Tải bản đầy đủ
7 Kết cấu đề tài

7 Kết cấu đề tài

Tải bản đầy đủ

6

Chƣơng 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Khái niệm
2.1.1 Khái niệm về nông hộ
Khái niệm hộ:
Hộ gia đình là một khái niệm rộng trải khắp các nền văn hóa, và đến nay vẫn
chưa có khái niệm thống nhất chung. Theo phòng thống kê Liên Hợp Quốc2 hộ gia
đình có thể chia thành hộ gia đình một thành viên hoặc hộ gia đình nhiều thành
viên: “Hộ gia đình một thành viên được định nghĩa là một sự sắp xếp trong đó một
người tự cung cấp thực phẩm và các yếu tố cần thiết khác mà không kết hợp với bất
kì người khác.” hay “Hộ gia đình nhiều thành viên được định nghĩa là một nhóm
của hai hay nhiều người chung sống với nhau, người lập dự phòng chung cho thực
phẩm hoặc yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống.”
Theo quan điểm Haviland (2003) thì hộ gia đình được hiểu là một đơn vị xã
hội bao gồm một hay một nhóm người cùng chia sẻ bữa ăn và không gian sống. Hộ
gia đình bao gồm khái niệm gia đình, tuy nhiên những thành viên trong hộ có thể có
hoặc không có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng hoặc cả hai.
Xét trên quan điểm kinh tế học Sadoulet and de-Janvry (1995) lại cho rằng yếu
tố cơ bản để xác định hộ gia đình đó là sự đồng nhất trong quyết định sách lược tạo
ra thu nhập và cách sử dụng thu nhập.
Như vậy, để phân định hộ gia đình cần phải căn cứ vào các đặc điểm sau:
- Hộ là một nhóm người chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Những người này cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.

2

http://unstats.un.org/unsd/demographic/sconcerns/fam/fammethods.htm

7

Khái niệm nông hộ:
Ellis định nghĩa:“Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế
sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia
đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc
trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức
độ không hoàn hảo cao” (Ellis, 1993, p.19).
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa3: “Một hộ gia đình
được xem là hộ nông nghiệp khi có ít nhất một người trong gia đình đang điều hành
một tổ chức (hộ nông dân) có thể là chủ hộ hay thành viên khác hoặc khi nguồn thu
nhập chính của hộ đạt được từ hoạt động kinh tế nông nghiệp”.
Như vậy, nông hộ là những hộ gia đình tham gia và có thu nhập từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp độc lập, thu nhập này có thể đến từ chủ hộ hoặc các thành
viên khác trong hộ. Thu nhập của nông hộ không chỉ đến từ các hoạt động sản xuất
trên đồng ruộng của hộ mà còn bao gồm thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp
ngoài nông trại và thu nhập từ các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.
2.1.2 Khái niệm về tín dụng nông thôn chính thức
Quỹ phát triển nông nghiệp thế giới định nghĩa: “Tài chính nông thôn là các
giao dịch tài chính liên quan đến các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
diễn ra giữa các hộ gia đình và các thể chế ở khu vực nông thôn” (IFAD, 2009,
p.11). Tài chính nông thôn bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính cần cho nông dân và
gia đình nông thôn, không chỉ là hoạt động tín dụng như: nhận tiền gửi, chuyển tiền,
bảo hiểm,...
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay
(Lê Thanh Tâm, 2008). Như vậy, tín dụng nông thôn là một bộ phận trong tài chính
nông thôn. Nó là cách tiếp cận đơn năng của tài chính nông thôn, cung cấp thị

3

OECD, ngày truy cập 15/10/2014, đường dẫn: http://stats.oecd.org/glossary/detail.asp?ID=73

8

trường vốn cung cấp những khoảng vay cho các hoạt động sản xuất ở khu vực nông
thôn. Các đối tượng sử dụng dịch vụ này là các hộ gia đình nông dân, trang trại,
kinh doanh nông sản, các doanh nghiệp nông thôn và người lao động không có đất
canh tác.
Tín dụng nông thôn chính thức được hiểu là các khoản vay được cung cấp bởi
các tổ chức tín dụng thuộc khu vực chính thống được Chính phủ ủy quyền và phải
tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng (Lê Thanh Tâm,
2008).
2.2 Vai trò của vốn tín dụng trong nông nghiệp
2.2.1 Vai trò của vốn trong nông nghiệp
Mô hình Park S.S (1992) phân chia quá trình phát triển nông nghiệp là ba giai
đoạn: sơ khai, đang phát triển và phát triển. Trong mỗi giai đoạn phát triển, sản
lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào khác nhau:
- Trong giai đoạn sơ khai, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
cá nhân. Sản xuất nông nghiệp theo quy luật năng suất biên giảm dần và phụ thuộc
vào các yếu tố tự nhiên như: đất đai, thời tiết, khí hậu và lao động, giai đoạn vốn
đầu tư vật chất ít;
- Giai đoạn hai, bên cạnh các yếu tố tự nhiên và lao động, sản lượng nông
nghiệp phụ thuộc vào khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào khu vực công nghiệp
như: phân bón, thuốc hóa học. Năng suất đất tăng lên tương ứng với lượng phân
bón và thuốc sử dụng, sau đó năng suất giảm theo quy luật năng suất biên giảm dần.
Vốn bắt đầu trở nên cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp từ giai đoạn này;
- Giai đoạn phát triển nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng, sản lượng nông
nghiệp phụ thuộc vào yếu tố công nghệ thâm dụng vốn.
Như vậy, có thể nhận thấy vốn là đầu vào quan trọng của sản xuất nông
nghiệp. Sản xuất nông nghiệp càng phát triển thì nhu cầu về vốn cho sản xuất của
nông hộ càng tăng nhanh.

9

2.2.2 Vai trò của vốn tín dụng nông thôn
Tín dụng nông thôn là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong nông nghiệp. Theo
Đinh Phi Hổ (2008) vốn cho khu vực nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các
nguồn sau: Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp là vốn tự do, do nông dân
tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng; Vốn đầu tư của ngân
sách là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước; Vốn từ tín
dụng nông thôn là nguồn vốn vay đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và
các doanh nghiệp nông nghiệp; Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment FII) và đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment FDI). Vai trò bổ sung của vốn từ tín dụng đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà
tích lũy vốn cá nhân hộ gia đình, đầu tư của chính phủ hay đầu từ nước ngoài vào
ngành nông nghiệp còn rất hạn chế.
Tín dụng nông thôn là cần thiết cho phát triển nông nghiệp. Nó không chỉ giải
quyết những thất bại thị trường vốn cho khu vực nông thôn, mà còn là một yếu tố
quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi
sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới trong nông nghiệp (Atiena, 1997; Barslund và Tarp,
2008; Phạm Bảo Dương, 2013). Đối với Việt Nam, tiếp cận tín dụng nông nghiệp
vai trò đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông thôn, nơi mà sản xuất nông nghiệp
đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với khoảng 80% dân số
sống ở khu vực này và nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp (Phạm Bảo Dương,
2013).
Tín dụng nông thôn là công cụ phát triển hiệu quả trong chính sách giảm
nghèo và cải thiện đời sống hộ gia đình. Nghiên cứu tổng hợp của Morduch and
Haley (2001) kết luận rằng các chương trình tín dụng nông thôn có thể giúp hoàn
thành 6 trên 7 tiêu chí của mục tiêu thiên niên kỷ. Những nghiên cứu của Nguyễn
Việt Cường (2008) và Phan Đình Khôi (2012) cho Việt Nam cũng đồng quan điểm
về vai trò tín dụng giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu hộ gia đình ở nông thôn.