Tải bản đầy đủ
1 Giới thiệu chung về xưởng thực tế

1 Giới thiệu chung về xưởng thực tế

Tải bản đầy đủ

Tháng 5 năm 1955, Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên
Xô, 1 đoàn chuyên gia Liên Xô cùng với các cán bộ Việt Nam đã lên Mỏ và tiến
hành khảo sát Mỏ. Đến tháng 9 năm 1955, Nhà nước bổ nhiệm đồng chí Nguyễn
Văn Lang làm Giám đốc Mỏ, đồng chí Trần Ngọc Lạt làm Phó giám đốc Mỏ. Cán
bộ công nhân và chuyên gia lúc đó có hơn 80 người ở chung một dãy nhà tạm ở
đầu làng Hẻo, điều kiện ăn ở ban đầu rất thiếu thốn, gian khổ. Cùng thời kỳ này,
Chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập gồm 7 Đảng viên do đồng chí Nguyễn Văn
Lang làm Bí thư, Mỏ bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1956. Ngay trong năm đầu,
Mỏ đã khai thác được 23.000 tấn quặng loại 1, chủ yếu khai thác bằng thủ công và
phương tiện thô sơ. Việc tiêu thụ quặng bằng ô tô đến Làng Giàng phải chuyển tải
bằng phà cáp qua sông Hồng, sau đó mới đưa lên toa tàu hỏa vận chuyển về xuôi.
Mỏ được phát hiện vào khoảng năm 1940-1941 do thực dân Pháp nghiên cứu và
thăm dò địa chất. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 thì mỏ mới bắt đầu
chính thức được nghiên cứu và khai thác dưới sự giúp đỡ của Liên Xô cũ. Trong
những năm 1956-1958 chủ yếu khai thác mỏ bằng phương pháp thủ công, nửa cơ
giới. Đến năm 1957 thì công tác xây dựng mỏ mới được tiến hành một cách khẩn
trương, năm 1959 thì các thiết bị máy móc và các công trình mới được tiến hành
đưa vào sử dụng.
Thời gian đầu chủ yếu là khai thác quặng loại I, còn quặng loại II ít được khai
thác, quặng loại III được đổ về các kho gọi là bãi quặng III nằm rải rác trong toàn
khu vực mỏ. Với phương pháp khai thác như trên nó dẫn đến tình trạng quặng loại
I thì hết và quặng loại III thì còn rất nhiều
Chi Nhánh Bắc Nhạc Sơn
Năm 1976 để phục vụ cho việc thiết kế và xây dựng nhà máy tuyển, thì toàn bộ
bãi quặng loại III và các vỉa quặng III chưa khai thác được thăm dò lại với trữ
lượng 93 triệu tấn
Dự án Nhà máy tuyển quặng apatit Bắc Nhạc Sơn (Lào Cai), công suất 350.000
tấn/năm đã chạy thử liên tục 72 giờ đồng bộ thông suốt ổn định, đảm bảo các điều
kiện để chính thức hoạt động
Đại diện chủ đầu tư là ông Nguyễn Quốc Lượng, Phó Tổng Giám đốc Công ty
Apatit Việt Nam cho biết Dự án tuyển quặng apatit III Bắc Nhạc Sơn nằm trong tổ
7
SV:ĐÀM VĂN TRỌNG
GVHD:GVC.THS.NGUYỄN NGỌC PHÚ

hợp apatit khu Bắc Nhạc Sơn (xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai) có tổng mức
đầu tư khoảng 650 tỷ đồng, là nhà máy tuyển nổi đầu tiên được các chuyên gia
trong nước thiết kế đồng bộ và được đầu tư đồng bộ gồm khai trường, nhà máy
tuyển, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đường ôtô, hệ thống cung cấp điện.
Nhà máy được thiết kế xây dựng với thiết bị công nghệ được cải tiến theo hướng
nâng cao thực thu và tiết kiệm năng lượng, khi đi vào hoạt động sẽ nâng hàm
lượng ôxit phôtpho (P2O5) từ 20% trong quặng apatit loại III lên trên 32%, đạt tiêu
chuẩn quặng apatit loại I để cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản
xuất phân bón hóa chất, phân DAP trong nước.
Ông Lượng cũng cho biết hiện nay, Công ty Apatit Việt Nam đang triển khai tính
toán thiết kế mở rộng nâng công suất Nhà máy tuyển quặng apatit Bắc Nhạc Sơn
lên 700.000 tấn/năm theo Quyết định số 550/QĐ-TTg ngày 11/5/2012 của Thủ
tướng Chính phủ.
Để phát huy tổ hợp apatit khu Bắc Nhạc Sơn, tránh lãng phí các công trình đầu tư
hàng nghìn tỷ đồng, Công ty Apatit Việt Nam đang đề nghị Thủ tướng Chính phủ
và lãnh đạo các bộ, ngành, tỉnh Lào Cai cho phép công ty được tiến hành thăm dò,
khai thác quặng apatit tại các khai trường từ 18-29 khu Bắc Nhạc Sơn, trước mắt là
thăm dò khu Làng Quang Bản Lợi (gồm khai trường 25, 26) và khai thác khai
trường 18, 19 theo tiến độ được đề cập trong quy hoạch 2008 đã được Bộ Công
Thương thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo Cục trưởng Cục Hóa chất Bộ Công Thương Phùng Hà, hiện nguồn quặng
apatit loại I đang ngày càng khan hiếm dần, nên khó lòng đáp ứng được nhu cầu
nguyên liệu ngày một tăng cao cho sản xuất phân bón hàm lượng cao, nhất là khi
Nhà máy DAP số 1 Đình Vũ đã đi vào hoạt động thương mại, Nhà máy DAP số 2
Lào Cai cũng đang được triển khai đầu tư xây dựng.
Trong khi đó, quặng apatit loại III lại được sử dụng rất ít vì có hàm lượng P2O5
thấp, không thể sử dụng ngay làm nguyên liệu cho hầu hết các nhà máy sản xuất
phân bón tại Việt Nam. Vì vậy, Dự án Bắc Nhạc Sơn đi vào hoạt động không chỉ
8
SV:ĐÀM VĂN TRỌNG
GVHD:GVC.THS.NGUYỄN NGỌC PHÚ

giúp tăng năng lực cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất, mà còn góp phần khai
thác và sử dụng đồng bộ, hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam.
2.2 Khái quát về mỏ Apatit Lào Cai
Khoáng vật apatit được thành tạo trong các loại hình nguồn gốc macma và trầm
tích biển, ở Việt Nam chủ yếu là quặng trầm tích biển biến chất.
Công thức: Ca5(F,Cl) [PO4]3
Loại Flo Apatit: CaO = 55,50%, P2O5 = 42,30%, F = 3,8%
Loại Clorit Apatit: CaO = 53,8%, P2O5 = 41%, Cl = 2,6%
Trong thành phần thường lẫn nhiều tạp chất: Fe, Mg, Al, các nguyên tố xạ và đất
hiếm: Th, Sr, TR…
Mỏ Apatit Lào Cai nằm ở hữu ngạn sông Hồng với chiều dài khoảng 100 km từ
Lũng Pô - Bát Xát đến Bảo Hà thụôc tỉnh Lào Cai, với chiều rộng từ 1 đến 4 km,
được chia thành 3 phần vùng chính là:
1. Phần vùng Bát Xát - Ngòi Bo: Là trung tâm của khoáng sàng Apatit Lào Cai,
có chiều dài 33,5 km. Là vùng có trữ lượng quặng lớn và ổn định nhất
2. Phần vùng Ngòi Bo - Bảo Hà : Số liệu thăm dò chưa đầy đủ để xác định trữ
lượng tài nguyên.
3. Phần vùng Bát Xát - Lũng Pô: Chưa thực hiện thăm dò địa chất để xác định
trữ lượng tài nguyên.
Mỏ Apatit Lào Cai được phát hiện từ năm 1924 và khai thác từ năm 1940.
Số lượng quặng Apatit được khai thác (Chủ yếu từ năm 1956 đến năm 2005) là:
- Quặng Apatit loại I: 1,4 triệu tấn
- Quặng Apatit loại II: 3 triệu tấn
- Quặng Apatit loại III: Khoảng 40 triệu tấn.
- Quặng Apatit tuyển: 2,5 triệu tấn.
9
SV:ĐÀM VĂN TRỌNG
GVHD:GVC.THS.NGUYỄN NGỌC PHÚ

Và nhiều loại sản phẩm khác như: Phân bón NPK; vật liệu xây dựng; Quặng
Fenspat, cao lin...
Trữ lượng quặng tới khu trung tâm theo số liệu thăm dò địa chất (Số liệu thăm dò
chưa đầy đủ ) là khoảng 800 triệu tấn gồm:
- Quặng Apatit loại I : 34 triệu tấn.
- Quặng Apatit loại II: 236 triệu tấn.
- Quặng Apatit loại III: 230 triệu tấn
- Quặng Apatit loại IV: 291 triệu tấn
2.3. Tình hình địa chất khu mỏ
Khu vực mỏ chịu ảnh hưởng của sụt lún phong hóa, các vỉa quặng Apatit thuộc
điệp Kocxan, độ phong hóa ở từng vùng có tính đặc trưng khác nhau. Tầng phong
hòa thay đổi độ cao từ 0-150 m .Căn cứ vào đặc điểm người ta chia toàn bộ khu mỏ
apatit Lào Cai thành 8 tầng, ký hiệu từ dưới lên trên (theo mặt cắt địa chất) là tầng
Kocxan (KS) KS1, KS2,... KS7, KS8. Trong đó, quặng apatit nằm ở các tầng KS4,
KS5, KS6 và KS7. Trong từng tầng lại được chia thành các đới phong hóa hóa học
và phong hóa chưa hóa học.
Tầng KS4 (còn gọi là tầng dưới quặng) là tầng nham thạch apatit cacbonat –
thạch anh - muscovit có chứa cacbon. Nham thạch của tầng này thường có màu
xám sẫm, hàm lượng chất chứa cacbon tương đối cao, khoáng vật chứa cacbonat là
đôlômit và canxit trong đó đôlômit nhiều hơn canxit. Tầng này gồm hai phiến
thạch chính là đôlômit - apatit – thạch anh và apatit – thạch anh - đôlômit, chứa
khoảng 35-40% apatit, các dạng trên đều chứa một lượng cacbon nhất định và các
hạt pyrit phân tán xen kẽ nhau, chiều dày của tầng này từ 35-40 m.
Tầng KS5 (còn gọi là tầng trên quặng): Đây là tầng apatit cacbonat. Nham thạch
apatit cacbonat nằm trên lớp phiến thạch dưới quặng và tạo thành tầng chứa quặng
chủ yếu trong khu vực bể photphorit. Nằm dọc theo trung tâm khu mỏ Lào Cai từ
Đụng Nam lên Tây Bắc chạy dài 25 km. Quặng apatit hầu như đều thuộc khoảng
tầng phong hóa của tầng quặng (KS5) có hàm lượng P2O5 từ 28-40% gọi là quặng
10
SV:ĐÀM VĂN TRỌNG
GVHD:GVC.THS.NGUYỄN NGỌC PHÚ