Tải bản đầy đủ
5 Các nghiên cứu liên quan

5 Các nghiên cứu liên quan

Tải bản đầy đủ

19

tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau, tập trung xem xét tác động của chương trình
tín dụng đến hộ gia đình khu vực nông thôn ở các mặt: cải thiện phúc lợi, giảm
nghèo, giảm bất bình đẳng,... và thường được đánh giá tác động thông qua thu nhập
và chi tiêu hộ gia đình (xem thêm tổng hợp của Morduch and Haley, 2001).
Nghiên cứu của Diagne (1998). Nghiên cứu tác động của tiếp cận tín dụng đối
với thu nhập và an ninh lương thực hộ gia đình ở Malawi. Sử dụng dữ liệu thu thập
vào năm 1995 và 1996 trong một cuộc khảo sát 3 vòng với 404 hộ gia đình ở 45
làng và 5 huyện của Malawi. Sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn kết hợp ước
lượng OLS để ước tính kết quả trước sau của chương trình. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu không tìm thấy bất kì một tác động có ý nghĩa thống kê nào lên phúc lợi
hộ gia đình ở Malawi.
Nghiên cứu của Kiiru and Machakos (2007). Nghiên cứu tương tự cho
Kenya. Tác giả khảo sát 200 hộ tham gia tín dụng và 200 hộ không tham gia tín
dụng của một huyện ở Kenya nhằm đánh giá sâu tác động của tham gia tín dụng
đối với hộ gia đình. Các tác giả ước lượng bằng phương pháp DID bằng cách ước
lượng tác động trước và sau chương trình với với dữ liệu chéo sau đó đánh giá sự
khác biệt trong khác biệt giữa trước và sau. Kết quả mô hình không mang lại một
kết quả tác động có ý nghĩa thống kê của tín dụng chính thức lên thu nhập hộ gia
đình.Trong nghiên cứu này các tác giả sử dụng cách đánh giá tác động trong thời
gian khá ngắn (khoảng 6 tháng), trong khi một tác động của chương trình lên hộ
gia đình cần có sự quan sát dài hơn. Các yếu tố được tác giả xác định ảnh hưởng
mạnh đến thu nhập hộ gia đình là quy mô hộ và trình độ học tập.
Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương và Izumida (2002). Sử dụng dữ liệu chéo từ
cuộc khảo sát cá nhân của 300 hộ gia đình ở ba tỉnh: Ninh Bình, Quảng Ngãi và An
Giang để xem xét các yếu tố tác động đến loại hình tham gia tín dụng và tác động
của tham gia tín dụng đến thu nhập của nông hộ. Sử dụng mô hình hồi quy tuyến
tính hai giai đoạn với log thu nhập sản xuất là biến phụ thuộc để đánh giác tác động
lên thu nhập. Kết quả mô hình ghi nhận tác động đáng kể trong ngắn hạn của tham

20

gia tín dụng chính thức đến thu nhập hộ gia đình bị hạn chế tín dụng. Ngoài ra, các
yếu tố về diện tích canh tác và tỷ lệ phụ thuộc có tác động đáng kể đến thu nhập của
nông hộ. Tuy nhiên tác động nhìn thấy từ nghiên cứu này là một tác động ngắn hạn,
các hộ gia đình có sự phân bố rộng, ít đặc trưng của hộ gia đình chưa được đưa vào
mô hình nghiên cứu.
Nghiên cứu Nguyễn Việt Cường (2008) về đánh giá tác động chương trình tín
dụng vi mô của NHCSXH đến giảm nghèo và giảm bất bình đẳng, bằng cách sử
dụng dữ liệu bảng Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) trong hai năm
2002 và 2004 trong nghiên cứu này. Đánh giá tác động giảm nghèo được tác giả
xem xét trên hai khía cạnh thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người. Tác giả sử
dụng hồi quy tham số cố định để ước tính hiệu quả tác động, kết quả cho thấy việc
cung cấp các khoản vay tín dụng ưu đãi không thế chấp thông qua NHCSXH tạo
thành một nền tảng cho chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Việc tham
gia chương trình trung bình giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người
hộ gia đình. Tuy nhiên chỉ có khoảng một phần ba số hộ thực sự nghèo tiếp cận
được chương trình, ước tính của tác giả chương trình chỉ giúp giảm khoảng 4% số
hộ nghèo. Trong nghiên cứu này tác giả nhận thấy hạn chế về số liệu nên không thể
đánh giá tác động trong một mối quan hệ dài hạn hơn. Bên cạnh đó, các yếu tố khác
liên quan đến chủ hộ, tình trạng phụ thuộc, tình trạng việc làm, trình độ giáo dục
cũng thể hiện tác động đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình trong nghiên cứu.
Nghiên cứu của Phan Đình Khôi (2012). Tác giả xác định các yếu tố tác động
đến tiếp cận tín dụng vi mô và tác động của nó cho khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long. Tác giả sử dụng dữ liệu khảo sát riêng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long (MRD), đồng thời kết hợp với dữ liệu bảng thứ cấp VHLSS trong hai năm
2006 và 2008 để tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến tiếp cận tín dụng và tác
động của tiếp cận tín dụng lên mức sống hộ gia đình khu vực Đồng bằng Sông Cửu
Long. Tác giả sử dụng phương pháp so sánh xu hướng điểm với dữ liệu chéo cho dữ
liệu MRD để đánh giá tác động tín dụng vi mô lên thu nhập hộ gia đình theo
phương ngang kết quả tìm thấy tác động tích cực của tín dụng lên chi tiêu hộ gia

21

đình nhưng không có tác động đến thu nhập của hộ. Phương pháp Biến công cụ và
hiệu quả cố định (IV-FE) được tác giả sử dụng để xem xét tác động của tham gia tín
dụng lên thu nhập và chi tiêu hộ gia đình. Kết quả tìm thấy một tác động tích cực
cho cả thu nhập và chi tiêu hộ gia đình, ước lượng kết quả của các hộ dân thuộc khu
vực đồng bằng Sông Cửu Long có mức tác động từ tín dụng lên thu nhập và chi tiêu
cao hơn bình quân cả nước.
Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo từ khảo sát hộ gia đình thường không
mang lại một kết quả thống nhất về tính hiệu quả kinh tế mang lại của chương trình
tín dụng. Quách Mạnh Hào (2005) nhận thấy rằng việc sử dụng dữ liệu chéo để
đánh giá tác động của chương trình tín dụng sẽ không mang lại kết quả thuyết phục,
do phát sinh các vấn đề nội sinh:
- Thứ nhất, phân bổ tín dụng có tính không ngẫu nhiên dẫn đến kết quả bị
chệch. Người cho vay có thể sàng lọc các đối tượng cho vay dựa trên đặc điểm hộ
gia đình, những hộ được chọn thường là những hộ khá hơn mức trung bình, những
hộ này về bản chất đã có phúc lợi cao hơn so với mặt bằng chung hộ gia đình, kết
quả về tính hiệu quả cao hơn là không chính xác. Tính không ngẫu nhiên còn do
mục tiêu của chương trình tín dụng, ví dụ một chương trình tín dụng hướng tới
người nghèo, các đối tượng nhận được tín dụng là những hộ có nguồn lực hạn chế
khả năng tạo ra thu nhập hay cải thiện phúc lợi thấp hơn những hộ gia đình không
tham gia tín dụng (những hộ khá hơn), đều này có thể dẫn đến một hiệu quả lầm
tưởng rằng sụt giảm thu nhập khi tham gia tín dụng trong nghiên cứu.
- Thứ hai, thu nhập hộ gia đình phụ thuộc nhiều vào các đặc trưng hộ gia đình,
điều kiện thị trường địa phương. Một số đặc trưng không thể quan sát như: tính
cách, nỗ lực cá nhân, các đặc điểm thuận lợi của địa phương,... Tác động gia tăng
phúc lợi có được tại thời điểm tiếp nhận vốn tín dụng có thể bao gồm hiệu quả kinh
tế đến từ những yếu tố như thị trường thuận lợi hay nỗ lực cố gắng của hộ gia đình.
Như vậy, các nghiên cứu tác động có kết luận không đồng nhất về tác động
của chương trình tín dụng nông thôn hộ gia đình. Điểm qua các nghiên cứu có thể

22

thấy rằng việc đánh giá tác động tín dụng lên phúc lợi hộ gia đình nói chung, cần
xem xét mối quan hệ này trong trong dài hạn. Khandker et al. (2010) đánh giá cao
việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích, điều này có thể mang lại một kết quả toàn
diện hơn về vai trò của tín dụng đối với hộ gia đình.
2.6 Các yếu tố tác động đến thu nhập và chi tiêu nông hộ
Các lý thuyết tăng trưởng cho thấy thu nhập của các cá nhân và hộ gia đình
liên quan đến năng lực sản xuất và năng lực sản xuất của hộ gia đình phụ thuộc
nhiều vào khả năng truy cập vào các yếu tố sản xuất như: đất đai, lao động, vốn và
công nghệ của hộ gia đình cùng với các chất lượng của các yếu tố sản xuất. Mô hình
hộ gia đình Sadoulet and de-Janvry (1995) đưa ra gợi ý rằng thu nhập và chi tiêu hộ
gia đình chịu tác động của ba nhân tố chính: thị trường, các đặc điểm, đặc trưng hộ
và năng lực sản xuất của hộ. Qua mô hình lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm,
tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng thu nhập và chi tiêu hộ gia đình trong 3 nhóm
nhân tố: Các yếu tố thị trường thuận lợi; Các đặc trưng hộ gia đình; Và các yếu tố
liên quan đến năng lực sản xuất của hộ gia đình.
2.6.1 Các yếu tố thuận lợi thị trƣờng
Tiếp cận tín dụng. Theo Diagne et al. (2000) tác động của tín dụng đối với thu
nhập và chi tiêu hộ gia đình nông nghiệp thông qua ít nhất hai kênh:
Thứ nhất, tín dụng làm giảm bớt những hạn chế vốn vào các hộ gia đình nông
nghiệp. Tiếp cận vật tư nông nghiệp là một yếu tố quan trọng bảo đảm cho năng
suất và thu nhập vụ mùa của nông hộ. Trong khi chi tiêu vật tư nông nghiệp phát
sinh từ bắt đầu quá trình sản xuất nông nghiệp (giai đoạn đầu và giai đoạn sinh
trưởng của cây) thì lợi nhuận chỉ đạt được sau khi thu hoạch vài tháng sau đó. Vì
vậy, để tài trợ cho việc mua nguyên liệu đầu vào, các hộ gia đình nông dân phải sử
dụng tiền tiết kiệm hoặc vay tín dụng. Do đó, tiếp cận tín dụng có thể làm tăng đáng
kể khả năng của các nông hộ nghèo (thiếu nguồn tiết kiệm) để mua vật tư nông
nghiệp cần thiết. Bên cạnh đó, tiếp cận tín dụng cũng làm giảm chi phí cơ hội của
các tài sản vốn so với lao động gia đình, do đó khuyến khích áp dụng công nghệ

23

mới tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng suất lao động, một yếu tố quan trọng
cho sự phát triển nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển. Atieno (1997) và
Phạm Bảo Dương (2013) cũng đồng quan điểm rằng tín dụng nông thôn là một yếu
tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển
đổi sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới trong nông nghiệp.
Thứ hai, tín dụng ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ gia đình bằng cách tăng khả
năng chống đỡ rủi ro và thay đổi chiến lược đối phó rủi ro của hộ. Sự sẵn có của tín
dụng giúp tiêu dùng hộ gia đình trở nên dễ dàng, chống lại sự sụt giảm thu nhập
trong ngắn hạn, hộ có khả năng tham gia những cơ hội kinh tế có lợi nhuận cao hơn
(rủi ro đầu từ cũng cao hơn), do đó làm tăng khả năng ứng phó với rủi ro của hộ.
Bên cạnh đó, một hộ gia đình cũng có thể được hưởng lợi từ việc tiếp cận tín dụng,
ngay cả khi hộ không được vay, bởi vì các tùy chọn vay giúp hộ có thể giảm rủi ro
thông qua tránh đầu tư không hiệu quả, chiến lược đa dạng hóa thu nhập hoặc tiết
kiệm dự phòng rủi ro. Banerjee and Duflo (2007) và Quibria (2012) nhận định
thông qua chức năng giúp cải thiện tiêu dùng, những khoản tín dụng nhỏ giúp người
dân nông thôn có điều kiện cải thiện sức khỏe, gia tăng đầu tư cho giáo dục nhờ đó
tạo ra cơ hội kinh tế, thay đổi động lực hộ gia đình.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan được trình bày ở phần trước của
nghiên cứu cũng xác nhận mối quan hệ tương quan giữa tham gia tín dụng đối với
thu nhập và chi tiêu hộ gia đình (Nguyễn Việt Cường, 2008; Phan Đình Khôi, 2012;
Quách Mạnh Hào, 2005; Morduch and Haley, 2001).
Vị trí hộ. Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, cơ
sở hạ tầng, các điều kiện thị trường khác nhau. Do đó thu nhập hay chi tiêu hộ gia
đình cũng có xu hướng khác nhau. Báo cáo WB (2012) cho thấy tình trạng nghèo
chủ yếu tập trung ở các vùng cao của Việt Nam, gồm miền núi Đông Bắc và Tây
Bắc và một số khu vực ở Tây Nguyên. Ngược lại, các hộ giàu chủ yếu tập trung ở
Đồng bằng sông Hồng (gần Hà Nội), Đông Nam bộ (gần Thành phố Hồ Chí Minh)
và các trung tâm đô thị dọc bờ biển. Trung bình thu nhập bình quân đầu người hộ