Tải bản đầy đủ
2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG & HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG & HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ

13

+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm trở xuống.
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm trở lên.
+ Căn cứ vào đối tượng tín dụng:
Tín dụng vốn lƣu động: Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lƣu động của đối tƣợng
đi vay.
Tín dụng vốn cố định: Nhằm đáp ứng nhu cầu để hình thành tài sản cố định
của đối tƣợng đi vay.

+ Căn cứ vào mục đích tín dụng:
Tín dụng cho sản xuất kinh doanh
Tín dụng ch tiêu dùng tiêu dùng.
- Căn cứ vào chủ thể quan hệ tín dụng:
Tín dụng thƣơng mại: Phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những
ngƣời sản xuất kinh doanh đƣợc thể hiện dƣới hình thức mua bán chịu hàng hoá.
Tín dụng nhà nƣớc: Phản ánh mối quan hệ tín dụng giữa Nhà nƣớc với dân
cƣ và các chủ thể kinh tế khác. Trong đó Nhà nƣớc là ngƣời đi vay đồng thời là
ngƣời cho vay để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong
quản lý kinh tế xã hội.
Tín dụng ngân hàng: Phản ánh quan hệ vay mƣợn vốn tiền tệ giữa các ngân
hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế.
- Căn cứ vào mức độ an toàn:
Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Tín dụng có đảm bảo có mức độ an toàn cao hơn, trong trƣờng hợp ngƣời đi
vay không trả đƣợc nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Tín dụng không có đảm bảo ( Tín chấp ).
Tín dụng không có đảm bảo có mức độ rủi ro cao hơn, trong trƣờng hợp
ngƣời đi vay không có khả năng trả nợ.

14

1.2.1.2 Tín dụng Ngân hàng:
- Khái niệm về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp,
tổ chức kinh tế , các tổ chức và cá nhân đƣợc thực hiện dƣới hình thức ngân hàng
đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay ( cấp tín dụng ) đối với các đối tƣợng
nói trên.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ
thống ngân hàng. Khác với tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng là hình thức
tín dụng chuyên nghiệp, họat động của nó hết sức đa dạng và phong phú.
- Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
+ Đối tƣợng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy
động vốn và cho vay bằng tiền.
+ Trong tín dụng ngân hàng, các chủ thể của nó đƣợc xác định một cách rõ
ràng, trong đó ngân hàng vừa là ngƣời huy động vốn vừa là ngƣời cho vay, còn
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cá nhân vừa là ngƣời gửi vốn vào ngân hàng
vừa là ngƣời đi vay.
+ Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất Sản xuất kinh doanh gắn
với họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng,
không gắn với họat động Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì vậy quá
trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hòan tòan phù hợp với
quá trình phát triển của sản xuất và lƣu thông hàng hóa.
- Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Nói đến vai trò của tín dụng ngân hàng, là nói đến sự tác động của tín dụng
ngân hàng đối với nền kinh tế - xã hội. Vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện
qua các nội dung nhƣ sau:
Một là: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa
phát triển.

15

Tín dụng ngân hàng trƣớc hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế, nhờ đƣợc cung vốn mà các doanh nghiệp có điều kiện để phát
triển sản xuất kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng nhất để tập trung
vốn một cách hữu hiệu cho nền kinh tế, nhờ đó có thể đáp ứng nhu cầu vốn đầu tƣ
trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, từ đó làm gia tăng năng lực sản xuất
của nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng vừa là công cụ tập trung vốn cho toàn bộ nền kinh tế mà
còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Có thể nói trong mọi hình thái của nền kinh tế - xã hội, tín dụng ngân hàng đều
phát huy vai trò rất to lớn.
+ Đối với doanh nghiệp, tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm vốn cố
định, vốn lƣu động, vốn thanh toán.
+ Đối với dân chúng, tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ.
+ Đối với tòan xã hội, tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tạo ra động
lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế
đƣợc.
+ Tín dụng ngân hàng có thể mở rộng cho mọi đối tƣợng trong xã hội; nó có
thể xâm nhập vào các ngành, với nhiều lọai hình và quy mô họat động lớn, vừa và
nhỏ; không những xâm nhập vào lĩnh vực Sản xuất kinh doanh mà còn xâm nhập
vào nhiều lĩnh vực nhƣ dịch vụ, đời sống. Vì vậy có thể khẳng định vai trò to lớn
của Tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội.
+ Tín dụng ngân hàng không bị giới hạn về quy mô, có nghĩa là Tín dụng ngân
hàng có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế với số lƣợng rất lớn, với nhiều thời hạn
khác nhau, nhờ đó giúp các doanh nghiệp không những có vốn kinh doanh, mà
còn có vốn để mở rộng đầu tƣ, đổi mới thiết bị, nhằm nâng cao năng lực sản xuất,
nhƣ vậy Tín dụng ngân hàng có tác dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh
tế.

16

Hai là: Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định thị trường giá
cả.
Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại vốn tiền
tệ, tín dụng ngân hàng đã góp phần làm giảm khối lƣợng tiền lƣu hành trong nền
kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cƣ, làm giảm áp lực lạm
phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng
cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hòan thành kế họach sản xuất
kinh doanh… làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch vụ
làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính
nhờ đó mà tín dụng góp phần làm ổn định thị trƣờng giá cả trong nƣớc…
Họat động của Tín dụng ngân hàng còn có tác dụng và ảnh hƣởng lớn đến
tình hình lƣu thông tiền tệ của đất nƣớc. Nhờ họat động của tín dụng ngân hàng
mà vốn tiền tệ của xã hội đƣợc huy động và sử dụng tối đa cho nhu cầu phát triển
kinh tế; nó vừa có tác dụng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, vừa làm cho các
chu chuyển tiền tệ đƣợc tập trung phần lớn qua hệ thống ngân hàng. Đó là những
điều kiện quan trọng để ổn định lƣu thông tiền tệ, ổn định giá cả thị trƣờng
Ba là: Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và
ổn định trật tự xã hội.
Một mặt, do tín dụng ngân hàng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống
của ngƣời lao động, mặt khác, do vốn tín dụng ngân hàng đƣợc cung ứng đã tạo ra
khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội và tài nguyên
thiên nhiên, về lao động, đất đai, rừng…thu hút nhiều lực lƣợng lao động, để tạo
ra lực lƣợng sản xuất để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống đƣợc ổn định ai cũng có công ăn
việc làm…là tiền đề quan trọng ổn định trật tự xã hội.
Bốn là: Tín dụng ngân hàng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế.
Có thể nói tín dụng ngân hàng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát
triển các mối quan hệ kinh tế đối ngọai và mở rộng giao lƣu quốc tế. Sự phát triển

17

của tín dụng ngân hàng không những ở trong phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra
cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế
đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu của nhau trong quá trình phát
triển đi lên của mỗi nƣớc, làm cho các nƣớc có điều kiện xích lại gần nhau hơn và
cùng nhau phát triển.
Cần lƣu ý là, bên cạnh những tác động tích cực và có lợi cho nền kinh tế xã
hội, tín dụng ngân hàng cũng có những mặt trái của nó, cần chủ động nhận diện để
có biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả:
+ Tín dụng ngân hàng nếu phát triển với tốc độ quá cao và không đƣợc kiểm
sóat chặt chẽ theo khuôn khổ pháp lý thì có thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ từ qui mô và phạm vi hẹp đến qui mô lớn trên phạm vi rộng gây
hậu quả nặng nề cho nền kinh tế xã hội.
+ Với sự phát triển của tín dụng ngân hàng, theo hƣớng tập trung cho những
nhóm khách hàng, những ngành nghề có tính độc quyền hoặc cạnh tranh cao ,dẫn
đến sự tập trung và sự phá sản, từ đó có thể làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
trong xã hội
- Phân loại tín dụng ngân hàng:
+ Phân loại theo phương thức cho vay:
Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và
TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà TCTD và khách hàng xác
định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn
bản chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của
khách hàng.
+ Phân lọai theo thời gian:

18

Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng do NH thực hiện cho khách hàng có
thời hạn đến 12 tháng, để bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động cho các doanh nghiệp, các
nhu cầu chi tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là lọai tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm.
Đây là các khoản cho vay trung hạn của NHTM để ngƣời đi vay sử dụng vốn cho
đầu tƣ trung hạn. Ngƣời đi vay đƣợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến
hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh theo dự án đầu tƣ
đã trình cho ngân hàng
Tín dụng dài hạn: Là lọai tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Đây là khoản cho
vay dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tƣ dài hạn của doanh nghiệp, của các
tổ chức kinh tế, trong việc mua sắm tài sản cố định, xây dựng lắp đặt máy móc
thiết bị, dây chuyền sản xuất, nhà xƣởng, các máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận
tải …có quy mô lớn, vòng đời sử dụng dài.
+ Phân lọai theo mục đích sử dụng vốn:
Cho vay sản xuất kinh doanh: là lọai cho vay các nhu cầu vốn với mục đích
phục vu trực tiếp hoăc gián tiếp cho sản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng : là lọai cho vay các nhu cầu vốn nhằm mục đích phục vụ
cho việc tiêu dùng
Cho vay bất động sản : là lọai cho vay liên quan đến việc mua sắm, xây dựng
nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công ngiệp, thƣơng mại, dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thƣơng mại: là lọai cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lƣu động.
Cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn: là lọai cho vay các đối tƣợng trên
địa bàn nông thôn ( ở địa bàn xã.)
+ Phân lọai theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là lọai cho vay có tài sản thế chấp, cầm
cố,hay bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc tài sản bảo đảm hình thành trong tƣơng lai.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là lọai cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh; việc cho vay này do chính các tổ chức tín dụng lựa chọn

19

với những điều kiện cụ thể nhất định ( ví dụ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có
lãi 3 năm liền, đƣợc kiểm tóan hàng năm, có phƣơng án dự án hiệu quả, khả thi ,có
uy tín, đƣợc ngân hàng tín nhiệm…)
+ Phân lọai theo xuất xứ tín dụng:
Cho vay trực tiếp: Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có
nhu cầu, đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng
Ngân hàng tài trợ trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu và ngƣời vay trực tiếp sử
dụng vốn và trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán nhƣ là:
chiết khấu thƣơng mại; bao thanh toán.
Ngân hàng tài trợ vốn cho ngƣời có nhu cầu thông qua tổ vay vốn, các doanh
nghiệp cung ứng và bao tiêu sản phẩm cho nông dân trên cơ sở thỏa thuận trƣớc
giữa ba bên.
Ngòai ra ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng
uy tín của mình, tuy chƣa bỏ vốn ra nhƣng nếu khách hàng không thực hiện đƣợc
nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng có nghĩa vụ trả thay.
1.2.2 Hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại:
1.2.2.1 Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế :
Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế đƣợc đánh giá qua sự góp
phần ổn định giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Họat động tín dụng Ngân hàng thƣơng mại có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh
tế, nó cung cấp cho nền kinh tế một khối lƣợng vốn lớn để đầu tƣ vào các dự án
phát triển sản xuất kinh doanh mới, cải tiến kỹ thuật với công nghệ hiện đại, duy
trì và mở rộng họat động của các doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm… do đó tốc
độ phát triển của nền kinh tế lệ thuộc phần nào vào hiệu quả của tín dụng ngân
hàng.
Tín dụng đƣợc coi là đòn bẫy giúp Nhà Nƣớc thực hiện các chính sách kinh tế
- xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở Nhà Nƣớc cùng hệ thống

20

Ngân hàng thƣơng mại tìm và đƣa ra những giải pháp tín dụng để đầu tƣ vào các
ngành, các vùng kinh tế trọng điểm, chiến lƣợc hoặc đầu tƣ cho các tầng lớp nhân
dân nghèo, khó khăn, vùng sâu, vùng xa…
Hiệu quả tín dụng Ngân hàng càng cao có nghĩa là nhiều doanh nghiệp, cá
nhân sản xuất kinh doanh tốt, có lợi nhuận, nợ vay Ngân hàng đƣợc hòan trả đầy
đủ, sản phẩm đƣợc thị trƣờng chấp nhận, khi đó giá trị tiền tệ quốc gia sẽ đƣợc ổn
định, góp phần tạo điều kiện cho Ngân hàng trung ƣơng thực hiện tốt mục tiêu của
chính sách tiền tệ Quốc gia.
Mặt khác, đối với tín dụng tiêu dùng, hiệu quả tín dụng Ngân hàng càng cao
nghĩa là mức sống trong xã hội đƣợc nâng cao, làm tiền đề cho quá trính sản xuất
và tiêu dùng càng đƣợc kích thích, tiêu dùng càng nhiều thì sản xuất càng phát
triển.
1.2.2.2 Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với khách hàng:
Họat động tín dụng của Ngân hàng là huy động vốn nhàn rỗi của các tổ chức,
cá nhân trong xã hội và cho vay nên khách hàng của Ngân hàng thƣơng mại có hai
nhóm: Nhóm tiền gửi và nhóm tiền vay.
Đối với khách hàng tiền gửi, hiệu quả tín dụng thể hiện ở thủ tục gửi tiền đơn
giản, lãi suất hợp lý, thời gian linh hoạt, là kênh đầu tƣ hiệu quả, an tòan trong lúc
tạm thời nhàn rỗi chƣa có nhu cầu sử dụng.
Đối với khách hàng vay, hiệu quả của tín dụng ngân hàng thể hiện đó là kênh
tài trợ vốn hiệu quả nhất cho khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn để sản xuất, kinh
doanh một cách kịp thời, giúp khách hàng có những cơ hội kinh doanh, mở rộng
quy mô sản xuất, góp phần không nhỏ quyết định sự thành công của khách hàng.
1.2.2.3 Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với Ngân hàng thƣơng mại:
Ngân hàng thƣơng mại là một định chế trung gian tài chính, mang các khỏan
tiền huy động từ nguồn nhàn rỗi trong xã hội để cho các tổ chức kinh tế, cá nhân
vay, mục tiêu họat động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại là lợi nhuận và an
tòan. Do đó hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với Ngân hàng thƣơng mại thể

21

hiện ở nguồn vốn dồi dào và vững chắc, sử dụng vốn có hiệu quả, rủi ro đƣợc hạn
chế ở mức thấp nhất, lợi nhuận ở mức tối ƣu.
Họat động tín dụng ngân hàng nhằm vào sự tồn tại và phát triển lâu dài, do đó
khi đánh giá hiệu quả tín dụng ngân hàng, chúng ta không thể bỏ qua chỉ tiêu số
lƣợng khách hàng ngày càng tăng và chất lƣợng khách hàng ngày càng nâng cao
trên cơ sở Ngân hàng và khách hàng ngày càng gắn bó.
1.2.3 Yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng
thƣơng mại:
1.2.3.1 Yếu tố từ phía khách hàng:
Khách hàng vay là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hƣởng đến hiệu quả tín
dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Nếu năng lực tài chính, năng lực quản lý của
khách hàng yếu, triển vọng kinh doanh sẽ thấp và khả năng trả nợ vay cũng thấp,
thì vốn tín dụng sẽ đƣợc sử dụng không có hiệu quả và đây chính là cái gốc của rủi
ro tín dụng đối với ngân hàng. Trong một số trƣờng hợp, không loại trừ yếu tố lừa
đảo của những khách hàng không tốt để chiếm dụng vốn của ngân hàng. Ngƣợc lại
khách hàng vừa có thiện chí, vừa có kế hoạch, phƣơng án sản xuất kinh doanh tốt,
tình hình tài chính và khả năng trả nợ đảm bảo, thì đây là yếu tố hàng đầu góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại.
1.2.3.2 Yếu tố từ chủ quan của Ngân hàng thƣơng mại:
Ngân hàng là ngƣời tài trợ cho khách hàng, đóng vai trò chủ động hoàn toàn và
có tính chất quyết định đến chất lƣợng và hiệu quả hoạt động tín dụng. Tuy nhiên,
nến có sự hợp tác chặt chẽ từ hai phía : Ngân hàng và khách hàng vay vốn, thì vấn
đề nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là hoàn toàn có tính khả thi. Với tƣ cách
là ngƣời tài trợ, vấn đề chất lƣợng tín dụng sẽ phụ thuộc vào những nội dung nhƣ:
- Chính sách tín dụng
- Quy trình tín dụng
- Quy mô họat động của ngân hàng
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp
- Đầu tƣ trang thiết bị với công nghệ hiện đại phục vụ cho họat động tín dụng

22

- Hệ thống thông tin, kiểm tra, kiểm tóan nội bộ của bản thân ngân hàng
thuơng mại.
Tất cả những yếu tố thuộc về phía ngân hàng đều là những nhân tố ảnh hƣởng
đến hiệu quả họat động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại.
Lựa chọn khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có quá khứ giao dịch
uy tín, có tƣơng lai phát triển, có đội ngũ lãnh đạo điều hành giỏi, năng động, có ý
thức chấp hành pháp luật, sẽ là nhân tố chủ quan quyết định hiệu quả tín dụng.
Tránh xem xét dựa vào ý chí cá nhân, dựa vào mối quan hệ gia đình, bạn bé, sự
giới thiệu của cấp trên, vì đó là những mầm móng đƣa đến rủi ro lớn.
1.2.3.3 Yếu tố khách quan của nền kinh tế xã hội:
Khuôn khổ pháp lý và các văn bản quy phạm pháp luật cho hoạt động tín dụng
có ý nghĩa rất quan trọng để góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng. Pháp
luật điều chỉnh và chi phối hoạt động tín dụng vừa chặt chẽ, vừa phù hợp với thực
tiễn cả trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, và trong các lĩnh vực kinh tế khác,
tránh can thiệp hành chính quá nhiều sẽ là những nhân tố khách quan có ảnh
hƣởng mạnh đến hiệu quả tín dụng
Ngòai ra các nhân tố khách quan nhƣ môi trƣờng kinh doanh, môi trƣờng chính
trị - xã hội, môi trƣơng thiên nhiên cũng ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả tín dụng
ngân hàng thƣơng mại, vì nếu môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, chính trị ổn định,
thiên nhiên ôn hòa không thiên tai, lũ lụt … sẽ ảnh hƣởng tốt đến hiệu quả tín
dụng Ngân hàng thƣơng mại.
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng:
Mục tiêu hoạt động tín dụng của NHTM là lợi nhuận và an toàn do đó hiệu quả
của tín dụng ngân hàng đối với NHTM là nguồn vốn huy động dồi dào vững chắc,
sử dụng vốn có hiệu quả, rủi ro đƣợc hạn chế ở mức thấp nhất, lợi nhuận ở mức tối
ƣu. Vì vậy để đánh giá hiệu quả họat động tín dụng, thông thƣờng ngƣời ta sử
dụng các chỉ tiêu sau:
1.2.4.1 Chất lƣợng tín dụng:

23

Hiệu quả tín dụng luôn gắn với chất lƣợng tín dụng, nên để đánh giá hiệu quả
tín dụng thì trƣớc tiên là đánh giá chất lƣợng tín dụng thong qua các chỉ tiêu sau:
- Vòng quay vốn tín dụng: Tƣơng tự nhƣ vòng quay vốn lƣu động trong các
doanh nghiệp, vòng quay vốn tín dụng càng nhiều thì sử dụng vốn có hiệu quả và
hiệu quả tín dụng sẽ càng cao, do đó các NHTM phải không ngừng phấn đấu để
tăng vòng quay vốn tín dụng.
- Tốc độ tăng trƣởng dƣ nợ: Dƣ nợ tín dụng không ngừng gia tăng thể hiện
một chính sách tín dụng tích cực để hổ trợ các doanh nghiệp, cá nhân …phát triển
sản xuất kinh doanh, vì vậy để tăng trƣởng kinh tế cần có tốc độ tăng trƣởng tín
dụng một cách hợp lý.
- Tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dƣ nợ: Nợ quá hạn bất kể nguyên nhân chủ quan hay
khách quan đều có thể dẫn đến hậu quả xấu cho ngân hàng. Do vậy trong họat
động tín dụng các ngân hàng cần cố gắng để ngăn chặn nợ quá hạn xảy ra. Chỉ tiêu
nợ quá hạn / tổng dƣ nợ nhỏ hơn hoặc bằng 5% đƣợc coi là bình thƣờng. Nếu chỉ
tiêu này vƣợt quá 5% có nghĩa là chất lƣợng tín dụng không tốt.
Theo quyết định 234/QĐ-HĐQT-NHCT37 ngày 09/6/2005 và quyết định
296/QĐ-HĐQT-NHCT37 ngày 01/8/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định
234/QĐ-HĐQT-NHCT37 ngày 09/6/2005 của Hội đồng Quản trị NHCT Việt Nam
quy định phân loại nợ theo đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng ( theo điều 8 )
gồm 5 nhóm nợ cụ thể nhƣ sau:
+ Nhóm 1 ( nợ đủ tiêu chuẩn ) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn mà chi nhánh đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;
Các khoản nợ quá hạn dƣới 10 ngày đƣợc chi nhánh đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc, lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc, lãi đúng thời hạn còn lại;
Các khoản nợ khác đƣợc phân lọai vào nhóm 1 theo quy định.
+ Nhóm 2 ( nợ cần chú ý ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;