Tải bản đầy đủ
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, KHỐI LƯỢNG THĂM DÒ ĐÃ THỰC HIỆN

NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, KHỐI LƯỢNG THĂM DÒ ĐÃ THỰC HIỆN

Tải bản đầy đủ

đặc biệt là thông tin về nguồn nước dưới đất trong khu vực đã được công bố từ trước
đến nay.
 Mục đích yêu cầu
- Tiến hành thu thập những tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu. Đó là những
tài liệu đã công bố, những kết quả phân tích nước, bản đồ, bản vẽ liên quan, các báo
cáo về kinh tế xã hội của tỉnh, huyện hay thị trấn. Những tài liệu đó làm cơ sở cho việc
thiết kế sau này.
- Yêu cầu: các tài liệu thu thập phải đầy đủ, có chọn lọc nhằm phục vụ tốt cho việc
đánh giá, tính toán và định hướng tiếp nội dung liên quan tiếp theo. Các tài liệu cụ thể
là thu thập các tài liệu về lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm của vùng nghiên cứu, các tài liệu
về địa chất, địa chất thủy văn, tài liệu về địa hình, mạng sông suối nhằm làm sáng tỏ
khả năng cung cấp nước.
Tài liệu thu thập được phải hệ thống hóa chúng theo một trình tự nhất định, xác
định tính chính xác, đầy đủ và độ tin cậy của tài liệu.
 Khối lượng công tác và kết quả thu thập
Các tài liệu đã thu thập trong giai đoạn này bao gồm:
1. Báo cáo về khí tượng thuỷ văn, độ ẩm trong khu vực: 01 bảng năm số liệu
2. Tài lỉệu về hiện trạng khai thác nước khu vực xung quang bãi giếng: 01 bảng
số liệu .
3. Báo cáo lập bản đồ địa chất vùng Hà Nam, tỷ lệ 1:50.000;
4. Báo cáo đánh giá hiện trạng Tài nguyên nước trên đại bàn tỉnh Hà Nam phục
vụ nghiên cứu giai đoạn II dự án “Tăng cường năng lực quy hoạch và điều tra nước
ngầm tại các khu đô thị” tại địa bàn tỉnh do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài
nguyên nước quốc gia làm chủ dự án.
5. Báo cáo kết quả thăm dò địa chất thủy văn phục vụ cấp nước tại công ty
TNHH Number One Hà Nam công suất 2.950m3/ngày.
6. Kết quả báo cáo Lập bản đồ ĐCTV-ĐCCT vùng Hưng Yên- Phủ Lý, năm
2005.
7. Bản luận văn thạc sĩ khoa học của Phạm Kiến Quốc về ô nhiễm nước dưới đất
khu vực Hà Nam
8. Báo cáo kết quả điều tra tài nguyên nước tỉnh Nam Hà (nay là Nam Định và
Hà Nam) của PGS.TS Đoàn Văn Cánh.
9. Tài liệu khí tượng, thủy văn, dân sinh, kinh tế vùng Hà Nam;

- 24 -

Tổng số báo cáo đã thu thập là 6 báo cáo, nhiều kết quả phân tích nước cho các
tầng khác nhau, bản đồ địa chất, địa chất thuỷ văn, khối lượng thu thập đảm bảo đúng
khối lượng yêu cầu. Các tài liệu này được tiến hành thu thập từ các trung tâm lưu trữ,
cơ quan quản lý. Tài liệu được thu thập bằng cách sao chụp lại bằng máy photocopy,
copy dữ liệu bảo đảm trung thực với bản gốc, rõ ràng, chính xác.
Phương pháp thực hiện: Công tác thu thập được tiến hành bằng phương pháp
photo copy tài liệu, sử dụng file tài liệu, bản đồ nên có độ chính xác và tin cậy.
Nhìn chung chất lượng các tài liệu thu thập được có chất lượng tốt, đảm bảo và
vượt số lượng như đề án đã nêu, đáp ứng tốt yêu cầu, nội dung. Tài liệu thu thập đã
cung cấp những thông tin có chất lượng, giúp công tác thăm dò theo đề án thuận lợi,
hiệu quả.
2.1.2. Công tác khảo sát - điều tra hiện trạng khai thác nước dưới đất
 Mục đích
- Công tác đo vẽ, khảo sát, điều tra hiện trạng phải phục vụ cho việc chính xác
thông tin, bàn vẽ, bản đồ địa chất, địa chất thủy văn tỷ lệ 1/25.000.
- Xác định ranh giới các đơn vị Địa chất thủy văn trong phạm vi nghiên cứu;
- Xác định các khu vực có đứt gãy, khả năng chứa nước, ranh giới địa chất có triển
vọng khoan thăm dò và có khả năng chứa nước dồi dào.
- Xác định ranh giới nước mặn- nhạt trong khu vực.
 Phương pháp thực hiện
- Khảo sát thực tế: tiến hành các lộ trình theo diện tích. Với diện tích 4km 2 chúng
tôi đã tiến hành các lộ trình theo diện tích khá dày, đảm bảo phát hiện sự thay đổi
địa tầng, phát hiện đứt gãy, hiện trạng sử dụng nước...
- Chính xác hóa bản đồ Địa chất – Địa chất thủy văn;
 Khối lượng thực hiện
- Đã bố trí các lộ trình khảo sát cho toàn bộ vùng nghiên cứu. Lập 01 bản đồ địa
chất thủy văn kèm mặt cắt và Sơ đồ bố trí công trình thăm dò. Thời gian thực hiện với
tất cả các đợt thực địa là 5 ngày.
- Tiến hành khảo sát, đo vẽ địa chất-địa chất thủy văn tổng hợp tỷ lệ 1/25.000, diện
tích đo vẽ khoảng 4km2 và mở rộng một phần ra phụ cận liên quan đén khu vực.
Kết quả thực hiện: Quá trình điều tra hiện trạng khai thác nước trong khu vực
diễn ra không liên tục (nhiều đợt tùy thuộc yêu cầu) từ ngày 15/9/2016 đến ngày
20/12/2016. Việc khảo sát được tiến hành theo diện tích với nhiều đợt thực địa trong

- 25 -

tháng 9 đến tháng 12/2016. Việc thực địa đã làm sáng tỏ các vấn đề về địa chất vùng
nghiên cứu. Nội dung điều tra khảo sát là nghiên cứu sự phát triển của các phân vị địa
tầng, địa chất thủy văn, sự phân bố và phát triển của các đứt gãy kiến tạo, các tầng
chứa nước, cahcs nước, các công trình thủy văn tự nhiên và nhân tạo, xác định tuyến
và điểm đo địa vật lý, tình hình sử dụng nước của nhân dân trong khu vực… Kết quả
khảo sát cho thấy hầu hết dân cư trong phạm vi 4km 2 đều sử dụng nước do công ty cấp
nước phủ lý cung cấp. Ngoài ra trong khu vực (ngoài phạm vi nghiên cứu 4 km 2) còn
có các giếng khai thác của công ty Nuber One khai thác nước dưới đất với lưu lượng
2.950m3/ngày đêm.

Hình 2. 1 Công tác đo vẽ, khảo sát thực địa
Kết quả điều tra khảo sát cho thấy trong khu vực có các tầng chứa nước tuổi đề
tứ và tầng chứa nước tuổi Trias hệ tầng đồng giao phân bố rộng rãi. Tầng chứa nước
Trias là đối tượng nghiên cứu phục vụ khai thác nước của đề án nằm khá nông, nhiều
nơi lộ ra trên bề mặt. Đây là tầng có bề dày lớn, mức độ chứa nước không đồng nhất,
có tính dị hướng, từ rất giàu đến không chứa nước. Phần này sẽ được mô tả kỹ hơn
trong phần địa chất, địa chất thủy văn ở phần sau.
2.1.3. Công tác Địa vật lý
 Mục đích

- 26 -

Phương pháp địa vật lý nhằm làm sáng tỏ sự phân bố của các tầng chứa nước, lớp
cách nước theo diện và theo chiều sâu.
- Xác định các đới dập vỡ của đất đá, các hang hốc Karst, đới chứa nước
- Xác định vị trí điểm khoan thăm dò và khoan khai thác nước dưới đất
- Xác định ranh giới mặn – nhạt của nước dưới đất (nếu có).
 Phương pháp tiến hành
+ Phương pháp mặt cắt điện
Phương pháp mặt cắt điện (MCĐ) hệ cực Schlumberger sử dụng 2 cực phát dòng
điện xuống đất (A và B) và hai cực thu thế phản hồi (M và N) bố trí trên đường thẳng
và đối xứng xung quanh vị trí điểm đo. Chiều dài hệ cực (AB và MN) không thay đổi
trên các tuyế/điểm đo. Tiến hành đo ghi cường độ dòng I qua cực phát AB và thế phản
hồi qua cực thu MN, từ đó tính toán được giá trị ĐTS ở độ sâu nhất định dưới mặt đất.
Các thông số của phương pháp như sau:
+ Chiều dài hệ cực phát dòng: AB = 120m.
+ Chiều dài hệ cực thu: MN = 20m.
+ Nguồn điện: nguồn điện một chiều.
Máy đo: máy đo điện trở đất hiệu ES-2 hoặc tương đương.
+ Phương pháp đo sâu điện
Phương pháp đo sâu điện trở (ĐSĐ) hệ cực Schlumberger sử dụng 2 cực phát dòng
điện xuống đất (A và B) và hai cực thu dòng phản hồi (M và N). Các điện cực được bố
trí trên đường thẳng và đối xứng nhau xung quanh vị trí điểm đo gọi là điểm O. Sơ đồ
bố trí điện cực như hình 2.2. dưới đây.
A

M

O

N

B

Hình 2. 2 Sơ đồ bố trí các điện cực phát AB, điện cực thu MN và điểm đo O

Khi đo, giữ nguyên điểm đo O và tăng dần khoảng cách AB, mở rộng dần hệ cực
phát - thu (AMNB) dòng điện phát sẽ đi sâu dần xuống lòng đất. Ghi cường độ dòng I
qua cực phát AB và thế phản hồi qua cực thu MN, từ đó tính toán được điện trở suất
biểu kiến (ĐTS) của các lớp đất đá khác nhau. Giá trị ĐTS có mối liên quan chặt chẽ
với thành phần thạch học, mức độ ngậm nước và độ khoáng hoá của nước dưới đất.

- 27 -

Như vậy, phương pháp đo sâu điện (ĐSĐ) cho phép xác định các lớp điện trở
suất khác nhau của đất đá theo chiều sâu. Từ giá trị điện trở suất có thể đánh giá sơ bộ
về mức độ chưa nước và chất lượng nước thông qua việc phân tích và giải đoán các
thông số bề dày và giá trị ĐTS của các lớp đất đá. Cơ sở của phương pháp dựa trên
nguyên lý, đất đá càng khô càng khó dẫn điện nên điện trở suất cao, ngược lại đất đá
chứa nước thì khả năng dẫn điện tốt, điện trở suất nhỏ. Nước càng mặn thì khả năng
dẫn điện càng tốt tức điện trở suất nhỏ. Từ đó ta có thể suy đoán được cấu trúc địa
chất, địa chất thủy văn của khu vực.
Các thông số của phương pháp như sau:
+ Chiều dài hệ cực phát dòng cực đại: ABmax = 550m.
+ Chiều dài hệ cực thu cực đại: MNmax = 125m.
+ Nguồn điện: nguồn điện một chiều.
Máy đo: máy đo điện trở đất hiệu ES-2 hoặc tương đương.
Sử dụng các cự ly hệ cực dòng AB và điện cực thu MN theo qui phạm thăm dò điện
theo phương pháp điện trở đối xứng.
Giá trị ĐTS biểu kiến ( ρ k) được tính theo công thức:
ρ ρk ( r ) = K (r )
ρ

k

∆U
I

(1)

= K x (U/I) (đơn vị: ohm.m)

Trong đó:
+ U: Điện thế thu giữa hai cực thu M và N (đơn vị mV)
+ I : Cường độ dòng phát qua hai cực phát A và B (đơn vị mA)
+ K là hệ số thiết bị phụ thuộc vào cấu hình hệ cực.
Công tác địa vật lý được sử dụng để giải quyết nhiều vấn đề dựa trên các thông
số đo điện trở suất biểu kiến, cụ thể giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn
- Chính xác hoá các ranh giới địa tầng,
- Phát hiện các khu vực có triển vọng về nước dưới đất,
- Lựa chọn vị trí đặt các lỗ khoan thăm dò,
- Lựa chọn khoảng chiều sâu đặt ống lọc trong lỗ khoan,
- Xác định chiều sâu lớp phủ Đệ tứ, các đới phá huỷ kiến tạo, các hang hốc Karst,

- 28 -

- Sơ bộ xác định ranh giới mặn nhạt của nước dưới đất.
Công tác địa vật lý được tiến hành từ ngày 14/9/2016 đến ngày 25/9/2016, công tác đo
đạc ngoài thực địa và công tác văn phòng do kỹ sư Địa vật lý Vũ Minh Thư làm trưởng nhóm
thực hiện.
A. Cơ sở kỹ thuật áp dụng phương pháp.
Phương pháp đo sâu điện là phương pháp nghiên cứu sự thay đổi đện trở suất biểu
kiến ρk dọc theo chiều sâu tại một điểm nào đó bằng cách giữ nguyên tâm hệ điện cực,
sau đó tăng dần kích thước hệ điện cực để tăng dần chiều sâu nghiên cứu nhằm khảo
sát lát cắt địa điện tại điểm đó theo phương thẳng đứng. Đo điện trở suất là phương
pháp chủ yếu của thăm dò điện, phương pháp này được áp dụng từ đầu thế kỷ 20 do
nhà khoa học Pháp Schlumberger đề suất. Điện trở suất biểu kiến là tham số điện trở
suất được đo bởi hệ thiết bị nào đó đặt trên mặt đất. Phương pháp đo hệ thiết bị bốn
cực phát dòng một chiều, mạch phát gồm nguồn dòng một chiều và hai điện cực nối
đất A,B, mạch thu gồm hai điện cực M,N và máy đo thu được hiệu thế ΔU MN thì điện
trở suất được tính theo công thức sau:
ρ k (r ) = K ( r )

∆U
I

Điện trở suất biểu kiến là một tham số có thứ nguyên điện trở suất và không phải
là điện trở suất trung bình của các khối bất đồng nhất trong lát cắt, nó phụ thuộc vào
hệ thiết bị đo, khoảng cách của hệ điện cực, sự khác biệt về điện trở suất và kích thước
của bất đồng nhất so với môi trường xung quanh. Điện trở suất biểu kiến mang thông
tin về cấu trúc địa chất của môi trường nghiên cứu. Phần lớn các phương pháp thăm dò
điện có tham số cơ bản ảnh hưởng tới sự phân bố trường điện trong đất đá là điện trở
suất ρ. Tham số này xác định theo kết quả quan sát trường điện hoặc trường điện từ
trên mặt đất gọi là điện trở suất biểu kiến ρk.
Nói chung nhiệm vụ cơ bản của thăm dò điện là tìm sự phân bố điện trở suất biểu
kiến của đất đá, nó là hàm của toạ độ không gian ρ k(x,y,z). Sự phân bố của hàm này
trong mặt thẳng đứng hoặc trong không gian ở một chiều sâu nào đó đều có tên chung
là lát cắt địa điện
Công thức tính đường cong đo sâu ρk :
ρk(r) = K (r) [Ωm]
Đồ thị ρk là hàm số phụ thuộc vào kích thước hệ cực r = AB/2 và được vẽ trên giấy
loga kép. Khi điện trở suất của lớp phân dị mạnh và đủ dày thì đồ thị hàm ρ k (r) phản
ánh sự thay đổi điện trở suất của môi trường phân lớp.

- 29 -

Hình 2. 3 Mô hình lát cắt địa điện
Do đặc điểm địa chất trong khu khảo sát phân dị và biến đổi mạnh ,và có sự
phân lớp rõ.Trong khu vực khảo sát sự phân lớp của các lớp tương đối rõ giữa lớp
phong hoá mãnh liệt ,lớp phong hoá hoàn toàn thành sét, bùn sét và dăm sạn, sạn sét,
lớp phong hoá vừa trong đá gốc, đá vôi, phiến sét vôi...., điên trở suất của các lớp này
phân dị khá rõ.Trong đá gốc cũng có sự khác biệt mạnh giữa vùng đá nứt nẻ mạnh,
hang hốc karst và vùng đá nguyên khối không nứt nẻ,... Do đó mà độ dẫn của đất đá ở
vùng khác nhau đó cũng khác nhau. Do đặc điểm địa chất như vậy cho nên giá trị điện
trở suất trong các lớp đất đá và các vùng khác nhau sẽ biến đổi mạnh.
Công tác thăm dò địa vật lý điện được thực hiện theo Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia
về phương pháp thăm dò điện số 57/2014/TT-BTNMT và TCVN 9432.
B. Phương pháp thi công, máy móc thiết bị
a. Phương pháp thi công.
Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ đặt ra là xác định chiều dày tầng phủ và phân bố
của các đới dập vỡ nứt nẻ và hang hốc karst theo diện tích và theo chiều sâu; chúng tôi
lựa chọn tổ hợp hai phương pháp: phương pháp đo sâu đối xứng điện trở và phương
pháp đo mặt cắt điện. Phương pháp đo sâu điện trở cho phép xác định sự biến đổi của
giá trị điện trở suất của khung đất đá, qua đó cho phép xác định các dị thường của đất
đá khảo sát đối với các đới dập vỡ, hang hốc karst chứa nước hoặc không chứa nước
trên cơ sở sự biến đổi về điện trở suất (độ dẫn điện) của đất đá khảo sát. Dựa vào đối
tượng áp dụng của QCVN57/2015, quy chuẩn này áp dụng đối với cơ quan quản lý
nhà nước về địa chất và khoáng sản; tổ chức, cá nhân tiến hành công tác thăm dò điện
với mục đích điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản, điều tra địa
chất thuỷ văn, địa chất công trình, địa kỹ thuật, địa chất môi trường, tai biến địa chất.
Phương pháp mặt cắt điện trở và đo sâu điện trở được tiến hành theo TCVN
9432:2012.

- 30 -

+ Phương pháp đo mặt cắt điện trở: Sử dụng hệ thiết bị đo Schlumberger với AB=
125m, MN=25m. Kết quả công tác đo mặt cắt điện sẽ cho thấy mặt cắt sơ bộ địa tầng
khu vực và các dị thường của địa tầng địa chất theo phương ngang.
+ Phương pháp đo sâu đối xứng điện trở: Hệ thiết bị sử dụng là Schlumberger với cự
ly thiết bị ABmax = 550m, MNmax = 50m (độ sâu nghiên cứu từ 90m÷100m). Phương
pháp đo sâu điện nhằm xác định quy mô phân bố đới nứt nẻ và hang karst theo chiều sâu,
từ đó xác định đới chứa nước và vị trí đặt các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai thác
nước dưới đất.
b. Mạng lưới và kỹ thuật thi công thực địa.
Các tuyến đo được thực hiện trong khu vực thăm dò, trong diện tích được phép
khảo sát và dựa vào điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn trong khu vực. Trên cơ sở
thực địa, các chuyên gia chuyên môn xác định cụ thể cho từng tuyến đo địa vật lý. Tại
mỗi điểm đo đều được xác định toạ độ qua máy GPS cầm tay có độ chính xác cao để
xác định toạ độ của điểm đo.
Căn cứ vào mức độ phức tạp của địa hình và cấu trúc địa chất trong các đới dập
vỡ, hang hốc karst nhằm bố trí khoảng cách các điểm đo trên tuyến từ 15 đến 30m để
xác định rõ dị thường địa vật lý.
c. Khối lượng công tác đo địa vật lý
Phương pháp đo sâu và mặt cắt đối xứng điện trở: dự kiến thi công 14 tuyến đo (xem
sơ đồ tuyến đo). Các tuyến được đánh số từ 1 đến 12 và hai tuyến phụ là 8bx và 6bx.
Bảng 2. 1. Khối lượng công tác địa vật lý
TT

Dạng công việc

ĐV
tính

Klượng

Tỉ lệ đạt
(%)

1

Đo mặt cắt đối xứng điện trở AB
=125m khoảng cách điểm 10m – 15m

Điểm

300

100

2

Đo sâu đối xứng điện trở ABmax =
550m, khoảng cách điểm đo từ 15m 30m

Điểm

150

100

d. Máy móc thiết bị:
- Máy đo sử dụng là máy thăm dò sử dụng dòng điện một chiều TD-200 do Việt
Nam hợp tác sản xuất ,đồng hồ hiện số do Nhật Bản sản xuất có độ nhạy 0.1mV, máy
có độ nhậy cao, dải đo rộng, gọn nhẹ phù hợp với điều kiện thi công trong khu vực
khảo sát.

- 31 -

- Phương pháp đo sâu đối xứng được đo với AB min = 3m; ABmax = 550m; MNmin
= 1m; MNmax =25m.
Giá trị điện trở suất tính theo công thức:
ρk = K

∆U
I

Trong đó:
I: là cường độ dòng phát qua 2 cực phát A, B
∆U: hiệu điện thế đo được qua 2 cực thu M, N.
K: hệ số thiết bị và được tính theo công thức:
K = Π.

AM.AN
MN

- Phương pháp đo sâu đối xứng được đo theo sơ đồ sau:
mA
AA
M

mV
N
B
mặt đất
VV
VV
Hình 2. 4 Sơ đồ phương pháp đo bốn cực Schlumberger
VV
C. Công tác xác định tuyến đo địa vật
lý:
VV
VVsát do chủ đầu tư xác định và chỉ dẫn và các
Xác định các mốc trên tuyến khảo
V các điểm được xác định bằng thước dây, vị trỉ
chuyên gia có chuyên môn. khoảng cách
A

điểm đo được xác định bằng máy GPS cầm tay. Khối lượng và giá trị đo thể hiện ở
bảng 2.2 dưới đây.

Bảng 2. 2 Thống kê khối lượng đo địa vật lý
TT

Tên tuyến

1

T1

Khối lượng đo
mặt cắt điện

Khối lượng điểm đo
sâu điện (điểm)

25

8

- 32 -

2

T2

19

4

3

T3

19

11

4

T4

25

12

5

T5

28

18

6

T6

29

17

7

T6bx

9

5

8

T7

23

16

9

T8

18

6

10

T8bx

7

4

11

T9

18

17

12

T10

25

14

13

T11

36

8

14

T12

19

10

Cộng

300

150

Phương pháp phân tích tài liệu đo sâu điện
a, Phương pháp phân tích tài liệu đo sâu điện: dựa vào hai phương pháp sau:
1. Giải bài toán ngược bằng phương pháp sai phân hữu hạn 2D qua chương trình
xử lý RES2DINV.Ver.3.54 của hãng phần mềm đo ảnh điện 2D và 3D Geotomo
Software. Chương trình cho phép xác định một cách tự động mô hình điện trở suất 2
chiều trong môi trường đất đá nằm dưới bề mặt địa hình. Các tham số mô hình là giá
trị điện trở suất (ĐTS) gán cho các khối hình chữ nhật. Mối liên két về mặt toán học
gữa các tham số mô hình 2D và tham số mô hình ĐTS tính toán được cung cấp nhờ
phương pháp sai phân hay phần tử hữu hạn. Tương tự như thuật toán giải ngược 1D,
trong thuật toán giải ngược 2D các tham số mô hình được chọn ban đầu và được điều
chỉnh tự động trong chu trình tính lặp sao cho trị số ĐTS tính toán từ mô hình trùng
khớp tốt nhất với số liệu đo (với sai số cho phép nào đó ). Thực chất quá trình tính
toán này là tiến trình cực tiểu hoá tổng sai số bình phương E độ lệch ggữa trị số ĐTS
tính toán từ mô hình với trị số ĐTS đo:

- 33 -

n

E = g Tg

∑g 2
=
i =1

gi

Trong đó g = y – f với y: Tập hợp véc tơ số liệu đo ĐTS ngoài thực địa
f: Tập hợp véc tơ số liệu ĐTS tính toán từ mô hình chọn

Hình 2. 5 Bố trí tự động các khối vuông góc được sử dụng trong mô hình
Cơ sở chính của phương pháp dựa vào phương pháp bình phương tối thiểu có
làm trơn (de Groot-Hedlin and Constahle 1990, Sasaki 1997) phương pháp bình
phương tối thiểu dựa theo phương trình sau:
(J’J + uF) d = J’g.
Ở đây: F = fxf’x + fz + f’z

- 34 -