Tải bản đầy đủ
6 Các yếu tố tác động đến thu nhập và chi tiêu nông hộ

6 Các yếu tố tác động đến thu nhập và chi tiêu nông hộ

Tải bản đầy đủ

23

mới tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng suất lao động, một yếu tố quan trọng
cho sự phát triển nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển. Atieno (1997) và
Phạm Bảo Dương (2013) cũng đồng quan điểm rằng tín dụng nông thôn là một yếu
tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển
đổi sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới trong nông nghiệp.
Thứ hai, tín dụng ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ gia đình bằng cách tăng khả
năng chống đỡ rủi ro và thay đổi chiến lược đối phó rủi ro của hộ. Sự sẵn có của tín
dụng giúp tiêu dùng hộ gia đình trở nên dễ dàng, chống lại sự sụt giảm thu nhập
trong ngắn hạn, hộ có khả năng tham gia những cơ hội kinh tế có lợi nhuận cao hơn
(rủi ro đầu từ cũng cao hơn), do đó làm tăng khả năng ứng phó với rủi ro của hộ.
Bên cạnh đó, một hộ gia đình cũng có thể được hưởng lợi từ việc tiếp cận tín dụng,
ngay cả khi hộ không được vay, bởi vì các tùy chọn vay giúp hộ có thể giảm rủi ro
thông qua tránh đầu tư không hiệu quả, chiến lược đa dạng hóa thu nhập hoặc tiết
kiệm dự phòng rủi ro. Banerjee and Duflo (2007) và Quibria (2012) nhận định
thông qua chức năng giúp cải thiện tiêu dùng, những khoản tín dụng nhỏ giúp người
dân nông thôn có điều kiện cải thiện sức khỏe, gia tăng đầu tư cho giáo dục nhờ đó
tạo ra cơ hội kinh tế, thay đổi động lực hộ gia đình.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan được trình bày ở phần trước của
nghiên cứu cũng xác nhận mối quan hệ tương quan giữa tham gia tín dụng đối với
thu nhập và chi tiêu hộ gia đình (Nguyễn Việt Cường, 2008; Phan Đình Khôi, 2012;
Quách Mạnh Hào, 2005; Morduch and Haley, 2001).
Vị trí hộ. Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, cơ
sở hạ tầng, các điều kiện thị trường khác nhau. Do đó thu nhập hay chi tiêu hộ gia
đình cũng có xu hướng khác nhau. Báo cáo WB (2012) cho thấy tình trạng nghèo
chủ yếu tập trung ở các vùng cao của Việt Nam, gồm miền núi Đông Bắc và Tây
Bắc và một số khu vực ở Tây Nguyên. Ngược lại, các hộ giàu chủ yếu tập trung ở
Đồng bằng sông Hồng (gần Hà Nội), Đông Nam bộ (gần Thành phố Hồ Chí Minh)
và các trung tâm đô thị dọc bờ biển. Trung bình thu nhập bình quân đầu người hộ

24

gia đình ở khu vực nông thôn chỉ bằng khoảng một nửa hộ gia đình khu vực thành
thị (Tổng cục thống kê, 2013).
Tiếp cận thị trường. Các yếu tố về hạ tầng địa phương, sự thuận lợi về giao
thông, thông tin, gần đường nhựa, khoảng cách đến trung tâm cũng là những yếu tố
quan trọng quyết định thu nhập hộ gia đình. Giao thông thuận lợi, gần trung tâm tạo
điều kiện cho giao thương, tiếp thu kinh nghiệm sản xuất giúp tăng năng suất, giá trị
hàng hóa trong nông nghiệp và tạo ra nhiều cơ hội việc làm người dân nông thôn.
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2008) và Phan Đình Khôi (2012) xác nhận
rằng khoảng cách đến trung tâm gần nhất có tác động đến thu nhập và chi tiêu của
hộ gia đình.
Tài trợ bên ngoài. Nguồn tiền trợ cấp (tiền gửi từ con cái và người thân) cũng
là một yếu tố quan trọng trong cơ cấu thu nhập một số hộ gia đình nông thôn Việt
Nam. Đối với nông hộ thì nó có thể giúp bổ sung vốn, tăng tính thanh khoản, dự
phòng rủi ro, tăng chi tiêu, tăng đầu tư, qua đó tăng thu nhập. Nghiên cứu của
Nguyễn Việt Cường (2008) và Phan Đình Khôi (2012) thể hiện một mối tương quan
thuận của các yếu tố này với thu nhập hộ gia đình.
Các cú sốc. Điều kiện tự nhiên không thuận lợi và các cú sốc kinh tế ảnh
hưởng đến sản xuất nông hộ, do tính dễ tổn thương trong nông nghiệp, bởi các yếu
tố ngoại sinh. Sự thiếu vắng của thị trường bảo hiểm chính thức và hạn chế tín dụng
ở các quốc gia có thu nhập thấp, các cú sốc thu nhập tác động tiêu cực đến phúc lợi
hộ gia đình (Morduch, 1994). Các cú sốc cá nhân do sức khỏe cũng có tác động tiêu
cực đến thu nhập và chi tiêu nông hộ, các bằng chứng gần đây. (tổng hợp của Alam
and Mahal, 2014).
2.6.2 Các yếu tố đặc trƣng hộ gia đình
Thu nhập hay chi tiêu cá nhân hay hộ gia đình thường không giống nhau có
thể giải thích bởi sự không đồng nhất của về đặc điểm hộ gia đình. Các nghiên cứu
thực nghiệm đã kiểm chứng mối quan hệ nhân quả giữa thu nhập và các đặc tính hộ
gia đình:

25

Quy mô hộ. Hay số nhân khẩu trong hộ bao gồm cả người lớn, trẻ em và
người già. Hộ càng đông thì khả năng số thành viên không tạo ra thu nhập trong hộ
càng nhiều, vì vậy yếu tố này thường thể hiện mối quan hệ nghịch chiều với mức
sống hộ gia đình. Mối tương quan giữa số nhân khẩu đông dẫn đến suy giảm phúc
lợi hộ gia đình được tìm thấy hầu hết trong các nghiên cứu liên quan về thu nhập
hay chi tiêu của hộ gia đình (Quách Mạnh Hào, 2005; Nguyễn Việt Cường, 2008;
Phan Đình Khôi, 2012; Lưu Đức Khải; 2013).
Tỷ lệ phụ thuộc. Hàm ý tỷ lệ các thành viên ngoài độ tuổi lao động trong gia
đình. Các thành viên này hầu như không tạo ra thu nhập, vì vậy phải chia sẻ thu
nhập và chi tiêu với các thành viên khác trong hộ. Tỷ lệ phụ thuộc lớn gây thiếu hụt
chi tiêu, hạn chế tiết kiệm vì vậy dẫn đến hạn chế đầu tư, giảm thu nhập. Nghiên
cứu của Nguyễn Việt Cường (2008) phát hiện rằng tỷ lệ số thành viên dưới 16 và
trên 60 trong gia đình ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập cũng như chi tiêu hộ gia
đình, đặc biệt là ở vùng nông thôn (nơi thường có tỷ lệ phụ thuộc cao) và giữa
chúng có mối quan hệ nghịch chiều. Nghiên cứu tương tự của Phan Đình Khôi
(2012) cũng cung cấp những bằng chứng tương tự.
Giới tính chủ hộ. Có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa giới
tính với mức sống của hộ gia đình. Kiiru and Machakos (2007) tìm thấy bằng
chứng hộ gia đình có chủ hộ là nam giới có thu nhập cao hơn ở nữ giới ở Kenya.
Nghiên cứu của Pitt and Khandker (1998) ở Banglades gợi ý rằng các chi tiêu hộ
gia đình tăng đáng kể nếu người đi vay là phụ nữ. Trong khi đó, nghiên cứu tương
tự ở Việt Nam cho thấy giới tính chủ hộ hầu như không có ảnh hưởng đến thu nhập
hay mức sống hộ gia đình Phan Đình Khôi (2012).
Tuổi chủ hộ. Thể hiện kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông
nghiệp. Vì vậy, nó được kì vọng sẽ mang lại thu nhập cao hơn cho hộ gia đình có
chủ gia đình có tuổi cao hơn. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa
tuổi chủ hộ với phúc lợi hộ gia đình được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu (Quách

26

Mạnh Hào, 2005; Nguyễn Việt Cường; 2008; Phan Đình Khôi, 2012; Lưu Đức
Khải; 2013).
Dân tộc. Những hộ gia đình người Kinh thường sinh sống tập trung ở các khu
vực có cơ sở hạ tầng phát triển, dễ dàng tiếp cận với các thị trường đầu vào và đầu
ra. Trong khi đó các hộ đòng bào dân tộc ít người thường sinh sống ở các vùng sâu,
vùng xa, nơi có cơ sở hạ tầng và các yếu tố thị trường kém phát triển hơn, do đó họ
thường có thu nhập và chi tiêu thấp hơn các hộ gia đình người Kinh. Các nghiên
cứu thực nghiệm gần đây cung cấp bằng chứng rằng các hộ dân tộc thiểu số có thu
nhập thấp hơn hộ gia đình ở cả thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp (Nguyễn
Việt Cường, 2008; Phan Đình Khôi, 2012; Phan Đức Khải; 2013). Báo cáo nghèo ở
Việt Nam (WB, 2012) cũng nhận định người nghèo Việt Nam ngày càng tập trung
nhiều hơn ở các dân tộc thiểu số, trong khi họ chỉ chiếm 15% dân số nhưng chiếm
gần một nửa số lượng những người nghèo còn lại và 2/3 người nghèo cùng cực.
Nghèo. Người nghèo có nguồn lực hạn chế, khả năng tạo ra thu nhập thấp, vì
vậy chi tiêu họ bị hạn chế. Nghiên cứu của Lưu Đức Khải (2013) và Phan Đình
Khôi chứng minh điều này trong nghiên cứu của mình.
2.6.3 Các yếu tố liên quan năng lực sản xuất
Trình độ giáo dục. Đồng nghĩa với khả năng sử dụng các nguồn lực hiệu quả,
hộ gia đình chủ động đa dạng hóa thu nhập, đây là yếu tố cốt lõi giúp họ cải thiện
thu nhập hộ gia đình hiệu quả và bền vững. Hộ có trình độ giáo dục càng cao sẽ có
thu nhập cao hơn các hộ khác và các hộ này có xu hướng tham vào các hoạt động
sản xuất phi nông nghiệp (WB, 2012). Mối quan hệ tích cực giữa trình độ giáo dục
và mức sống hộ cũng được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu liên quan (Phạm Bảo
Dương và Izumida, 2002; Quách Mạnh Hào, 2005; Nguyễn Việt Cường, 2008; Lưu
Đức Khải và cộng sự, 2013).
Đa dạng hóa sinh kế. Tỷ lệ thành viên có việc làm phi nông nghiệp là một
yếu tố ảnh hưởng tốt đến thu nhập hộ gia đình. Ngược lại, những hộ có tỷ lệ lao
động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có tương quan nghịch với thu nhập của

27

hộ. Những hộ gia đình đa dạng hóa việc làm, tham gia các hoạt động phi nông
nghiệp có khả năng cải thiện thu nhập rõ rệt so với những hộ thuần nông (WB,
2012; Lưu Đức Khải và cộng sự, 2013).
Đất sản xuất. Đất luôn là yếu tố sản xuất quan trọng của người dân nông thôn,
là yếu tố cơ bản quyết định sản xuất nông nghiệp. Trong các lý thuyết kinh tế đều
có chung quan điểm về vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp. Phần lớn các
nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam điều đồng ý rằng diện tích và khả năng tiếp
cận đất nông nghiệp là yếu tố quan trọng đóng góp và cải thiện thu nhập và chi tiêu
hộ gia đình (Sadoulet and de-Janvry, 1995; Nguyễn Việt Cường, 2008; Phan Đình
Khôi, 2012).
Tiết kiệm. Tham gia tiết kiệm tiết kiệm giúp gia đình dự phòng rủi ro, làm cho
tiêu dùng của hộ được dễ dàng, chủ động nguồn vốn sản xuất, ngoài ra có thu nhập
nhất định từ lãi suất. Các nghiên của Phan Đình Khôi (2012) và Nguyễn Việt
Cường (2008) đã chứng minh hiệu quả tích cực của tiết kiệm đối với sản xuất thu
nhập hộ gia đình nông thôn.
Như vậy điểm qua lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu tiền nghiệm ở trên,
tác giả hình thành khung lý thuyết các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến thu nhập
và chi tiêu nông hộ như sau:
- Các yếu tố thuận lợi thị trường: Khả năng tiếp cận thị trường; Vị trí hộ;
Tiếp cận thị trường; Tài trợ bên ngoài; Các cú sốc.
- Các yếu tố liên quan đặc trưng hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình; Tỷ lệ phụ
thuộc; Tuổi chủ hộ; Giới tính chủ hộ; Dân tộc; Hộ gia đình nghèo.
- Các yếu tố liên quan đến năng lực sản xuất của hộ gia đình: Trình độ giáo
dục; Đa dạng hóa sinh kế; Diện tích đất sản xuất; Tham gia tiết kiệm.
Hình 2.2 dưới đây sẽ trình bày tổng hợp tóm lược các yếu tố ảnh hưởng đến
thu nhập và chi tiêu của nông hộ.

28

Tiếp cận tín dụng (Nguyễn Việt Cường,
2008; Morduch and Haley, 2001)
Vị trí hộ (WB, 2012; GSO;2013)
Thuận lợi
Thị Trường

Tiếp cận thị trường (Nguyễn Việt
Cường, 2008, Phan Đình Khôi, 2013).
Tài trợ (Nguyễn Việt Cường, 2008;
Phan Đình Khôi, 2013)
Các cú sốc (Morduch, 1994; Alam and
Mahal, 2014)
Quy mô hộ (Quách Mạnh Hào, 2005;
Lưu Đức Khải, 2013)
Tỷ lệ phụ thuộc (Nguyễn Việt Cường,
2008; Phan Đình Khôi, 2012)

Đặc trưng
Hộ gia đình

Giới tính chủ hộ (Pitt and Khandker,
1998; Kiiru and Machakos, 2007)
Tuổi chủ hộ (Quách Mạnh Hào, 2005;
Nguyễn Việt Cường, 2008).
Dân tộc (Phan Đình Khôi, 2012; Lưu
Đức Khải, 2013)
Nghèo (Phan Đình Khôi, 2012; Lưu
Đức Khải; 2013)
Trình độ giáo dục (WB, 2012, Phạm
Bảo Dương và Izumida, 2002)

Năng lực
Sản xuất

Nguồn: Tự tổng hợp

Đa dạng hóa sinh kế (WB, 2012; Lưu
Đức Khải, 2013)
Diện tích đất sản xuất (Sadoulet and deJanvry, 1995; Phan Đình Khôi, 2012)
Tiết kiệm (Nguyễn Việt Cường, 2008;
Phan Đình Khôi, 2012)

Hình 2.2 Các yếu tố tác động đến thu nhập/chi tiêu hộ gia đình

- Thu nhập
- Chi tiêu

29

Kết luận: Điểm qua lý thuyết và các nghiên cứu tiền nghiệm có thể thấy rằng
có thể tồn tại mối quan hệ tương quan tích cực giữa tham gia tín dụng chính thức
với thu nhập và chi tiêu của nông hộ. Qua phần sau, tác giả sẽ trình bày phương
pháp và chiến lược đánh giá tác động của chương trình tín dụng nông thôn Việt
Nam lên thu nhập hộ gia đình.

30

Chƣơng 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Khung phân tích đánh giá tác động
Khandker et al. (2010) đưa ra khái niệm: “Đánh giá tác động là nghiên cứu
xem những thay đổi trong mức phúc lợi có thực sự là kết quả của can thiệp chương
trình chứ không phải của các yếu tố khác hay không”. Những phương thức đánh giá
này có thể được thực hiện bằng các phương pháp định lượng (tức là thu thập dữ liệu
khảo sát hay mô phỏng) trước hoặc sau khi bắt đầu chương trình. Về cơ bản đánh
giá tác động chương trình thông qua khác biệt trong các kết quả ở đối tượng trước
và sau khi triển khai chương trình (hay giữa các đối tượng tham gia và không tham
gia). Khung đánh giá tác động được trình bày bởi bảng 3.1 dưới đây như sau:
Quá trình trung gian

Nhóm đại diện

Thay đổi hành vi và
thực tiễn qua thời gian

Kết quả “đầu ra”

Sự khác biệt do
đầu ra do tác động

Biến chương trình

Quá trình trung gian

Nhóm đại diện

Hành vi và thực tiễn
theo thời gian

Kết quả “đầu ra”

Nguồn: theo Hulme, 2000, p.81

Hình 3.1 Khung phân tích đánh giá tác động
Để minh họa đánh giá tác động của chương trình tín dụng đối với thu nhập
nông hộ, ta giả sử rằng có hai nhóm hộ được chọn làm nhóm đại diện, trong đó một
nhóm tham gia chương trình (T=1) và một nhóm làm nhóm phản thực (không tham
gia T=0) chương trình tín dụng. Với Yi là thu nhập dầu người của hộ gia đình. Thu

31

nhập hộ gia đình không tham gia được thể hiện bằng Yi = Yi(0) nếu T =0 và Yi =
Yi(1) nếu T =1, thì hiệu quả chương trình, được trình bày như sau:
D = E 𝑌𝑖 (1) 𝑇𝑖 = 1 - E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 0

(3.1)

Sự khác biệt thu nhập trung bình giữa hai nhóm tham gia và và không tham
gia được thể hiện ở công thức 3.1. Tuy nhiên vấn đề là thu nhập Yi1 và Yi0 phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác liên quan đến đặc điểm hộ vì vậy tác động này không thể cho
rằng chỉ do yếu tố tín dụng tác động đến thu nhập của hộ. Như vậy sự khác biệt
không chỉ đến từ hiệu quả chương trình. Giả thử ta cộng trừ thêm kết quả dự tính
của nhóm không tham gia vào phương trình 3.1 thì ta được:
D = E 𝑌𝑖 (1) 𝑇𝑖 = 1 - E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 0 + E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 1 - E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 1 (3.2)
Hiệu quả can thiệp bình quân ATE = E 𝑌𝑖 (1) 𝑇𝑖 = 1 - E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 1 , thể
hiện mức tăng bình quân thu nhập giữa hai nhóm hộ trong trường hợp các nhóm hộ
không tham gia vào chương trình. Giới hạn B = E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 1 - E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 0 ,
là phạm vi sai số lựa chọn phát sinh khi sử dụng D làm số ước tính ATE. Tuy nhiên
do không biết trước E 𝑌𝑖 (0) 𝑇𝑖 = 1 nên ta không thể ước tính được sai số lựa
chọn. Phương trình 3.2 viết lại như sau:
D = ATE + B

(3.3)

Như vậy vấn đề quan trọng nhất trong đánh giá tác động là loại bỏ tác động sai
số tác động B. Tác động sai số sẽ là nhỏ nhất khi giữa hai nhóm hoàn toàn giống
nhau, đều này khó có thể xảy ra trên thực nghiệm, vì vậy người ta tìm cách cho
chung tương đồng nhất có thể. Thành công của chương trình đánh giá tác động phụ
thuộc vào xác định được nhóm phản thực tính tương đồng cao với tham gia hay
không, đều này có thể thực hiện bằng cách kiểm soát tình huống phản thực của
nhóm can thiệp, tạo một nhóm mẫu thông qua thiết kế thống kê hoặc chỉnh sửa
phương thức chọn đối tượng của chương trình để loại bỏ những khác biệt có thể có
giữa các nhóm can thiệp và không can thiệp trước khi so sánh kết quả giữa hai
nhóm (Khandker et al., 2010).