Tải bản đầy đủ
3 Tác động của tín dụng chính thức đến chi tiêu nông hộ

3 Tác động của tín dụng chính thức đến chi tiêu nông hộ

Tải bản đầy đủ

57

Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả ƣớc lƣợng tác động tín dụng chính thức đến
chi tiêu nông hộ
Biến độc lập
Biến thời gian (t)
Biến tham gia (T)
Biến tƣơng tác (DD)

Hệ số ƣớc lƣợng
Mô hình 3.1R Mô hình 3.2R Mô hình 3.3R
0,499***
-0,035
0,079

Biến dân tộc của chủ hộ
Biến giới tính của chủ hộ

0,412***
-0,045

0,412***
-0,044**

0,081**

0,082**

0,137***

0,136**

-0,014

Trình độ giáo dục của chủ hộ

0,0001

Trình độ giáo dục trung bình hộ

0,025***

-0,0006
0,025***

Tuổi chủ hộ

-0,0008

-0,0007

Quy mô hộ

-0,028***

-0,029***

Tỷ lệ trẻ em dưới 16 tuổi của hộ

-0,195**

-0,188***

Tỷ lệ người già trên 60 tuổi hộ

0,024

Cú sốc do thiên tai

0,012

Cú sốc kinh tế

-0,016

Cú sốc cá nhân

-0,019

Nông thôn

0,019

0,002

Tỷ lệ làm nông nghiệp

-0,199***

-0,198***

Tỷ lệ làm phi nông nghiệp

0,083**

0,084**

Giao thông

0,055*

0,054*

Tiết kiệm

0,162***

0,163***

Trợ cấp cá nhân

-0,007

Diện tích đất sản xuất

0,000002**

0,000002**

Prob > F

0,0000

0,0000

0,0000

R2

0,3987

0,6503

0,6488

2

0,3960

0,6381

0,6392

R điều chỉnh

Ghi chú: *,**,*** tương ứng với mức ý nghĩa 10%,5% và 1%

58

Cũng giống như tác động đối với thu nhập, tín dụng thể hiện một mối tương
quan dương với chi tiêu hộ gia đình nông thôn. Kết quả ước lượng tín dụng chính
thức giúp cải thiện chi tiêu bình quân một người trong hộ gia đình lên gần 8,2% ở
mức ý nghĩa 5%. Mô hình hồi quy có khả năng giải thích gần 61% biến chi tiêu
nông hộ với mức độ phù hợp có ý nghĩa ở mức dưới 1%. Như vậy, tín dụng giúp hộ
cải thiện mức sống hộ gia đình, thông qua mức chi tiêu tăng lên, phúc lợi hộ gia
đình dần được nâng cao.
Hộ gia đình dân tộc thiểu số có mức chi tiêu thấp hơn hộ gia đình người dân
tộc Kinh gần 14%. Cộng đồng dân tộc ít người thường tập trung ở những vùng sâu,
vùng xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển, hệ thống giao thông thiếu và chưa hoàn
thiện, cộng với kỹ năng sản xuất lạc hậu dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo đó là chi
tiêu thấp. Trong khi hộ gia đình người Kinh thường sống tập trung trong khu vực
đồng bằng nơi có những điều kiện thị trường và điều kiện sản xuất thuận lợi, vì vậy
có mức thu nhập trung bình và chi tiêu tốt hơn. Qua đó, có thể thấy những nông hộ
dân tộc ít người chịu nhiều thiệt thòi, vì thế cần có những quan tâm đúng mức cho
khu vực này, trong đó cung cấp tín dụng giá rẻ qua cơ chế chính thức có thể giúp
các hộ dân tộc ít người giảm thiểu thương tổn, nâng cao mức sống.
Mặc dù không tìm thấy mối quan hệ giữa yếu tố giao thông với thu nhập hộ
gia đình trong nghiên cứu này, nhưng điều kiện giao thông thuận lợi tác động đến
mức chi tiêu hộ gia đình cao hơn 5% so với các hộ khác. Điều này có thể giải thích
là do khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn, hàng đa dạng vì thế hộ gia đình có động
cơ để chi tiêu nhiều hơn.
Trình độ giáo dục trung bình của hộ gia đình nông nghiệp ảnh hưởng tích cực
đến chi tiêu của hộ. Như phần trước đã phân tích, trình độ học vấn cao là tiền đề
giúp hộ gia đình đa dạng hóa thu nhập từ lĩnh vực phi nông nghiệp. Vì vậy những
hộ này có thu nhập cao hơn những hộ khác, mối tương quan này đã được chứng
minh ở phần trước. Trung bình giáo dục chủ hộ cao thêm một đơn vị giúp hộ gia

59

đình tăng chi tiêu hơn 2,5%. Đầu tư cho giáo dục, là một chiến lược hiệu quả trong
cải thiện thu nhập và chi tiêu của nông hộ.
Bên cạnh các khoản chi cho đời sống tiêu dùng, hộ gia đình còn phải cân đối
một phần thu nhập đáng kể để đầu tư cho giáo dục của trẻ em. Vì vậy, chi tiêu hộ bị
suy giảm đáng kể nếu trong gia đình có tỷ lệ trẻ em cao, ước tính chi tiêu bình quân
người của hộ sẽ suy giảm hơn 9% nếu một nửa số thành viên trong hộ là trẻ em.
Khi lượng nhân khẩu hộ gia đình tăng thì khả năng chi tiêu hộ càng bị thu hẹp
càng lớn. Hộ gia đình càng đông thì số thành viên phụ thuộc trong hộ có khả năng
càng cao, thu nhập phải chia sẻ cho nhiều người nhiều hơn, vì vậy chi tiêu bình
quân của cũng bị suy giảm. Bình quân chi tiêu hộ gia đình bị suy giảm khoảng 2,5%
cho mỗi thành viên tăng thêm. Điều này hợp lý với kết quả về mối tương quan trái
chiều giữa thu nhập và quy mô hộ nói đến ở phần trên.
Cũng như các nghiên cứu trước, tình trạng việc làm ảnh hưởng mạnh đến thu
nhập hộ gia đình. Tham gia sản xuất phi nông nghiệp giúp cải thiện thu nhập của
hộ, vì vậy một tác động tích cực tương tự lên chi tiêu bình quân hộ là điều dễ dàng
nhận thấy. Ngược lại, khi hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm đa
số thì thường có thu nhập thấp hơn, kéo theo chi tiêu bình quân cũng bị ảnh hưởng
theo. Theo kết quả ước tính từ mô hình nếu hộ toàn bộ hộ gia đình tham gia sản
xuất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp thì chi tiêu bình quân của hộ thấp hơn
khoảng 19% hoặc cao hơn khoảng 8,5% so với hộ khác.
Thu nhập nông hộ có mối liên hệ mật thiết với diện tích đất hộ gia đình canh
tác. Chi tiêu hộ gia đình cũng chịu sự ảnh hưởng tích cực từ sở hữu đất của hộ gia
đình, mặc dù tác động là rất là nhỏ.
Một yếu tố quan trọng khác tác động đến chi tiêu nông hộ là tiết kiệm, rõ ràng
tiết kiệm giúp cải thiện chi tiêu. Tính bảo đảm và nguồn tài chính dự phòng từ tiết
kiệm giúp hộ gia đình thoải mái hơn trong quyết định chi tiêu. Trung bình tham gia
tiết kiệm giúp hộ gia đình có mức chi tiêu cao hơn khoảng 16% so với các nông hộ
khác không tham gia.

60

Kết luận. Giống như tác động đối với thu nhập, tín dụng chính thức ảnh hưởng
tích cực đến mức gia tăng chi tiêu của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp. Các yếu tố
tác động đến thu nhập hộ gia đình đều thể hiện tác động tương ứng lên chi tiêu hộ
gia đình, cho thấy mối quan hệ tương quan mật thiết giữa thu nhập và chi tiêu của
nông hộ.

61

Chƣơng 5. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
5.1 Kết luận
Nghiên cứu sử dụng số liệu VARHS trong hai năm 2006 và 2012 để đánh giá
tác động của chương trình tín dụng chính thức đến thu nhập và chi tiêu của nông hộ
Việt Nam. Dữ liệu của 341 hộ gia đình được sử dụng trong nghiên cứu với quy mô
mẫu là 682 quan sát, hi vọng có thể đại diện tốt cho các nông hộ trên cả nước. Đề
tài sử dụng phương pháp DID kết hợp với phương pháp bình phương bé nhất OLS
để tiến hành đánh giá hiệu quả tham gia tín dụng của hộ gia đình trong thời gian
quan sát dài (6 năm), những kết luận chính được đưa ra từ nghiên cứu:
- Tín dụng chính thức cho khu vực nông nghiệp tác động tích cực đến khả
năng tạo ra thu nhập và chi tiêu nông hộ. Kết quả ước lượng từ mô hình cho thấy
việc tham gia tín dụng giúp nông hộ bình quân giúp cải thiện thu nhập khoảng
9,5%, nâng cao chi tiêu hộ gia đình khoảng 8,2%. Kết quả tác động được tìm thấy
mô hình chưa cao nhưng phần nào khẳng định vai trò tích cực của tín dụng đối với
kinh tế và mức sống nông hộ Việt Nam.
- Tín dụng tác động mạnh mẽ đến thu nhập nông nghiệp hộ gia đình. Trung
bình tham gia tín dụng có thể giúp nâng cao thu nhập khu vực nông nghiệp hộ gia
đình lên đến 40,2%. Rõ ràng tín dụng chính thức nông thôn đang làm tốt chức năng
tài trợ vốn cho sự phát triển nông nghiệp, đẩy nhanh quá chuyển đổi sản xuất, nâng
cao năng suất và thu nhập của nông hộ. Điều này đặc biệt quan trọng với nông hộ
hộ gia đình thuần nông – nhất là các hộ nghèo – những hộ thường không có điều
kiện tham gia các hoạt động sản xuất khác ngoài nông nghiệp. Có thể nói, chương
trình tín dụng nông chính thức là một chương trình phát triển hiệu quả, góp phần rất
quan trọng trong thay đổi bộ mặt nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam
hiện nay.
- Thu nhập và chi tiêu có mối quan hệ mật thiết với nhau, các yếu tố tác động
đến thu nhập hộ gia đình thì cũng đồng thời tác động tương ứng đến chi tiêu. Một
sự thay đổi thu nhập hay tài trợ trong ngắn hạn có thể ngay lập tức thay đổi chi tiêu

62

của nông hộ. Tuy nhiên, chi tiêu trong dài hạn của hộ gia đình không chỉ do thu
nhập quyết định, mà còn phụ thuộc vào yếu tố dự phòng sự bất định trong thu nhập.
Chi tiêu và thu nhập trong nghiên cứu này có mức tăng khá tương đồng. Vì vậy, có
thể nhận định rằng việc tham gia tín dụng chính thức giúp hộ gia đình tăng thu nhập
một cách ổn định và hiệu quả.
Ngoài kết quả về mối quan hệ nhân quả giữa tín dụng chính thức đối với thu
nhập và chi tiêu nông hộ đã nêu ở trên. Bài viết này còn xác định được một số yếu
tố khác có ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình:
- Hộ gia đình người dân tộc Kinh đạt được mức sống và phúc lợi cao hơn hộ
đồng bào thiểu số. Ước tính trung bình thu nhập và chi tiêu hộ người Kinh cao hơn
hộ dân tộc ít người khoảng 8,2% và 13,6%. Điều này có thể là do đặc điểm phân bổ
dân cư của hộ người người Kinh thường sinh sống ở đồng bằng, nơi có những điều
kiện phát triển kinh tế tốt hơn. Một đặc điểm nữa là hộ gia đình dân tộc ít người
thường không thực hiện kế hoạch hóa gia đình nên thường đông con, tỷ lệ phụ
thuộc cao hơn người dân tộc kinh. Các nghiên cứu của WB cũng khẳng định các kết
luận tương tự.
- Các yếu tố phụ thuộc tác động mạnh đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
nông nghiệp. Hộ gia đình có quy mô, tỷ lệ trẻ em và tỷ lệ người già trong gia đình
càng cao thì số thành viên phụ thuộc khả năng càng nhiều. Nghiên cứu phát hiện
rằng những hộ này có thu nhập trung bình và khả năng chi tiêu thấp hơn so với
những hộ có quy mô hơn. Những thành viên cao tuổi và trẻ em đóng góp không
đáng kể vào cơ cấu thu nhập hộ gia đình, phần thu nhập và chi tiêu hộ gia đình phải
chia sẻ cho các thành viên này. Bên cạnh đó, tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì chi tiêu hộ
gia đình càng lớn, khả năng tích lũy cho sản xuất trong tương lai bị sụp giảm. Vì
vậy, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình có khả năng bị suy giảm trong cái vòng luẩn
quẩn không thoát ra được.
- Cú sốc trong nông nghiệp như thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng xấu đến khoảng
7% thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Điều này hàm ý rằng nền sản