Tải bản đầy đủ
4 Thị trƣờng tín dụng nông thôn Việt Nam

4 Thị trƣờng tín dụng nông thôn Việt Nam

Tải bản đầy đủ

15

NHNN&PTNN
NHCSXH

Hệ thống tài chính nông thôn

Khu vực chính thức

Quỹ tín dụng nhân dân
Các NHTM quốc doanh
Các ngân hàng tư nhân

Khu vực bán chính thức

Các tổ chức NGOs
Các hội, đoàn thể địa phương
Nhóm tiết kiệm (họ, hụi)

Khu vực phi chính thức

Nguồn: Tổng hợp theo DERP, 2012

Bạn bè, người thân
Người cho vay tư nhân

Hình 2.1 Hệ thống tài chính nông thôn Việt Nam
2.4.2 Hệ thống tín dụng nông thôn chính thức ở Việt Nam
Tín dụng chính thức là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho thị trường tín dụng
nông thôn Việt Nam (Bảng 2.1). Ở Việt Nam, tín dụng chính thức được cung cấp
chủ yếu thông qua hai ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước là: Ngân hàng Chính sách
Xã hội (NHCSXH) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(NHNN&PTNT), tỷ trọng cho vay của hai ngân hàng này chiếm đến hơn hai phần
ba các khoản vay của hộ gia đình nông thôn Việt Nam (DERP, 2012). Ngoài ra
trong thời gian gần đây còn ghi nhận sự tham gia của các ngân hàng cổ phần nhà
nước, các ngân hàng tư nhân, Quỹ tín dụng nhân dân nhưng hầu hết các tổ chức tín
dụng này chiếm tỷ lệ không đáng kể trong cấu trúc vốn thị trường tín dụng ở nông
thôn. Tín dụng chính thức có vai trò quan trọng trong thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp, hầu hết các khoản vay chính thức được sử dụng chủ yếu cho mục đích sản
xuất nông nghiệp (Barslund and Tarp, 2008).

16

Bảng 2.1 Tỷ lệ các khoản vay phân bổ theo nguồn
Nguồn vay

2006

2008

2010

2012

Vay chính thức

0,70

0,60

0,70

0,68

Vay bán chính thức

0,16

0,19

0,09

0,07

Vay phi chính thức

0,38

0,38

0,39

0,34

Nguồn: Tác giả tự tính toán dựa trên dữ liệu VARHS
Dưới đây là phần giới thiệu tổng quan về hai định chế tài chính chính thức
quan trọng nhất khu vực nông thôn là NHNN&PTNT và NHCSXH.
2.4.2.1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNN&PTNT)
có tiền thân là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập năm
1988 là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên của Việt Nam phục vụ cho phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
Năm 1990, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam đổi tên thành Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp được xác định là Ngân hàng
thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là
một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
của mình trước pháp luật. Đến năm 1996, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đổi
tên chính thức thành NHNN&PTNN.
NHNN&PTNT hoạt động gần như theo cơ chế thị trường trong khu vực nông
thôn với cơ chế tự chủ về tài chính, nhưng ngân hàng vẫn nhận được các trợ giúp từ
Chính phủ hay các nhà tài trợ cho một số hoạt động cụ thể trong khu vực nông thôn
như: hỗ trợ kỹ thuật, phát triển ngân hàng lưu động….(Lê Thanh Tâm, 2008).
Với hơn 25 phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. NHNN&PTNT
hiện là Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trên thị

17

trường tài chính nông thôn Việt Nam. Tính đến 31/12/2013, dư nợ cho vay lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn đã đạt 671.986 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 20% trong tổng
dư nợ cho vay nền kinh tế. Hiện nay, là ngân hàng lớn nhất Việt Nam tính theo cả
tài sản, mạng lưới hoạt động, và số lượng khách hàng. Theo thống kê của
NHNN&PTNT5 có: Tổng tài sản: 705.365 tỷ đồng; Tổng nguồn vốn: 626.390 tỷ
đồng; Vốn điề u lê ̣: 29.605 tỷ đồng; Tổng dư nợ: trên 530.600 tỷ đồng; Mạng lưới
hoạt động: gầ n 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc , Chi nhánh
Campuchia.
Như vậy có thể thấy NHNN&PTNT là ngân hàng quan trọng nhất trong hệ
thống tín dụng nông thôn Việt Nam, là nguồn bơm vốn chủ đạo cho khu vực nông
nghiệp. Ước tính của DERP (2012) cho dữ liệu VARHS trong ba năm 2006, 2008
và 2010 cho thấy khoản vay từ NHNN&PTNT chiếm trung bình 30% trên tổng số
khoản vay của các hộ tham gia khảo sát.
2.4.2.2 Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam
Ngân hàng Chính sách Xã Hội (NHCSXH) có tiền thân là Quỹ vì người
nghèo6 được thành lập vào đầu năm 1993, nhằm mục tiêu cung cấp tín dụng ưu đãi
đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng
căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ
nghèo,... Quỹ được hoạt động thông qua NHNN&PTNT.
Đến tháng 8/1995 Quỹ được thay thế bằng Ngân hàng Việt Nam vì người
nghèo (VBP) cũng do NHNN&PTNT quản lý. VBP được ra đời hoạt động như một
tổ chức tín dụng vi mô phi lợi nhuận cung cấp những khoảng vay dưới chuẩn và
không thế chấp cho hộ gia đình nghèo ở nông thôn. VBP đã thành công trong việc

5

Xem thêm giới thiệu NHNN&PTNT: http://agribank.com.vn/101/782/gioi-thieu/thong-tin-chung.aspx

[Truy cập ngày 15/10/2014]
6

Xem thêm giới thiệu NHCSXH: http://vbsp.org.vn/gioi-thieu/lich-su-hinh-thanh.html [Truy cập ngày

15/10/2014]

18

tăng số lượng hộ nghèo được tiếp cận tín dụng (DERP, 2012). Năm 2003,
NHCSXH được thành lập trên cơ sở VBP hoạt động độc lập với NHNN&PTNT. Kể
từ đó, NHNN&PTNT hoạt động trên cơ sở thương mại và NHCSXH hoạt động
chuyên cung cấp tín dụng ưu đãi (tín dụng vi mô) cho người nghèo.
Các khoản vay từ NHCSXH có xu hướng tăng nhanh ở khu vực nông thôn,
các nguồn vay từ NHCSXH đang thay thế các khoản vay từ NHNN&PTNT (DERP,
2012). Báo cáo thường niên của NHCSXH năm 2012, tính đến 31/12/2012
NHCSXH có tổng dư nợ 113.921 tỷ đồng; với mức dư nợ bình quân đạt 16 triệu
đồng/khách hàng (tăng 13,5 triệu đồng/khách hàng so với mức cho vay bình quân từ
những ngày đầu đi vào hoạt động năm 2003), tổng doanh số thu nợ trong năm đạt
22.787 tỷ đồng và tổng doanh số cho vay đạt 33.027 tỷ đồng; hỗ trợ trên 98 nghìn
lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp hơn 3 triệu lượt học sinh, sinh
viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 4,2 triệu công
trình cung cấp nước sạch, công trình nhà tiêu hợp vệ sinh ở nông thôn, gần 484
nghìn căn nhà cho hộ nghèo,… Đến cuối năm 2012, Ngân hàng Chính sách xã hội
đã giúp hơn 21,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận.
Như vậy, có thể thấy NHCSXH cũng là một kênh vốn chính thức quan trọng
giúp cho người nghèo có nguồn vốn để phát triển trong những năm qua. Cùng với
NHNN&PTNT hai ngân hàng đã đang góp phần vào sự phát triển của nông nghiệp,
thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Cung cấp cho người dân nông thôn những cơ
hội phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập và nâng cao phúc lợi.
2.5 Các nghiên cứu liên quan
Tín dụng nông thôn ra đời dựa trên giả định rằng hạn chế tín dụng rằng buộc
hộ gia đình đạt được các mục tiêu sản xuất trong nông nghiệp (IFAD, 2009). Tín
dụng nông nghiệp ra đời như một công cụ phát triển hiệu quả cho cuộc chiến chống
đói nghèo. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới công nhận rằng việc cung cấp các
dịch vụ tài chính cho người có thu nhập thấp là một phương tiện mạnh mẽ giúp họ
có cơ hội thoát nghèo và cải thiện cuộc sống. Các cuộc nghiên cứu thực nghiệm ược

19

tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau, tập trung xem xét tác động của chương trình
tín dụng đến hộ gia đình khu vực nông thôn ở các mặt: cải thiện phúc lợi, giảm
nghèo, giảm bất bình đẳng,... và thường được đánh giá tác động thông qua thu nhập
và chi tiêu hộ gia đình (xem thêm tổng hợp của Morduch and Haley, 2001).
Nghiên cứu của Diagne (1998). Nghiên cứu tác động của tiếp cận tín dụng đối
với thu nhập và an ninh lương thực hộ gia đình ở Malawi. Sử dụng dữ liệu thu thập
vào năm 1995 và 1996 trong một cuộc khảo sát 3 vòng với 404 hộ gia đình ở 45
làng và 5 huyện của Malawi. Sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn kết hợp ước
lượng OLS để ước tính kết quả trước sau của chương trình. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu không tìm thấy bất kì một tác động có ý nghĩa thống kê nào lên phúc lợi
hộ gia đình ở Malawi.
Nghiên cứu của Kiiru and Machakos (2007). Nghiên cứu tương tự cho
Kenya. Tác giả khảo sát 200 hộ tham gia tín dụng và 200 hộ không tham gia tín
dụng của một huyện ở Kenya nhằm đánh giá sâu tác động của tham gia tín dụng
đối với hộ gia đình. Các tác giả ước lượng bằng phương pháp DID bằng cách ước
lượng tác động trước và sau chương trình với với dữ liệu chéo sau đó đánh giá sự
khác biệt trong khác biệt giữa trước và sau. Kết quả mô hình không mang lại một
kết quả tác động có ý nghĩa thống kê của tín dụng chính thức lên thu nhập hộ gia
đình.Trong nghiên cứu này các tác giả sử dụng cách đánh giá tác động trong thời
gian khá ngắn (khoảng 6 tháng), trong khi một tác động của chương trình lên hộ
gia đình cần có sự quan sát dài hơn. Các yếu tố được tác giả xác định ảnh hưởng
mạnh đến thu nhập hộ gia đình là quy mô hộ và trình độ học tập.
Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương và Izumida (2002). Sử dụng dữ liệu chéo từ
cuộc khảo sát cá nhân của 300 hộ gia đình ở ba tỉnh: Ninh Bình, Quảng Ngãi và An
Giang để xem xét các yếu tố tác động đến loại hình tham gia tín dụng và tác động
của tham gia tín dụng đến thu nhập của nông hộ. Sử dụng mô hình hồi quy tuyến
tính hai giai đoạn với log thu nhập sản xuất là biến phụ thuộc để đánh giác tác động
lên thu nhập. Kết quả mô hình ghi nhận tác động đáng kể trong ngắn hạn của tham