Tải bản đầy đủ
3 Kiểm toán bền thiết bị khoan.

3 Kiểm toán bền thiết bị khoan.

Tải bản đầy đủ

Tời khoan: Tải trọng cực đại trên móc khi tời hoạt động là Q =
500T>201.6T. Vậy tời khoan đã chọn đáp ứng được yêu cầu về tải trọng trong
quá trình nâng thả.
7.3.2. Kiểm toán động cơ khoan.
Đối với việc kiểm toán động cơ khoan, ta đi kiểm toán động cơ khoan
theo công suất. Khi tiến hành khoan mở vỉa thì trọng lượng cột cần khoan là lớn
nhất và công suất mà động cơ khoan phải bỏ ra để thực hiện quay bộ dụng cụ
khoan và phá hủy đất đá là lớn nhất, sau đây ta đi kiểm toán công suất động cơ
khoan trong trường hợp này.
Công suất động cơ khoan được tính theo công thức:
N=N+N+N

(7-34)

Trong đó: - N: công suất tiêu thụ bề mặt.
N = a×n + a×n

(7-35)

Trong đó: - a, a: Hệ số tổn hao công suất dẫn động theo thực
nghiệm. a1=25×10-3; a2=0.12×10-3.
- n: Tốc độ quay của động cơ ( vòng/ phút), n=90
(vòng/phút).
Thay các thông số vào công thức (7-35) ta có:
N = 25×10-3×90 + 0.12×10-3 ×90 =3.22 (hp).
- N : công suất quay động cơ không tải
N = C×γ ×D ×n×L

(7-36)

Trong đó: - C: Hệ số phụ thuộc vào độ cong của giếng, với giếng
có độ cong < 3 lấy C = 1.88×10 .
- γ: tỷ trọng của dung dịch khoan, γ = 1.2 G/ cm.
- D : Đường kính choòng khoan, D = 215.9mm.
- L: chiều dài thân giếng. L=3272.98m.
Thay các thông số trên vào công thức (7-36) ta được:
N = 1.88×10×1.2×0.2159×90×3252.71 = 7.18(hp).
- N: Công suất tiêu thụ ở choòng.
124

N = 34.2×10×K×G×D×n

(7-37)

Trong đó: - K: Hệ số phụ thuộc độ mòn của choòng. K= 0.3.
- G : tải trọng đáy. G = 20T = 20000 kG.
Thay số vào (7-37) ta có:
N = 34.2×10×0.3×20000×0.2159×90 = 398.72 (hp).
Công suất mà động cơ diêzen tiêu tốn khi khoan ở chiều sâu tối đa là:
N= 3.22+7.18+398.72 = 409.12 (hp).
Công suất cực đại của đông cơ là: N = 1395 hp > 409.12hp. Vậy động cơ
khoan có đủ công suất để thi công giếng khoan.
7.3.3. Kiểm toán máy bơm trám.

Hiện nay trên giàn khoan cố định sử dụng 3 máy bơm trám mang nhãn
hiệu Fracmaster - Triplex được dẫn động bởi 2 động cơ diezen. Để kiểm toán
máy bơm ta kiểm toán theo 2 thông số áp suất bơm trám và thời gian bơm trám.
- Về áp suất bơm trám: Ta thấy máy bơm trám với đường kính xi lanh
127mm,áp suất bơm trám cực đại cho phép là 578.23 at lớn hơn áp suất lớn nhất
khi ta bơm trám cột ông chống khai thác đường kính 245mm là 153.52 at. Vậy
áp suất máy bơm có thể đáp ứng được yêu cầu khi bơm trám.
- Về thời gian bơm trám: Như ở phần tính toán bơm trám thì 2 máy bơm
trám hoàn toàn đáp ứng được thời gian yêu cầu khi bơm trám.

125

CHƯƠNG VIII
PHỨC TẠP, SỰ CỐ TRONG QUÁ TRÌNH KHOAN VÀ CÔNG TÁC AN
TOÀN LAO ĐỘNG
8.1. Những phức tạp thường gặp trong công tác khoan, [2,tr.24-73]
8.1.1. Hiện tượng sập lở đất đá và các biện pháp phòng ngừa
8.1.1.1. Hiện tượng sập lở đất đá

Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là đất đá ở thành giếng kém bền vững,
nước thấm vào vỉa phá vỡ đất đá làm trương nở sét ngoài ra cung có thể do lưu
lượng dung dịch bơm lớn làm xói mòn thành giếng, hiệu ứng piston do kéo thả
bộ dụng cụ khoan;
8.1.1.2. Các biện pháp ngăn ngừa

Sử dụng dung dịch chất lượng cao, độ thải nước nhỏ để tạo ra vỏ sét mỏng chặt
xít hạn chế khả năng mất dung dịch thấm vào vỉa qua thành giếng, hạn chế lưu
lượng bơm khi khoan qua các tầng đất đá yếu, có độ thẩm thấu cao.
8.1.2. Hiện tượng mất dung dịch khoan
8.1.2.1. Các nguyên nhân chủ yếu gây ra

Hiện tượng mất dung dịch có thể xẩy ra trong quá trình khoan và bơm trám xi
măng. Nguyên nhân chủ yếu là sự chênh lệch áp suất giữa cột dung dịch khoan
và áp suất vỉa, do vỉa có độ thấm cao, nứt nẻ, do hoạt động kiến tạo sẽ làm cho
một phần hay toàn bộ dung dịch đi vào vỉa. Ta có thể phân chia các vùng mất
dung dịch như sau:
- Tầng Plioxen - đệ tứ, Mioxen thượng có độ rỗng và độ thẩm thấu cao thường
xảy ra hiện tượng mất dung dịch cục bộ với thể tích không lớn;
- Tầng Mioxen và Oligoxen có hàm lượng sét cao chủ yếu là các tập bột sét kết
dễ trương lở và có dị thường áp suất. Khi sử dụng dung dịch có tỷ trọng lớn do
sự xâm nhập và lắng đọng các pha rắn, sự thay đổi các thông số của dung dịch,
sự hấp thụ nước của sét cũng dẫn tới sự mất dung dịch ở vùng này;
- Trong quá trình khoan hiện tượng mất dung dịch cũng xảy ra do hiện tượng
piston khi nâng thả bộ khoan cụ, các vết nứt của vỉa trong quá trình khoan và
ranh giới giữa các địa tầng.

126

8.1.2.2. Các biện pháp phòng chống mất dung dịch

Để hạn chế hiện tượng mất dung dịch ta phải đảm bảo tốc độ kéo thả bộ khoan
cụ và chống ống cho hợp lý. Đối với các vùng có nguy cơ mất dung dịch cao
như khi khoan gần hết tầng Oligoxen và tầng móng có thể cho thêm vào dung
dịch các chất độn (như vỏ trấu, xơ dừa, các chất dạng sợi…). Đồng thời dự trữ
đầy đủ nguyên liệu cần thiết khi xẩy ra hiện tượng mất dung dịch để xử lí.
8.1.3. Sự xuất hiện của dầu, khí hoặc nước phun trào,[1,tr.62-71]
8.1.3.1. Dấu hiệu báo trước và nguyên nhân xuất hiện

* Dấu hiệu báo trước:
- Dấu hiệu trực tiếp: Tăng thể tích dung dịch trong bể chứa, tăng tốc độ
dòng chảy của dung dịch từ đáy giếng khoan, thể tích dung dịch tiếp nhận trong
bể chứa ít hơn so với thể tích tính toán, tăng thể tích khí trong dung dịch, dung
dịch lên có nhiều bọt.
- Dấu hiệu gián tiếp: Tăng tốc độ cơ học khoan, thay đổi chỉ số của dung
dịch, thay đổi áp suất bơm và các thông số chế độ khoan.
* Nguyên nhân xuất hiện:
Có sai sót trong việc xác định áp suất vỉa, khi thi công giếng khoan và kiểm tra
không đầy đủ các thông số của vỉa trong quá trình khảo sát mỏ.
- Giảm áp suất thuỷ tĩnh lên vỉa;
- Sử dụng dung dịch có tỷ trọng nhỏ hơn tỷ trọng dung dịch thiết kế;
- Giảm thấp chiều cao của cột dung dịch;
- Không bơm rót dung dịch vào giếng khi kéo cần tại các vỉa đã mở;
- Có sự chuyển và mất áp suất giữa các vỉa đã mở;
- Giếng khoan dừng lâu khi đã mở tầng sản phẩm mà không bơm rửa;
- Tăng hàm lượng khí trong dung dịch trong quá trình khoan không áp dụng biện
pháp làm kín miệng giếng khi có dấu hiệu dầu khí.
8.1.3.2. Hành động của các thành viên trong kíp khoan khi có dấu hiệu phun
- Ngừng các công việc khi có dấu hiệu dầu khí;
- Sử dụng dung dịch có tỷ trọng đúng với thiết kế;
127

- Luôn theo dõi các thông số dung dịch nếu thấy hiện tượng như trên phải
điều chỉnh lại các thông số dung dịch, nhất là phải tăng tỷ trọng dung dịch, độ
nhớt và ứng suất cắt tĩnh;
- Hàng tháng phải kiểm tra các mặt bích của thiết bị chống phun, đường
ống và cụm Manhephon;
- Khi kéo thả thường xuyên phải rót dung dịch vào giếng;
- Để kịp thời dập tắt sự xuất hiện dầu khí trước hết phải nhanh chóng hàn
kín miệng giếng bằng cách đóng các đối áp mà trước đó thường xuyên phải
kiểm tra sự hoàn thiện của nó và các mối nối giữa chúng. Khi ngừng tuần hoàn
kéo cần khoan lên khỏi bàn roto cần phải đóng đối áp vạn năng, nếu không có
đối áp vạn năng thì đóng đói áp tấm trên, theo dõi áp suất trong và ngoài cần.
Trong trường hợp áp suất trong ống cao hơn áp suất cho phép thỉ phải xả áp suất
dư đồng thời với việc bơm dung dịch nặng;
- Lúc kéo thả nếu bắt gặp sự xuất hiện dầu khí cũng phải ngừng ngay sự
kéo thả và thực hiện các công việc như trên;
- Lúc giếng khoan trống, hoặc đang đo địa vật lý hay bắn mìn thì
cũng ngừng ngay các công tác đó kéo dụng cụ lên và làm các công việc tương tự
trên khi thấy có sự xuất hiện dầu khí.
8.2. Những sự cố thường gặp trong công tác khoan
8.2.1. Hiện tượng kẹt mút bộ cần khoan
8.2.1.1. Nguyên nhân xảy ra sự cố

Sự cố kẹt cần khoan chủ yếu là do bó hẹp thành giếng khoan, ngoài ra hiện
tượng kẹt cần khoan do chênh lệch áp suất cột dung dịch và áp suất vỉa, hiện
tượng này xảy ra mạnh mẽ ở những đoạn thân giếng nghiêng khi cột cần vào
thành giếng.
8.2.1.2. Các biện pháp phòng tránh

- Dùng hệ thống tời kéo và quay bàn roto với lực kéo cho phép lớn nhất
mà không xẩy ra hiện tượng biến dạng cần khoan.
- Sử dụng thiết bị lắc đập:
+ Sử dụng thiết bị lắc đập thì trước hết phải tháo đoạn cần tự do trên điểm
tựa bằng cách quay trái bộ cần ở trạng thái không nén lực hoặc nhờ dây đạn nổ;
+ Cần phải đặt khoá an toàn trên cần nặng vì đó là nguy hiểm nhất khi bị
kéo kẹt. Bộ khoá an toàn sẽ cho phép tháo được nhanh chóng;
128

+ Trước khi thả thiết bị lặc đập phải kiểm tra vỏ và ren bằng khoá máy;
+ Nếu kẹt ở độ sâu không lớn 800 ÷ 1000m phải lắp 50 ÷ 80m cần nặng
trực tiếp trên thiết bị lắc đập. Khi thả tất cả các đầu nối đều phải xiết chặt bằng
khoá máy;
+ Khi đã nối thiết bị lắc đập vào bộ phận bị kẹt thì tiến hành đập 12 ÷ 15
phút trong tình trạng căng cột cần. Lực đập và lực kéo trong suốt thời gian thực
hiện phải băng nhau;
+ Nếu sau 5 ÷6 chu kỳ lắc đập mà không có kết quả thì phải dừng lại 10 ÷
15 phút. Tiếp tục các chu kỳ lặc đập với lực đập và kéo lớn hơn. Lực đập đầu
tiên bằng một phần trọng lượng bộ dụng cụ 12 ÷ 13Tấn. Sau mỗi chu kỳ tăng 2
÷ 3Tấn;
+ Lực kéo cực đại không quá 15 ÷ 20Tấn (không kể trọng lượng bộ dụng
cụ đặt phía trên thiết bị lặc đập);
+ Nếu bộ phận bị kẹt được giải phóng một phần thì phải xác định điểm
được giải phóng lên. Sau đó thực hiện các quy trình tiếp theo để giải phóng nốt
phần còn lại.

8.2.1.3. Các biện pháp cứu chữa

* Tiến hành cứu kẹt do sập lở thành giếng
Để giải phóng bộ khoan cụ ta có thể tiến hành các biện pháp sau:
- Tác động lực kéo lên cột cần khoan, bơm rửa dung dịch đặc biệt qua
khoảng không vành xuyến nhằm bôi trơn, hoà tan cacbonat, có thể dùng dầu thô
hoặc dung dịch axit Clohydric;
- Nếu bộ khoan cụ không giải phóng theo phương pháp trên ta co thể tiến
hành tháo phần tự do của cột cần khoan nhờ sức công phá của khôi thuốc nổ, sau
đó sử dụng dụng cụ chụp Colocon bên trên có lắp búa thuỷ lực tạo ra xung lực
để giải phóng bộ khoan cụ. Nếu biện pháp trên không thành công ta có thể đổ
cầu xi măng mở thân giếng mới.
* Tiến hành cứu kẹt do chênh áp
Ngoài các biện pháp cứu kẹp thông thường ta còn có thể sử dụng các biện
pháp sau:

129

- Sử dụng dung dịch bôi trơn để giảm ma sát giữa cột cần khoan và thành
giếng, kết hợp các tác động cơ học;
- Giảm áp suất cột dung dịch trong phạm vi cho phép.
8.2.2. Sự cố đứt tuột cần khoan
8.2.2.1. Nguyên nhân

Sự cố đứt tuột cần khoan là sự cố chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 70% số lượng các
sự cố xẩy ra trong quá trình khoan. Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cố
này như:
 Nguyên nhân do con người:

- Trong quá trình khoan không giám sát chặt quá trình khoan. Bộ dụng cụ
đáy bị kẹt cứng tuy nhiên ở trên chưa phát hiện ra vì vậy mômen xoắn của cột
cần lớn hơn mức cho phép dẫn tới đứt cần khoan;
- Trong quá trình tính toán thiết kế chọn bộ khoan cụ không chính xác dẫn
tới điểm trung hoà vượt lên trên đoạn cần khoan chứ không nằm ở đoạn cần
nặng. Đoạn cần khoan sẽ không đủ điều kiện bền mỏi trong quá trình làm việc
nó cũng dẫn tới sự cố đứt cần.
 Nguyên nhân thiết bị không đủ bền để đáp ứng cho quá trình làm việc do thiết bị cũ, có khuyết
tật không phát hiện ra.

8.2.2.2. Dụng cụ cứu chữa đối với cần khoan

- Metric: Dùng trong trường hợp cần khoan bị đứt hay tuột ren ở vùng đầu
nối. Để bắt nối với cần khoan còn lại ta tạo ren trái phía trong của cần khoan và
tháo từng phần cột cần khoan;
- Côlôcôn: dùng trong trường hợp cần khoan bị đứt ở chân, hay những cần khoan
dùng Met trích để cứu nhưng không thành công, ta dùng Côlôncô để tiện ren bên ngoài cần
khoan;
- Ống hom giỏ: Dùng trong trường hợp bị đứt cần khoan có đường kính lớn, đầu nối
bị biến dạng hay đứt không đồng đều, khi sử dụng với Côlôncô không an toàn ta sử dụng ống
hom giỏ;
- Ống chụp: Nếu chỗ đứt gãy không phẳng và có thể bị nứt dọc, thì dùng ống chụp mà
cần khoan có thể chui qua, có lắp thêm một đoạn ống thích hợp;
- Dao cắt: Khi cần khoan bị kẹt không thể kéo lên được, sau khi đã dùng nhiều biện
pháp cứu chữa như ngâm dầu, axit, bắn mìn . . . Ta dùng dao cắt và lấy cần khoan lên. Dao cắt
có 2 loại là dao cắt bên ngoài và dao cắt bên trong.

8.2.3. Sự cố rơi các dụng cụ xuống đáy
8.2.3.1. Nguyên nhân

- Các dụng cụ bị lỏng trong quá trình làm việc;
130

- Không giữ cẩn thận ở miệng lỗ khoan trong thời gian nâng thả cũng như
khi kéo hết cần ra khỏi miệng lỗ khoan;
- Thao tác nâng thả sai trong quá trình nâng và tháo vặn cần;
- Làm việc thiếu chú ý ở miệng lỗ khoan.
Cần khoan có thể bị rơi, bởi quá trình nâng thả clevatơ bị hỏng. Hay trong
quá trình nâng thả không chú ý đóng elevatơ. Cũng có thể gây ra do thao tác
nâng thả cần khoan bị tháo ren. Trong khi rơi choòng khoan bị cắm xuống đáy
và cần bị cong và có trường hợp không thể nào lấy lên được.
Cần nặng bị rơi có thể do không sử dụng các chấu chèn đặc biệt dùng cho cần
nặng. Còn rơi các dụng cụ khác có thể do những sơ suất, hay do bị hư hỏng trong
quá trình làm việc. Hậu quả của nó có thể gây nên kẹt cần, rơi xuống đáy. Ngăn
cản quá trình tiếp tục khoan.
8.2.3.2. Các biện pháp giải quyết

Trong trường hợp choòng khoan bị đứt hay tượt ở đầu nối, Nếu vị trí của nó ở
thế thẳng đứng. Người ta dùng Met trích đặc biệt để cứu . Nếu như không thể
cứu được bằng phương pháp này thì người ta dùng các phay đặc biệt để khoan
phá. Sau đó các phoi bị phá được lấy lên nhờ đầu chụp hay doa nam châm.
8.2.4. Sự cố đối với choòng khoan
8.2.4.1. Nguyên nhân

- Kiểm tra không kĩ chất lượng choòng khoan trước khi khoan;
- Thời gian sử dụng choòng khoan để khoan quá lâu làm cho các chóp
khoan bị mài mòn nhất là ổ đỡ;
- Các thông số chế độ khoan không hợp lý nhất là tải trọng đáy và tốc độ
quay;
- Do khuyết tật của choòng trong quá trình chế tạo;
- Khi đưa choòng vào làm việc, bị kẹt ở giếng do đường kính lỗ khoan bị
bó hẹp lại.
8.2.4.2. Dấu hiệu nhận biết

- Mômen quay trên bàn roto tăng do ổ bi chóp bị kẹt;
- Rung lắc bộ cần khoan;
- Giảm tốc độ cơ học 2 - 2,5 lần với cùng một chế độ khoan trước.
131

8.2.4.3. Biện pháp phòng ngừa và cứu chữa
- Biện pháp phòng ngừa:
+ Kiểm tra kĩ chất lượng choòng khoan đặc biệt là ổ đỡ của các chóp xoay trước khi thả vào
giếng;
+ Lựa chọn các choòng khoan phải phù hợp với cột địa tầng và tính chất cơ học của đất đá của
từng khoảng khoan;
+ Chế độ khoan phải tuân thủ nghiêm ngặt theo thiết kế.

- Phương pháp cứu chữa:
Khi choòng bị rơi xuống đáy giếng khoan, nếu nó ở thế thẳng đứng ta có
thể dùng Metric dặc biệt kể cứu chữa. Nếu không được ta có thể sử dụng choòng
khoan phay khoan với tốc độ chậm và tải trọng đáy nhỏ đủ để nghiền nát chóp
xoay, rồi nhờ đầu chụp hoặc doa nam châm để lấy các mảnh vụn lên mặt đất
Khi choòng bị kẹt mà đang sử dụng chế độ khoan tuốcbin ta không thể
giải phóng cần khoan bằng cách quay cột cần khoan, vì khi đó chỉ có vỏ động cơ
trục vít quay còn choòng vẫn đứng yên. Vì vậy, để có thể quay choòng khoan
cần phải làm kẹt động cơ trục vít bằng cách thả vào trong cột cần các vật kim
loại nhỏ. Sau đó ta bơm rửa để các vật nhỏ này chui vào trong động cơ trục vít,
quay cột cần bằng roto với tốc độ nhỏ các vật kim loại sẽ rơi vào giữa các cánh
của động cơ tầng trên và phá hủy các cánh này. Các mảnh vụn của cánh động cơ
sẽ chui xuống tầng dưới và làm kẹt roto và stato. Khi trục động cơ đã bị kẹt ta
quay cột cần và đưa choòng lên vì khi đó quay cột cần chính là quay luôn cả
động cơ.
8.3. Công tác an toàn lao động và vệ sinh môi trường
8.3.1. Các yêu cầu và biện pháp cơ bản của kỹ thuật phòng chữa cháy và an toàn
lao động

- Việc tổ chức các công tác bảo vệ lao động và kỹ thuật an toàn trên giàn
khoan cố định, thực hiện theo quy chế đối với giàn khoan cố định được soạn
thảo dựa trên các yêu cầu của hệ thống quản lý bảo hộ lao động trong công
nghiệp dầu khí, các nội quy quyết định của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro;
- Vấn đề an toàn của các công tác trên giàn khoan phải được thực hiện
theo các quy chế hiện hành về an toàn lao động trong công nghiệp dầu khí (cơ
quan an toàn lao động Matxcơva), các quy chế trong thăm dò và khai thác dầu
khí trên thềm lục địa. Trên cơ sở quy chế này và xem xét các điều kiện cụ thể
của việc thăm dò và khai thác ở nước ta mà xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đã
đưa ra các hướng dẫn về an toàn lao động cụ thê trong công tác khoan trên biển;
132

- Trên giàn khoan phải được trang bị các phương tiện kỹ thuật an toàn
hiện đại có thể báo trước sự cố có thể sảy ra trên giàn khoan, bảo đảm vệ sinh
công nghiệp, ngăn ngừa các chứng bệnh nghề nghiệp của công nhân và nhân
viên trên giàn, đồng thời trên giàn khoan phải được trang bị các phương tiện cấp
cứu tập thể;
- Việc huấn luyện kỹ thuật an toàn phải được tiến hành thường xuyên và
thực hiện theo đúng điều lệ của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro;
- Hệ thống ánh sáng phải được đảm bảo cho công nhân viên trên giàn. Do
tính liên tục của quá trình công nghệ khoan trên biển mà công tác khoan đòi hỏi
cao về độ sáng tại nơi làm việc, các tiêu chuẩn về độ sáng được nêu trong nội
quy an toàn của xí nghiệp;
- Tiếng ồn và độ rung: tại nơi làm việc ngoài việc sắp xếp hợp lý độ sáng
thích hợp, cần phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc giảm tiếng ồn
độ rung đến mức tiêu chuẩn cho phép. Các phương tiện bảo vệ do viện nghiên
cứu an toàn lao động Liên Bang Nga quy định nhằm giảm tiếng ồn và độ rung
tại nơi làm việc;
- Việc phân bố thành phần và số lượng phương tiện cấp cứu xử lý sự cố
phải tương ứng với điều kiện trên giàn;
- Các công tác bốc dỡ hàng phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo của người
có trách nhiệm;
- Phòng cháy chữa cháy trên giàn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của
quy chế an toàn trong thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam,
trên các giàn phải có đội cơ động hoạt động theo kế hoạch xử lý sự cố. Trên các
giàn phải có dự trữ các chất làm nặng, dầu mỡ, điều khiển thuỷ lực đối áp. Việc
thử hệ thống đối áp tiến hành với sự có mặt của đại diện ban phòng chống phun.
8.3.2. An toàn lao động khi khoan các giếng dầu và khí

- Việc khoan chỉ được bắt đầu khi công tác lắp ráp thiết bị khoan đã kết
thúc và được hội đồng nghiệm thu, tham gia vào hội đồng nghiệm thu có đại
diện của cán bộ phòng an toàn lao động;
- Việc khoan trên biển chỉ do những người được học chuyên ngành về
khoan thực hiện;
- Trước lúc bắt đầu khoan cần phải:
+ Rửa sàn khoan, giá để cần, máy khoan và các nơi khác;
133

+ Thu dọn tất cả các thiết bị không liên quan có thể gây trở ngại cho công
việc khoan;
+ Kiểm tra lại động cơ khoan, cho động cơ hoạt động thử, kiểm tra đầu xa
- nhích;
+ Kiểm tra lại các máy móc khác (đồng hồ đo áp suất, đồng hồ đo trọng
lượng,…);
- Trước khi khoan giếng phải lắp thiết bị đối áp trên miệng giếng và thiết
bị này phải đảm bảo độ an toàn trong quá trình làm việc;
- Kiểm tra lại ròng rọc tĩnh, ròng rọc động, móc xa- nhich và các thiết bị
khác. Cần đặc biệt chú ý đến việc gia cố các bộ phận của chúng, các bulông nối
các thiết bị cần phải được hãm chặt;
- Khi khoan có khả năng xuất hiện dầu khí, kíp trưởng phải biết chắc là
trên giàn khoan hiện có hai van ngược đã được ép thử có điều kiện phù hợp với
điều kiện cần khoan đang sử dụng;
- Nếu trước khi khoan đã tiến hành công tác sửa chữa thì trước lúc sắp cho
máy chạy phải dọn hết các đồ vật không cần thiết (Bulông, ecu, dụng cụ cầm
tay…) từ các thiết bị được sửa chữa.
8.3.3. Những nhiệm vụ và biện pháp đầu tiên của đơn vị khoan khi có báo đ ộng
cháy

* Nhiệm vụ của kíp khoan:
- Khi có xuất hiện dầu khí phun nhanh chóng làm kín miệng giếng, sau 5 10 phút phải ghi lại áp suất dư bên ngoài cần, áp suất dư trong cần, thể tích dung
dịch trong bể chứa;
- Công việc tiếp theo được tiến hành theo lệnh của đốc công, kỹ sư trưởng
hay giàn trưởng.
* Biện pháp đầu tiên của ca khi khoan hoặc kéo thả cần:
- Kíp trưởng: ngừng ngay tuần hoàn, kéo cần đến khi đầu nối với cần
vuông lên khỏi bàn roto. Lắp van bi xoay vào cần khoan (khi dưới cần vuông
không có) mở van thuỷ lực trên đường Manhephone bơm dung dịch khoan. Bố
trí theo dõi và ghi lại áp suất ở ngoài cần. Trường hợp áp suất trong ống tăng cao
hơn áp suất cho phép, theo lệnh của kỹ sư và giàn trưởng, xả áp suất dư đồng thời
bơm dung dịch nặng;
134