vét Như
vậy ta quyết định số khâu tuyển như sau: 1 khâu tuyển chính, 3 khâu tuyển tinh, 2
khâu tuyển vét.
d. Chọn điểm quay lại của sản phẩm trung gian
Có 3 phương án xử lý sản phẩm trung gian :
+ Phương án 1: Sản phẩm trung gian được nghiền lại rồi cấp lại tuyển chính. Vì
quặng dễ tạo slam thứ sinh trong quá trình nghiền nên ảnh hưởng xấu đến tuyển nổi.
+ Phương án 2: Sản phẩm trung gian quay lại khâu trước đó. Vì sản phẩm trung
gian thường chứa nhiều nước, nhiều mùn, nhiều kết hạch…khi quay lại khâu trước đó
sẽ làm rối loạn quá trình công nghệ và làm giảm thực thu của khoáng vật có ích
+ Phương án 3: Sản phẩm trung gian được đưa lại khâu tuyển chính.
Ta thấy hàm lượng chất có ích trong sản phẩm trung gian gần bằng với hàm lượng
chất có ích trong khâu tuyển chính. Mà yêu cầu cao đối với chất lượng quặng tinh,
khoáng vật có ích có tính nổi tốt. Chính vì lẽ đó ta chọn phương án 3.
thùng khuấy I,II
25'
Tuyển chính
26

27'
Tuyển vét

Tuyển tinh 1
28

34

27

29

36
35
Tuyển vét 2

Tuyển tinh 2
30
31
Tuyển tinh 3
32

37
38

33