Tải bản đầy đủ
2 Vai trò của vốn tín dụng trong nông nghiệp

2 Vai trò của vốn tín dụng trong nông nghiệp

Tải bản đầy đủ

9

2.2.2 Vai trò của vốn tín dụng nông thôn
Tín dụng nông thôn là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong nông nghiệp. Theo
Đinh Phi Hổ (2008) vốn cho khu vực nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các
nguồn sau: Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp là vốn tự do, do nông dân
tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng; Vốn đầu tư của ngân
sách là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước; Vốn từ tín
dụng nông thôn là nguồn vốn vay đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và
các doanh nghiệp nông nghiệp; Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment FII) và đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment FDI). Vai trò bổ sung của vốn từ tín dụng đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà
tích lũy vốn cá nhân hộ gia đình, đầu tư của chính phủ hay đầu từ nước ngoài vào
ngành nông nghiệp còn rất hạn chế.
Tín dụng nông thôn là cần thiết cho phát triển nông nghiệp. Nó không chỉ giải
quyết những thất bại thị trường vốn cho khu vực nông thôn, mà còn là một yếu tố
quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi
sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới trong nông nghiệp (Atiena, 1997; Barslund và Tarp,
2008; Phạm Bảo Dương, 2013). Đối với Việt Nam, tiếp cận tín dụng nông nghiệp
vai trò đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông thôn, nơi mà sản xuất nông nghiệp
đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với khoảng 80% dân số
sống ở khu vực này và nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp (Phạm Bảo Dương,
2013).
Tín dụng nông thôn là công cụ phát triển hiệu quả trong chính sách giảm
nghèo và cải thiện đời sống hộ gia đình. Nghiên cứu tổng hợp của Morduch and
Haley (2001) kết luận rằng các chương trình tín dụng nông thôn có thể giúp hoàn
thành 6 trên 7 tiêu chí của mục tiêu thiên niên kỷ. Những nghiên cứu của Nguyễn
Việt Cường (2008) và Phan Đình Khôi (2012) cho Việt Nam cũng đồng quan điểm
về vai trò tín dụng giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu hộ gia đình ở nông thôn.

10

Tín dụng giúp gia tăng phúc lợi hộ gia đình nông thôn. Thông qua chức năng
giúp làm mịn tiêu dùng, các khoản tín dụng giúp người dân nông thôn có điều kiện
cải thiện sức khỏe, gia tăng đầu tư cho giáo dục nhờ đó tạo ra cơ hội kinh tế, thay
đổi động lực hộ gia đình (Banerjee and Duflo, 2007; Quibria, 2012).
Tín dụng giúp giảm bất bình đẳng về giới. Những nghiên cứu ở Bangladesh
cho thấy tín dụng nông thôn giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ và giảm bất
bình đẳng giới ở Quốc gia này (Quibria, 2012).
2.2.3 Vai trò của các ngân hàng trong thị trƣờng tín dụng nông thôn
Các tổ chức tín dụng ngân hàng là thành tố giữ vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn (Lê Thanh Tâm, 2008). Về mặt tài
chính các tổ chức thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ, thực hiện các chức
năng quan trọng là: huy động vốn; tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư và tạo điều kiện
thị trường thuận lợi cho thương mại và dịch vụ phát triển, nhờ đó giúp giảm nghèo
và cải thiện thu nhập hộ gia đình. Về khía cạnh xã hội, các tổ chức ngân hàng tạo ra
cơ hội cho dân chúng nông thôn – nhất là những người nghèo nhất tiếp cận được
với dịch vụ tài chính, thông qua đó tăng cường năng lực xã hội của họ.
Các tổ chức ngân hàng nông thôn có thể tác động đến thu nhập hộ gia đình
bằng cách trực tiếp hay gián tiếp. Thông qua cung cấp vốn cho các tổ chức, đơn vị
sản xuất kinh doanh ở khu vực nông nghiệp, các ngân hàng gián tiếp tạo ra nhu cầu
đầu vào cho các sản phẩm nông nghiệp, các dịch vụ liên quan và phát triển thị
trường việc làm ở nông thôn. Hay thông qua chức năng tài trợ vốn, các định chế
ngân hàng trực tiếp gia tăng nguồn lực hộ gia đình, hỗ trợ thanh khoản, giúp hộ gia
đình có cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất. Nhờ đó mà giảm nghèo và cải thiện thu
nhập cho hộ dân nông thôn.
Các dịch vụ tài chính khu vực ngân hàng cung cấp cho nông hộ một cơ chế dự
phòng rủi ro. Sản xuất nông nghiệp dễ bị tổn thương bởi các yếu tố ngoại sinh vì
vậy thu nhập trong nông nghiệp thường có tính bất định. Khi có các biến động về
kinh tế gia đình, hộ gia đình có thể đối phó bằng cách sử dụng các khoản tiết kiệm

11

đã gửi hoặc vay vốn từ ngân hàng, thay vì phải bán các tài sản của hộ, gây ảnh
hưởng xấu đến khả năng tạo ra thu nhập trong tương lai của hộ. Sử dụng các dịch
vụ tài chính đảm bảo cho hộ gia đình tiếp tục tăng thu nhập và gây dựng tài sản.
2.2.4 Đặc điểm và vai trò nhà nƣớc trong thị trƣờng tín dụng nông thôn
Thị trường tín dụng nông thôn có đặc điểm không hoàn hảo. Sự không hoàn
hảo này phát sinh từ bản chất của hệ thống sản xuất nông nghiệp4:
Chi phí giao dịch. Thị trường tín dụng nông thôn hoạt động trong một khu vực
rộng lớn, khách hàng phân tán, giá trị các khoản vay nhỏ và cơ sở hạ tầng yếu kém
làm tăng chi phí tiếp cận vốn, chi phí vốn cao do tính độc quyền của các nhà cung
cấp tín dụng địa phương. Bên cạnh đó, thông tin kém minh bạch làm tăng chi phí
thông tin, cho phí giám sát.
Rủi ro tín dụng, sự bất định về thu nhập. Rủi ro thị trường tín dụng nông thôn
cao do đặc tính dễ tổn thương trong sản xuất nông nghiệp và thiếu tài sản đảm bảo.
Nền nông nghiệp nói chung bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố thời tiết và khí hậu.
Tính không ổn định của giá cả các đầu vào và đầu ra của nông nghiệp làm giảm khả
năng trả nợ của hộ gia đình. Bên cạnh đó, thiếu các tài sản đảm bảo, quyền sở hữu
hạn chế đối với đất đai, ngăn cản tham gia thị trường từ những nhà cung cấp.
Vốn tín dụng chính thức từ phía Chính phủ đóng vai trò hết sức quan trọng để
khắc phục sự thất bại của thị trường, đảm bảo cho tiếp cận tín dụng của hộ gia đình
ở nông thôn (DERP, 2012). Thị trường tín dụng nông thôn chứa đựng tính rủi ro cao
do sự bất định về thu nhập và minh bạch của thông tin. Vì vậy, các tổ chức tài chính
không phải luôn luôn sẵn sàng để cho vay tiền, họ cần phải có thông tin về hộ gia
đình, cá nhân và các công ty tìm kiếm khoản vay (Shimek and Sengupta, 2007). Do
đó, tiếp cận tín dụng đặc biệt hạn chế cho người nghèo, do không có khả năng để
cung cấp tài sản thế chấp (DERP, 2012). Aubert et al. (2009) cũng cho rằng việc
tham gia cung cấp tín dụng trực tiếp từ phía Chính phủ tạo động lực cho các tổ chức
4

Xem thêm Sadoulet and de-Janvry (1995) chương 6, trang 9 – 10.

12

tín dụng có được thông tin minh bạch về những khách hàng tiềm năng, giúp họ
tham gia thị trường và chọn ra những đối tượng phù hợp.
2.3 Mối quan hệ giữa tín dụng với thu nhập hộ gia đình
Trong nghiên cứu nay, tác giả sử dụng mô hinh hành vi ra quyết định của nông
hộ được Sadoulet and de-Janvry trình bày trong “Phân tích định lượng chính sách
phát triển” xuất bản năm 1995 để đi tìm mối tương quan giữa yếu tố tiếp cận tín
dụng với thu nhập hộ gia đình.
Sadoulet and de-Janvry (1995) nhận thấy rằng trong khi thị trường hoạt động
hoàn hảo thì các hộ gia đình vẫn giữ lại một phần sản phẩm (họ sản xuất ra) và sức
lao động để tiêu dùng (sử dụng) trong gia đình. Khi thực phẩm hay lao động trong
gia đình dư thừa thì hộ mới bán ra hay tham gia vào thị trường lao động. Ngược lại,
nếu sản xuất ít hơn tiêu dùng hoặc cung lao động ít hơn nhu cầu, thì hộ gia đình là
người mua ròng hoặc sử dụng lao động ròng. Chi tiêu cho thực phẩm trong trường
hợp này đến từ nguồn thu nhập khác như bán nông sản hay bán sức lao động trên thị
trường.
Trong thị trường hoàn hảo quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng chỉ phụ thuộc
vào mức độ thu nhập sản xuất nông nghiệp đạt được. Trong thị trường không hoàn
hảo quyết định sản xuất và tiêu dùng liên quan mật thiết với nhau. Nông hộ quyết
định sản xuất (nông nghiệp), tiêu dùng và bán sức lao động phụ thuộc vào chí phí
giao dịch đặc trưng cho các hộ và lượng tư liệu sản xuất họ nắm giữ.
Mô hình hộ gia đình trong điều kiện hoàn hảo thị trường và hộ gia đình phân
tách là điều khó xảy ra trong thực tế. Hộ gia đình thường nằm trong một môi trường
đặc trưng có sự thất bại trên thị trường ở một số sản phẩm của hộ, một số yếu tố sản
xuất của hộ hoặc thậm chí không tồn tại thị trường do hạn chế về tính pháp lý.
Trong điều kiện thất bại thị trường quyết định sản xuất hay tiêu dùng (làm việc) mô
hình hộ gia đình không phân tách được trình bày dưới dạng rút gọn:

13

q = q(𝑝, zq, zh, S, K) cho sản xuất, và
c = c(𝑝, zq, zh, S, K) cho tiêu dùng, với:
-

q là lượng hàng hóa sản xuất bao gồm thực phẩm và thu hoạch hoa lợi;

-

c là lượng hàng hóa tiêu dùng bao gồm thực phẩm, chi trả cho hàng hóa và
thời gian rỗi;

-

𝑝 là giá hiệu quả thị trường;

-

zq là các đặc trưng sản xuất (các yếu tố cố định và diện tích canh tác);

-

zh là các đặc trưng hộ gia đình;

-

S là chuyển giao ròng;

-

K là tiếp cận tín dụng.

Thất bại thị trường phổ biến xảy ra trong khu vực sản xuất nông nghiệp ở thị
trường vốn. Do sản xuất nông nghiệp có tính rủi ro cao và yếu tố thu nhập bất định
nên hạn chế tiếp cận nguồn vốn tín dụng thường xảy ra. Vì vậy, các vụ mùa sản
xuất không chỉ cần sự cân đối thu nhập và chi tiêu hàng năm mà còn cần dự trù chi
phí có thể phát sinh do mất mùa. Hạn chế tiếp cận tín dụng, khiến cho việc giữ cho
ngân sách cân bằng càng khó khăn hơn, trong khi vẫn đảm bảo chi tiêu thấp hơn
hoặc bằng lợi nhuận. Vì vậy, hạn chế tín dụng ngăn cản sản xuất và tiêu dùng có
được sự lựa chọn tối ưu. Trong thị trường tín dụng bị hạn chế thì quyết định sản
xuất của nông hộ thuộc vào giá cả hiệu quả thị trường 𝑝 , các đặc trưng sản xuất,
đặc trưng của hộ và tiếp cận tín dụng: q = q(𝑝, zq, zh, K).
Như vậy, qua mô hình lý thuyết trên có thể thấy việc tiếp cận tín dụng trong
thị trường vốn nông thôn không hoàn hảo giúp nông hộ có được sự lựa chọn tối ưu
trong quyết định sản xuất, thông qua đó tác động thu nhập của nông hộ.