Tải bản đầy đủ
Chƣơng 5. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Chƣơng 5. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Tải bản đầy đủ

62

của nông hộ. Tuy nhiên, chi tiêu trong dài hạn của hộ gia đình không chỉ do thu
nhập quyết định, mà còn phụ thuộc vào yếu tố dự phòng sự bất định trong thu nhập.
Chi tiêu và thu nhập trong nghiên cứu này có mức tăng khá tương đồng. Vì vậy, có
thể nhận định rằng việc tham gia tín dụng chính thức giúp hộ gia đình tăng thu nhập
một cách ổn định và hiệu quả.
Ngoài kết quả về mối quan hệ nhân quả giữa tín dụng chính thức đối với thu
nhập và chi tiêu nông hộ đã nêu ở trên. Bài viết này còn xác định được một số yếu
tố khác có ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình:
- Hộ gia đình người dân tộc Kinh đạt được mức sống và phúc lợi cao hơn hộ
đồng bào thiểu số. Ước tính trung bình thu nhập và chi tiêu hộ người Kinh cao hơn
hộ dân tộc ít người khoảng 8,2% và 13,6%. Điều này có thể là do đặc điểm phân bổ
dân cư của hộ người người Kinh thường sinh sống ở đồng bằng, nơi có những điều
kiện phát triển kinh tế tốt hơn. Một đặc điểm nữa là hộ gia đình dân tộc ít người
thường không thực hiện kế hoạch hóa gia đình nên thường đông con, tỷ lệ phụ
thuộc cao hơn người dân tộc kinh. Các nghiên cứu của WB cũng khẳng định các kết
luận tương tự.
- Các yếu tố phụ thuộc tác động mạnh đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
nông nghiệp. Hộ gia đình có quy mô, tỷ lệ trẻ em và tỷ lệ người già trong gia đình
càng cao thì số thành viên phụ thuộc khả năng càng nhiều. Nghiên cứu phát hiện
rằng những hộ này có thu nhập trung bình và khả năng chi tiêu thấp hơn so với
những hộ có quy mô hơn. Những thành viên cao tuổi và trẻ em đóng góp không
đáng kể vào cơ cấu thu nhập hộ gia đình, phần thu nhập và chi tiêu hộ gia đình phải
chia sẻ cho các thành viên này. Bên cạnh đó, tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì chi tiêu hộ
gia đình càng lớn, khả năng tích lũy cho sản xuất trong tương lai bị sụp giảm. Vì
vậy, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình có khả năng bị suy giảm trong cái vòng luẩn
quẩn không thoát ra được.
- Cú sốc trong nông nghiệp như thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng xấu đến khoảng
7% thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Điều này hàm ý rằng nền sản

63

xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn chậm phát triển, sản xuất phụ thuộc nhiều các
yếu tố tự nhiên; Vì vậy, tính dễ tổn thương trong khu vực sản xuất nông nghiệp vẫn
còn cao.
- Tính đa dạng hóa việc làm tác động tốt đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu điều chung nhận định tăng việc làm
phi nông nghiệp là yếu tố giúp hộ nâng cao đời sống và thu nhập. Kết quả nghiên
cứu phát hiện rằng, mặc dù tăng lao động tham gia các hoạt động sản xuất nông
nghiệp có thể giúp tăng thu nhập trên đồng ruộng của nông hộ, nhưng lại làm suy
giảm ước tính tổng khả năng thu nhập hộ gia đình. Trong khi đó tham gia các hoạt
động sản xuất phi nông nghiệp giúp cải thiện đáng kể trong tổng thu nhập hộ gia
đình. Điều đó có nghĩa tham gia sản xuất nông nghiệp có chi phí cơ hội cao và
không có hiệu quả kinh tế bằng các hoạt sản xuất phi nông nghiệp. Như vậy, dù đặc
thù sản xuất nông hộ gắn liền với các hoạt động trên đồng ruộng, nhưng tham gia
các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp đóng góp một phần quan trọng hơn trong cơ
cấu thu nhập và cải thiện chi tiêu của hộ gia đình.
- Diện tích canh tác nông nghiệp có tương quan dương với thu nhập và chi tiêu
hộ gia đình. Hoạt động sản xuất của nông hộ gắn liền với đất, vì vậy sở hữu đất
canh tác càng nhiều hộ gia đình có thu nhập và chi tiêu càng tăng. Tuy nhiên mức
tăng này khá khiêm tốn, qua đó có thể thấy rằng nền nông nghiệp và trình độ sản
xuất còn chậm phát triển, tính hiệu quả kinh tế theo quy mô của hộ hầu như không
đáng kể.
- Một yếu tố quan trọng khác tác động lên mức sống hộ gia đình đó là yếu tố
tiết kiệm. Tiết kiệm thể hiện tính tương quan và tác động mạnh đến cả thu nhập và
chi tiêu hộ gia đình. Nhờ khả bù đắp cho sự sụt giảm thu nhập trong ngắn hạn, đồng
thời giúp hộ gia đình có thể mở rộng đầu tư vào sản xuất. Ước lượng kết quả từ mô
hình cho thấy việc tham gia tiết kiệm, ý thức dự phòng rủi ro, bình quân giúp hộ gia
đình cải thiện được 17% thu nhập và 16% chi tiêu.

64

5.2 Gợi ý chính sách
Tham gia tín dụng chính thức có tác động tích cực đến thu nhập và chi tiêu của
nông hộ, đặc biệt là thu nhập từ các hoạt sản xuất nông nghiệp. Do đó, cần gia tăng
khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cho hộ gia đình ở khu vực nông thôn, để có
thể phát huy hơn nữa vai trò của nó trong sự nghiệp hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn. Qua kết quả nghiên cứu tác giả xin đề xuất một số giải pháp có thể giúp cải
thiện khả năng tiếp cận chương trình tín dụng chính thức cho nông hộ:
Tiếp tục mở rộng chương trình tín dụng đến những vùng khó khăn. Các đặc
điểm tương đồng cao giữa hai nhóm hộ trong nghiên cứu gợi ý rằng hộ gia đình ít bị
hạn chế hệ thống khi tiếp cận tín dụng. Điều này có nghĩa hầu hết các hộ gia đình có
thể vay vốn từ các nguồn chính thức nếu có thể tiếp cận được với ngân hàng một
cách dễ dang hơn. Tuy nhiên, thị trường tín dụng nông thôn chính thức vốn hạn chế
nguồn cung cấp. Vì vậy, một mặt cần có những chính sách khuyến khích các định
chế tài chính chính thức tham gia vào thị trường tài chính nhiều tiềm năng ở khu
vực nông thôn, bởi vì các định chế tài chính thuộc khu vực tư nhân vẫn có lợi nhuận
khi đầu tư vào khu vực tài chính Việt Nam (DERP, 2012). Mặt khác, Chính Phủ cần
chỉ đạo cho NHNN&PTNN và NHCSXH tiếp tục mở rộng mạng lưới về các vùng
sâu, vùng xa. Nhờ đó, chương trình tín dụng chính thức đến được với các nông hộ
và phát huy vai trò của nó trong quá trình phát triển nông thôn mới.
Mở rộng chương trình tín dụng tín chấp ở nông nghiệp. Khi so sánh sự khác
biệt giữa nhóm trong nghiên cứu, tác giả nhận thấy các hộ gia đình thuộc nhóm
tham gia tín dụng chính thức có diện tích đất canh tác lớn hơn rất nhiều so với nhóm
hộ không tham gia. Trong thực tế, các khoản vay tín chấp ở khu vực nông thôn chỉ
áp dụng đối với các hộ gia đình nghèo vay thông qua chương trình của NHCSXH,
và các khoản vay này có giá trị thường nhỏ chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển
nông nghiệp. Với hầu hết các nông hộ ở nông thôn còn lại họ phải cần có tài sản thế
chấp mới có thể tiếp cận với vốn vay ngân hàng. Theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP
hộ gia đình khu vực nông thôn được vay tín chấp nhưng cần giao lại sổ đỏ hoặc

65

giấy xác nhận đất không tranh chấp của chính quyền cho ngân hàng giữ thì mới
được vay vốn, điều này đồng nghĩa với những hộ gia đình không có đất hoặc sử
dụng đất không nguồn gốc không thể tiếp cận nguồn vốn này. Do đó, để cải thiện
khả năng tiếp cận chương trình tín dụng nông thôn chính thức cần tháo dỡ những
hạn chế về tài sản đảm bảo này.
Cần làm tốt công tác tư vấn vay cho nông hộ. Các nông hộ có chủ hộ lớn tuổi
có xu hướng ít động lực tham gia vay vốn hơn các nông hộ có chủ hộ trẻ. Đối với
những nông hộ này tiếp cận với nguồn tín dụng không phải là nhu cầu duy nhất của
họ, họ còn cần được tư vấn trong cách sử dụng khoản vay sao cho hiệu quả (DERP,
2012). Vì vậy, cần các ban ngành liên quan, đặc biệt là các ngân hàng cần tham gia
hỗ trợ, tư vấn sử dụng cho người nông dân thì mới khuyến khích các đối tượng này
tham gia chương trình tín dụng. Bên cạnh đó, cần phổ biến thông tin một cách rộng
rãi hơn nữa để cho các nông hộ tiềm năng có thể hiểu được quy trình và yêu cầu vay
vốn, đồng thời tiết giảm các giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục sẽ thúc đẩy động cơ
tham gia tín dụng của nông hộ.
Cần tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến khích đào tạo nghề và tự
học nghề ở nông thôn. Bằng chứng cho thấy rằng nhóm các hộ tham gia tín dụng
trong giai đoạn 2006-2012 có trình độ trung bình cao hơn nhóm hộ không tham gia.
Hộ gia đình có trình độ văn hóa càng cao và kỹ năng càng tốt thì càng tạo được
niềm tin từ phía ngân hàng rằng họ có thể trả nợ. Bên cạnh đó, hộ gia đình càng có
trình độ, kỹ năng hoàn thiện thì khả năng sử dụng vốn hiệu quả cũng tăng lên, vì
vậy khuyến khích hộ vay vốn để đầu tư sản xuất, cải thiện cuộc sống hộ gia đình.
Do đó, cần có các chính sách tạo động lực cho hộ gia đình tham gia nâng cao trình
độ giáo dục, nhờ đó gia tăng khả năng tiếp cận tín dụng cũng như khả năng sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn vay.