Tải bản đầy đủ
b. Lựa chọn các cột ống chống

b. Lựa chọn các cột ống chống

Tải bản đầy đủ

45

Để bảo đảm được như vậy là ta đã thiết lập được một hệ thống số chế độ
khoan cho các khoản khoan một cách tối ưu. Có một tốc độ quay tối ưu, lưu lượng
nước rửa hợp lý khi tải trọng phá huỷ lên choòng phù hợp nhất.
Trên quan điểm như vậy ta tiến hành tính toán để lựa chọn các thông số chế
độ khoan. Song ta có thể thừa hưởng các kinh nghiệm đã được tổng kết lại khi
khoan các giếng trước đây tại mỏ Bạch Hổ để lựa chọn sao cho chế độ khoan của
giếng thiết kế được phù hợp với điều kiện địa chất, chỉ tiêu kỹ thuật của giếng.
5.2.Lựa chọn phương pháp khoan cho giếng 126 – BK15
Lựa chọn phương pháp khoan cho các công đoạn khoan
Các yếu tố cơ bản để lựa chọn phương pháp khoan cho từng khoảng khoan:
-

Độ sâu và hình dạng thân lỗ khoan

-

Tính chất cơ lý của đất đá khoan qua

-

Thiết bị dẫn động hiện có

Trong khoan dầu khí thường sử dụng 3 phương pháp khoan: khoan roto, khoan
Tuabin, khoan bằng động cơ điện. Hiện nay trong xí nghiệp khoan thường sử dụng
2 phương pháp cơ bản là: khoan bằng động cơ TopDrive và khoan Tuabin. Việc lựa
chọn phương pháp khoan có ý nghĩa rất quan trọng ở giai đoạn thiết kế qui trình
công nghệ khoan, quyết định các giải pháp kỹ thuật như: chế độ công nghệ khoan,
thủy lực, bộ cần khoan, loại giàn khoan, công nghệ gia cố giếng khoan,...
Trong các giếng khoan tại vùng mỏ Rồng, hiện nay người ta sử dụng phương
pháp khoan chính là khoan Roto, Top Driver và khoan động cơ đáy.
Trong phương pháp khoan bằng động cơ đáy ở vùng mỏ Bạch Hổ thường sử
dụng một trong hai loại: Tuabin và động cơ trục vít. Nhưng ngày nay chủ yếu sử
dụng động cơ đáy là động cơ trục vít, hệ thống lái chỉnh xiên POWERDRIVER,
RSS…
a. Phương pháp khoan bằng roto
Phương pháp khoan roto là phương pháp khoan truyền chuyển động quay từ bàn
roto đến choòng thông qua cột cần khoan làm cho choòng khoan cùng quay.

• Ưu điểm của phương pháp khoan bằng roto:
- Phương pháp khoan roto có thể điều chỉnh độc lập và hợp lý các thông số chế
độ khoan.
- Đảm bảo sự làm việc tối ưu của choòng khoan trong các lớp đất đá khác
nhau.
MSSV 1221010220

Page 45

46

- Công suất bơm dung dịch không cần lớn như trong khoan bằng tuabin.
- Các thiết bị đặt trên mặt nên dễ bảo dưỡng sửa chữa.
- Có thể khoan được các giếng sâu hơn 5000m và nhiệt độ vỉa lớn.

• Nhược điểm:
- Phương pháp khoan roto gây mất mát công suất lớn do ma sát.
- Thường xảy ra sự cố đối với cột cần khoan do các ứng suất sinh ra trong quá
trình khoan, trong các giếng khoan nghiêng định hướng.
- Tốc độ quay của choòng không lớn như khoan tua bin nên phương pháp
khoan này không được áp dụng khi khoan với choòng kim cương.
b. Phương pháp khoan bằng Top driver
Phương pháp khoan bằng động cơ Top drive hoạt động dựa trên nguyên lý tương
tự như phương pháp khoan roto, chuyển động quay được tryền tới choòng khoan
thông qua cột cần khoan để phá hủy đất đá. Top drive là thiết bị ngoài việc là động
cơ làm quay choòng khoan thông qua cột cần khoan nó còn thực hiện chức năng
như đầu xoay thủy lực thông thường.

• Ưu điểm của phương pháp khoan bằng Top drive.
- Không phải sử dụng cần chủ đạo nên có thể thao tác lắp bộ khoan cụ ở mọi
độ cao.
- Cho phép giảm thời gian tiếp cần do có thể tiếp cần dựng (ba cần đơn) trong
quá trình khoan.
- Khắc phục sự cố kẹt bộ dụng cụ hiệu quả hơn so với khoan Roto vì động cơ
Top Drive có khả năng vừa quay vừa kéo bộ dụng cụ.
- Lấy mẫu khoan dài.

• Nhược điểm của phương pháp khoan bằng Top drive.
- Tiếp cần sát đáy dễ xẩy ra sự cố kẹt nhất là ở các tầng sập lở.
- Phải lắp đặt một hệ thống dẫn hướng trong tháp để khử mô men cản.
- Phải gia cố kết cấu tháp do có lực xoắn phụ.
- Phải có các ống mềm hoặc có cáp tải điện phụ trong tháp khoan.
- Tăng đáng kể khối lượng trên cao.
- Tăng giá thành thiết bị và nhất là phải chăm sóc bảo dưỡng nhiều hơn so với
hệ thống bàn Roto.
c. Phương pháp khoan bằng động cơ đáy
Phương pháp khoan bằng động cơ đáy là phương pháp khoan truyền chuyển
động cho choòng khoan bằng tua bin(trục vít) khoan đặt ngay trên choòng khoan,
MSSV 1221010220

Page 46

47

trong quá trình khoan thì cột cần khoan không quay. Động cơ tua bin (trụ vít) ở đáy
quay được là nhờ năng lượng dòng chảy của dung dịch. Hiện nay người ta không sử
dụng Tuabin mà chủ yếu sử dụng động cơ trục vít.
*Phương pháp khoan bằng động cơ trục vít.
Đặc điểm của phương pháp này là công suất phá hủy đất đá được truyền trực
tiếp từ động cơ trục vít tới choòng khoan nhờ năng lượng của dòng chảy dung dịch.

• Ưu điểm:
-

-

Cột cần khoan chịu tải nhẹ, hiện tượng mỏi
sinh ra do tải trọng động đặc biệt là ứng suất xoắn, uốn có giá trị nhỏ nên làm giảm
các sự cố về cần, tránh được sự mài mòn các bộ phận của cần và các thiết bị quay
trên mặt (do cột cần không quay).
Thuận lợi cho khoan xiên định hướng với góc
nghiêng lớn.
Bảo dưỡng và sửa chữa ít tốn kém.

• Nhược điểm:
-

Đặc tính của động cơ trục vít có số vòng quay lớn làm cho thời gian làm việc của
choòng chóp xoay ngắn do sự mài mòn nhanh của ổ tựa.
Ở những hệ tầng đất đá dẻo đòi hỏi phải có mômen phá hủy đất đá lớn thì một số
loại động cơ trục vít không đáp ứng được điều này.
Dễ kẹt mút hơn do cột cần khoan không quay ở đoạn có dung dịch đặc, độ nhớt lớn.
Vùng làm việc ổn định của động cơ trục vít hẹp, nếu ra ngoài vùng này thì động cơ
ngừng làm việc.
Trong khoan động cơ trục vít công suất thủy lực của máy bơm lớn hơn nhiều so với
khoan rotor, do đó đòi hỏi máy bơm phải có công suất lớn.
Động cơ đáy trục vít là do roto chế tạo hình rãnh xoắn nên tổn hao áp suất qua động
cơ đáy, đòi hỏi máy bơm có công suất lớn. Do đó nó bị hạn chế khi khoan ở chiều
sâu lớn.
*Phương pháp khoan bằng động cơ đáy (powerdriver).
• Giới thiệu.
Powerdriver là thế hệ mới nhất sử dụng công nghệ khoan xoay và lái của
Schlumberger. Nó được thiết kế cho phép điều khiển hoàn toàn quỹ đạo giếng trong
khi chuổi cần khoan vẫn xoay. Kỹ thuật điều khiển hướng choòng được xây dựng để
có thể đưa choòng khoan về hướng mong muốn trong khi vẫn tiếp tục xoay chuỗi
cần. Thiết bị không dùng định tâm trượt, thay vào đó là một động cơ phụ đặt bên

MSSV 1221010220

Page 47

48

trong sẽ liên tục điều khiển hướng của choòng cũng như bộ khoan cụ. Ưu điểm này
giúp ta có thể điều khiển thiết bị lái một cách độc lập và chắc chắn, có thể áp dụng
trong nhiều điều kiện khác nhau của giếng, giúp giảm thời gian và chi phí khoan.

• Các đặc trưng của PowerDriver.
-

Phạm vi lưu lượng dòng chảy rộng.
Vận tốc xoay dưới giếng tối đa 350 vòng/phút
Liên tục báo cáo về góc nghiêng và góc phương vị trong khi khoan
Xác địng hướng đặt bộ khoan cụ theo từ trường và trọng lực.
Có khả năng xác định các mặt trượt.
Giao tiếp qua kênh dẫn thiết bị năng lượn thấp (low power tool bus)
tương thích với hệ thống thuỷ lực của MWD.
Các lệnh điều khiển truyền xuống đáy giếng khoan được chấp nhận mọi
lúc, ngay cả khi đang tiến hành khoan.
Giảm các đoạn uốn khúc trong giếng.
Tăng khả năng truyền tải trọng lên choòng khoan nhờ vào khả năng xoay
liên tục.
Nâng cao hiệu quả làm sạch đáy lỗ khoan
Điều khiển quỹ đạo giếng tốt hơn và tiếp cận mục tiêu chính xác hơn.
Giảm hiệu ứng gợn sóng trong các giếng khoan ngang.
Giảm những đoạn gấp khúc không cần thiết

• Ưu và nhược điểm của PowerDriver:
Ưu điểm:
PowerDriver là một thiết bị khoan rất linh hoạt, nó có thể hoạt động độc lập
hoặc kết hợp với các thiết bị khác. Ngoài ra nó còn là một thiết bị đáng tin cậy,
trong số 20 giếng khoan xiên định hướng đạt kỷ lục thế giới về độ dời đáy thì đã có
tới 6 giếng có sử dụng PowerDriver. Trong đó PowerDriver đã khoan giếng có độ
dời đáy cao nhất là 35,196 ft (10727,74 m) ở nước Anh vào năm 1997.
PowerDriver rất có ưu thế trong khoan xiên cũng như khoan ngang với khả năng
kiểm soát quỹ đạo tuyệt đối, giảm hiện tượng kẹt cần và sự cố trong khi khoan.
PowerDriver giúp mô tả chính xác điều kiện giếng khoan. Rất nhiều phép đo
được thực hiện để thu thập các dữ liệu quan trọng về giếng khoan và thành hệ, giúp
ta luôn kiểm soát được tình trạng bộ khoan cụ và các trang thiết bị dưới giếng.

- Gia tăng tối đa thời gian khoan thực tế, tăng vận tốc cơ học khoan.

MSSV 1221010220

Page 48

49

- Giảm thời gian tuần hoàn dung dịch và tối ưu hiệu quả mang mùn khoan lên bề mặt,
-

tránh hiện tượng lắng đọng mùn khoan gây kẹt cần.
Loại trừ thời gian dừng để chỉnh hướng bộ khoan cụ
Tạo ra những lỗ khoan đều và mịn hơn, giúp tránh những phức tạp trong quá trình

-

thả ống chống và và bơm trám xi măng cho ống chống suốt và ống chống lửng.
Thích hợp khoan những giếng ở mỏ cận biên vốn đòi hỏi độ chính xác về quỹ đạo

-

và chất lượng giếng khoan cao.
Thích hợp các giếng thăm dò, giếng đa nhánh, với độ dời đáy cao.
PowerDriver có thể nâng cao hiệu quả khoan định hướng từ 30% đến 50% so
với công nghệ khoan thông thường, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể.
Nhược điểm:

- Nhược điểm lớn nhất của PowerDriver hiện nay là giá thành, chi phí đầu tư ban đầu
-

cao sẽ ngăn cản nhà đầu tư trong việc ứng dụng PowerDriver.
Không hoạt động hiệu quả trong môi trường nhiệt độ trên 150oC.
Không hoạt động hiệu quả khi khoan qua tầng đá móng, tầng gây mất dung dịch

-

nghiêm trọng.
Các chi tiết bên trong rất tinh vi, đắt tiền và các linh kiện điện tử rất dễ hỏng, do đó,
đòi hỏi người vận hành và bảo dưỡng thiết bị phải được đào tạo chuyên nghiệp.

-

Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng phương pháp cho những khoảng khoan
trên. Căn cứ vào điều kiện cụ thể về địa chất, về hình dạng thân giếng, công nghệ
thi công ... ta lựa chọn các phương pháp khoan cho giếng 126 – BK15 như sau:
Khoảng khoan từ 0 ÷ 250 m: Đoạn này tiến hành khoan mở lỗ, đất đá mềm và bở
rời, đường kính lỗ khoan lớn đòi hỏi mô men quay lớn do đó ta chọn phương pháp
khoan bằng động cơ Top Drive.

-

Khoảng khoan từ 250 ÷ 3066 m: Đây là đoạn thẳng đứng của giếng khoan. Ta chọn
phương pháp khoan bằng động cơ Top Drive.

-

Khoảng khoan từ 3066 ÷ 4122 m: Đây là đoạn tăng góc nghiêng với điểm cắt xiên
tại chiều sâu 3089 m. Do đó, khoảng khoan này ta lựa chọn phương pháp khoan
bằng động cơ đáy để cắt xiên và tăng góc nghiêng.

-

Khoảng khoan từ 4122 ÷ 4582 m: Đây là đoạn thuộc đoạn ổn định góc nghiêng,
đất đá trong khoảng này có độ cứng từ mềm đến trung bình. Để đảm bảo việc ổn
định góc nghiêng theo yêu cầu thiết kế, ta chọn phương pháp khoan bằng động cơ
Top Drive.

MSSV 1221010220

Page 49

50

-

Khoảng khoan từ 4582 ÷ 4873 m: Đây là khoảng khoan ổn định góc nghiêng vào
tầng đá móng có độ cứng lớn, phương pháp khoan bằng động cơ Top Drive.

Bảng 5.1.Bảng lựa chọn phương pháp khoan cho từng khoảng khoan.
Khoảng khoan

Phương pháp khoan

Từ÷ Đến
85 ÷ 250m
250 ÷ 3066m
3066 ÷ 4122 m
4122 ÷ 4582m

Khoan bằng động cơ Top Drive
Khoan bằng động cơ Top Drive
Khoan bằng động động cơ đáy
Khoan bằng động cơ Top Drive

44582 ÷ 4873m

Khoan bằng động cơ Top Drive

5.3. Lựa chọn thông số chế độ khoan cho các công đoạn khoan
5.3.1 Tính toán lưu lượng
a. Phương pháp xác định lưu lượng cho các khoảng khoan
* Tính toán lưu lượng cho khoan động cơ đáy:
- Lưu lượng lớn nhất cho phép khoan được ở chiều sâu L được tính theo
công thức:
Qmax = 3

7,5.N .η b
( A p + A + B.L).γ d

(l/s)

Trong đó:
N: Công suất của máy bơm (mã lực);
ηb: Hiệu suất của máy bơm;
γd: Trọng lượng riêng của dung dịch (G/cm3);
Ap: Hệ số tổn thất áp suất ở tuabin;
Ap =

PT
γ d .Q 2

PT: Là áp suất tiêu thụ ở tuabin.
A: Hệ số tổn thất áp suất không phụ thuộc chiều dài cột ống.
A = abm + acn.lcn + ac + at
abm: Hệ số tổn thất áp suất ở bề mặt;
acn: Hệ số tổn thất trong cần nặng;

MSSV 1221010220

Page 50

(5.1)

51

ac: Hệ số tổn thất áp suất ở các lỗ thoát nước của choòng khoan.;
ac =

1,2
F2

F: Tổng tiết diện các lỗ thoát nước của choòng khoan. (mm2)
at: Hệ số tổn thất áp suất thực nghiệm.
lcn: Chiều dài cần nặng. (m)
B: Hệ số tổn thất áp suất phụ thuộc chiều dài cột cần khoan
a dn
B = atc + l + avx

atc: Hệ số tổn hao áp suất trong cần khoan.
adn: Hệ số tổn hao áp suất tại đầu nối.
l: Chiều dài cần dựng. (m)
avx: Hệ số tổn hao áp suất ở không gian vành xuyến.
L: Chiều dài cột cần. (m)
- Lưu lượng nhỏ nhất cho phép đảm bảo rửa sạch đáy và nâng mùn khoan lên
được tính theo công thức:
Qmin =

Π
.( D 2 − d 2 ).Vmin .10 3
4
(l/s)

(5.2)

Trong đó:
D: Đường kính lỗ khoan. (m)
d: Đường kính cần khoan. (m)
Vmin: Tốc độ đi lên tối thiểu của dung dịch ở khoảng không vành xuyến.
- Từ hai công thức (5.1) và (5.2) ta chọn lưu lượng máy bơm khoan Q thoả
mãn điều kiện: Qmin < Q < Qmax
Với lưu lượng Q đã chọn ta có thể xác định chiều sâu cho phép khoan với lưu
lượng đó:
Lcf =

7,5.N .η b − ( A p + A).γ .Q 3
B.γ .Q 3

m.
(5.3)
Nếu Lcf chưa đạt được chiều sâu thiết kế, chúng ta chọn lưu lượng bé hơn
nhưng vẫn nằm trong khoảng Qmax > Q > Qmin, như thế chiều sâu Lcf sẽ tăng lên
* Tính toán lưu lượng cho khoan bằng động cơ Top Drive:
Khoan bằng động cơ Top Drive cũng hoạt động dựa trên nguyên lý xoay bộ
dụng cụ giống như trong khoan Roto, vì vậy ta có thể áp dụng các công thức tính
toán trong khoan Roto vào trong khoan bằng động cơ Top Drive.

MSSV 1221010220

Page 51

52

- Lưu lượng lớn nhất cho phép khoan được ở chiều sâu L được tính theo
công thức:
Qmax = 3

7,5.N .η b
( A + B.L).γ d

(l/s)

(5.4)

trong đó:
A=abm+acn.lcn+ ac

(5.5)

- Lưu lượng nhỏ nhất cho phép được tính theo công thức:
Qmin =

Π
.( D 2 − d 2 ).Vmin .10 3
4
(l/s)

(5.6)
- Từ hai công thức (5.4) và (5.6) ta chọn lưu lượng máy bơm khoan Q thoả
mãn điều kiện: Qmin < Q < Qmax
Với lưu lượng Q đã chọn ta có thể xác định chiều sâu cho phép khoan với lưu
lượng đó:
Lcf =

7,5.N .η b − A.γ .Q 3
B.γ .Q 3
m.

(5.7)
Nếu Lcf chưa đạt được chiều sâu thiết kế, chúng ta chọn lưu lượng bé hơn
nhưng vẫn nằm trong khoảng Qmax > Q > Qmin, như thế chiều sâu Lcf sẽ tăng lên.
b.Tính toán lưu lượng cho các khoảng khoan
*Tính toán lưu lượng cho khoảng khoan từ 0 ÷ 250 m
Khoảng khoan này ta sử dụng phương pháp khoan bằng động cơ Top Drive, ta
tiến hành tính toán lưu lượng cho khoảng khoan này như sau:
- Tính toán lưu lượng lớn nhất cho phép:
Ta có:
Công suất máy bơm:
N = 1600 HP.
Hiệu suất máy bơm:

ηb = 0,9.

Chiều dài cột cần khoan trong khoảng khoan này là: L = 250 m.
Trọng lượng riêng của dung dịch: γd = 1,03G/cm3.
Tra bảng ta có các thông số như sau:
Hệ số tổn thất áp suất ở bề mặt:
abm = 250.10-5.
Đối với :
+ Cần nặng 228,6mm: acn = 2.10-5, lcn = 28,2m.
+ Cần nặng 203,2mm: acn = 2,24.10-5, lcn = 28,2m.
Chiều dài cần nặng: lcn = 56,40m.

MSSV 1221010220

Page 52

53

F: Tổng tiết diện các lỗ thoát nước của choòng khoan 660,4 L111. Choòng
khoan này gồm 3 vòi phun thuỷ lực với đường kính mỗi vòi là d v = 20,6 mm. Vậy F
được tính như sau:
π
F = 3. .d v2 = 999,37
4
(mm2)

Ta được hệ số tổn thất áp suất ở các lỗ thoát nước của choòng khoan là:
ac =

1, 2
= 0,12.10−5
2
999,37

Hệ số tổn thất áp suất trong cần khoan: atc = 1480.10-8.
Hệ số tổn hao áp suất tại đầu nối: adn = 8,6.10-8.
Chiều dài cần dựng: l = 28,2 m.
Hệ số tổn hao áp suất ở không gian vành xuyến: avx = 0,08.10-8.
- Hệ số tổn thất áp suất không phụ thuộc chiều dài cột ống được tính theo công
thức (5.5) là:
A = 250. 10-5 + (2,24+2).10-5.56,4 + 0,12.10-5
A = 489,26.10-5
- Hệ số tổn thất áp suất phụ thuộc chiều dài cột cần khoan theo công thức ta
8,6.10 −8
B = 1480.10-8 + 28,2 + 0,08.10-8 = 1480,38.10-8

được :
- Thay các thông số tìm được vào công thức (5.4) ta được lưu lượng máy bơm
cực đại:
Qmax =

3

7,5.1600.0,9
= 107,86
( 489, 26.10 + 1480,38.10−8.250 ) .1, 03
−5

(l/s)
- Tính toán lưu lượng nhỏ nhất đảm bảo rửa sạch đáy và nâng mùn khoan lên
được tính theo công thức (5.6):
trong đó:
D = 0,6604.1,3 = 0,8585m (D = M.Dc).
d = 0,127m.
Vmin = 0,1m/s.
Thay các thông số này vào công thức trên ta được:
Qmin =

MSSV 1221010220

π
.(0,85852 − 0,127 2 ).0,1.103 = 56, 6
4
(l/s).

Page 53

54

Từ những tính toán trên ta chọn lưu lượng cho máy bơm trong khoảng khoan
từ 0 ÷ 250m là: 60(l/s) ≤ Q ≤ 110(l/s).
Thực tế khoảng khoan này lưu lượng được chọn là: 50(l/s) ≤ Q ≤ 65(l/s).

-

*Tính toán lưu lượng cho khoảng khoan từ 3066 ÷ 4122 m
Khoảng khoan này ta sử dụng phương pháp khoan bằng động cơ đáy, ta tiến
hành tính toán lưu lượng cho khoảng khoan này như sau:
Tính toán lưu lượng lớn nhất cho phép:
Ta có:
Công suất máy bơm: N = 1600 HP.
Hiệu suất máy bơm: ηb = 0,9.
Chiều dài cột cần khoan trong khoảng khoan này là: L = 4122 m.
Trọng lượng riêng của dung dịch: γd = 1,25 G/cm3.
Tra bảng ta có các thông số sau:
Hệ số tổn thất áp suất ở bề mặt: abm = 250 10-5.
Hệ số tổn thất trong cần nặng: acn = 5,9.10-5.
Chiều dài cần nặng: lcn = 71,80 m.
Hệ số tổn thất áp suất ở các lỗ thoát nước của choòng khoan:
ac =

1,2
F2

F là tổng diện tích các lỗ thoát nước của choòng khoan 311,1 mm. Choòng
khoan này gồm 7 vòi phun thủy lực với đường kính mỗi vòi là d v = 11,1 mm. Vậy F
được tính như sau:
π
F = 7. .11,12 = 677.04
4
mm2

Thay vào công thức trên ta được:
ac =

1, 2
= 0, 26.10 −5
2
677, 04

Hệ số tổn thất trong cần khoan: atc = 1480.10-8.
Hệ số tổn thất áp suất tại đầu nối: adn = 8,6.10-8.
Chiều dài cần dựng: l = 28,2 m.
Hệ số tổn hao áp suất ở không gian vành xuyến: avx = 0,08.10-8.
Hệ số tổn thất áp suất thực nghiệm: at = 205.10-5.
Hệ số tổn thất áp suất không phụ thuộc chiều dài cột ống được tính theo công
thức:
A = abm + acn.lcn + ac
MSSV 1221010220

Page 54

55

A = 250.10-5 + 5,9.10-5.71,80 + 1,1.10-5 + 0,26.10-5 = 675.10-5
Ap là hệ số tổn thất áp suất của tuabin.
Ap =

PT
γ d .Q 2

PT là áp suất tiêu thụ ở tuabin.
Dựa vào bảng thông số của động cơ đáy ta chọn Ap = 8,5.10-3.
Hệ số tổn thất áp suất phụ thuộc chiều dài cần khoan:
B = atc +
B = 1480.10 −8 +

a dn
+ a vx
l

8,6.10 −8
+ 0,08.10 −8 = 1480,38.10 −8
28,2

Thay các thông số tìm được vào công thức (5.1) ta tính được lưu lượng của
máy bơm cực đại:
Qmax =

3

7,5.1600.0,9
= 48,38
( 8,5.10−3 + 675.10−5 + 1480,38.10−8.4122 ) .1, 25

l/s.
Tính toán lưu lượng nhỏ nhất đảm bảo rửa sạch đáy và nâng mùn khoan lên
được tính theo công thức (5.2):
Qmin =

π
.( D 2 − d 2 ).Vmin .10 3
4
(l/s).

trong đó:
D = 311,1.1,1 = 342,21 mm = 0,34221 m.
d = 0,127 m.
Vmin = 0,2 m/s.
Thay các thông số này vào công thức trên ta được:
Qmin =

π
.(0,342212 − 0,127 2 ).0, 2.103 = 15,85
4
l/s.

Từ những tính toán trên ta chọn lưu lượng cho máy bơm trong khoảng khoan
này là: 20 (l/s) ≤ Q ≤ 50 (l/s). Nhưng thực tế đã chọn lưu lượng cho khoảng khoan
này từ 30÷45 (l/s).
Tương tự như trên , ta tính được lưu lượng cho các khoảng khoan khác. Kết quả
tính toán lưu lượng cho các khoảng khoan được thể hiện trong bảng sau :
Bảng 5.2.Bảng lưu lượng bơm dung dịch cho các khoảng khoan
Khoảng khoan, m

MSSV 1221010220

Lưu lượng theo tính

Page 55

Lưu lượng lựa chọn, l/s