Tải bản đầy đủ
- Về mạng lưới thủy văn: Vùng nghiên cứu có mật độ sông ngòi phát triển khá nhiều, các sông chính gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ.

- Về mạng lưới thủy văn: Vùng nghiên cứu có mật độ sông ngòi phát triển khá nhiều, các sông chính gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ.

Tải bản đầy đủ

Là một nhánh của sông Hồng, bắt nguồn từ ngã ba sông Đáy ở Phủ Lý chảy về
phía đông vào sông Hồng đổ ra biển, sông uốn khúc quanh co, tốc độ dòng chảy chậm,
vận tốc trung bình khoảng 0,5 ÷ 1 m/s, lưu lượng dòng chảy thay đổi 2,14÷
27,78m3/s.
d - Hồ nước mặt :
Phát triển không nhiều, phần lớn các hồ nhỏ như hồ Đầm Cút, hồ Đồng Sơn, Hồ
Liên Sơn, diện tích nhỏ khoản 0,3 ÷ 1km2, sâu khoảng 2 ÷ 3m, là những hồ nhân tạo,
nhân dân đắp đập giữ nước để phục vụ cho nông nghiệp là chính, hồ chỉ có nước về
mùa mưa, mùa khô gần như cạn kiệt.
Tóm lại : Nước mặt trong vùng nghiên cứu tuy lượng nhiều nhưng phần lớn bị
nhiễm bẩn không sử dụng vào mục đích cung cấp nước cho ăn uống sinh hoạt được.
Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn một số nơi nước dưới đất chưa đủ cung cấp có thể
dùng nước mặt một số sông trên để cung cấp nhưng phải có biện pháp sử lý đảm bảo
trước khi dùng.
e. Các sông nội đồng:
Do sông Châu Giang chạy cắt ngang qua tỉnh nên mạng lưới sông nội đồng chia
thành các hệ thống phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp của toàn tỉnh.
f. Hiện trạng chất lượng nước mạng lưới sông suối
Nhìn chung hiện trạng chất lượng nước mạng lưới sông suối và ao hồ được quan
trắc trên các hệ thống các sông về các chỉ tiêu như pH, DO, COD, BOD 5, NH4+ đều đạt
tiêu chuẩn chất lượng nước mặt TCVN 5942-1995 cột B, chất lượng nước thủy lợi
TCVN 6773-2000. Chỉ tiêu NH4+ có tần suất và số lần vượt tiêu chuẩn TCVN 5942
1995 cột A trong cả mùa mưa và mùa khô nhiều lần, do đó cần hết sức chú ý đến việc
xử lý NH4+ khi sử dụng cho mục đích cung cấp sinh hoạt. Chỉ tiêu NO 2-, TSS và
coliform có diễn biến rất phức tạp, có tần suất vượt TCVN 5942-1995 cột B rất cao,
đặc biệt là coliform có nơi vượt chuẩn từ 5 đến 10 lần.
Sông Đáy và sông Nhuệ là hai con sông chảy qua địa bàn tỉnh, hiện có nhiều
thông số ô nhiễm rất lớn, thể hiện rõ sự tác động của các hoạt động sản xuất, sinh hoạt
tới chất lượng các sông này.
Mạng thủy văn trong khu vực có thể ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm thông qua
sự ngấm tự nhiên hoặc hoạt động nhân sinh. Do vậy khi nước các dòng mặt ô nhiễm
có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm.
II.3.

Đặc điểm phân bố dân cư, mật độ dân số và các yếu tố kinh tế, xã hội

- 19 -

Huyện Thanh Liêm là một huyện có dân số trẻ, tổng dân số 114.564 người, trong
đó số người trong độ tuổi lao động là 79.835 người, chiếm 69,7 %. Đây là nguồn nhân
lực dồi dào, là động lực phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế của huyện Thanh Liêm tăng trưởng cao, bền
vững với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,55%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó lĩnh vực nông – lâm nghiệp – thuỷ sản
11,4%; công nghiệp – xây dựng chiếm 59%; dịch vụ chiếm 19,6%. Huyện đã hoàn
thành và hoàn thành thắng lợi 14/14 tiêu chí chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội đại biểu
Đảng bộ huyện lần thứ 28 đề ra.
Huyện Thanh Liêm nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Nam với địa hình tương
đối đa dạng, có dãy núi đá vôi với trữ lượng lớn hàng tỷ m3, tập trung tại 5 xã ven sông
Đáy (Kiện Khê, Thanh Thuỷ, Thanh Tân, Thanh Nghị, Thanh Hải) đã hình thành nên
khu khai thác chế biến đá và sản xuất xi măng với trữ lượng lớn trên địa bàn huyện.
Huyện còn có nguồn đất sét sản xuất xi măng, gốm mỹ nghệ tập trung ở 2 xã Liêm
Sơn, Thanh Tâm, thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
Ngoài ra, sông Đáy và sông Châu Giang là nguồn nước quan trọng phục vụ nước tưới
tiêu và tạo nên một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ.
Thời gian tới, để phát huy những kết quả đạt được, huyện Thanh Liêm tiếp tục
đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị,
cộng đồng doanh nghiệp và người dân nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế; tập
trung phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường; đẩy
mạnh đầu tư xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tăng cường cải
cách hành chính; phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hoá – xã hội. Với những yêu
cầu đáp ứng cung cấp nước như trên, UBND tỉnh có chủ trương, khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư để nâng công suất các nhà máy nước tại thành phố Phủ Lý và
nghiên cứu xây dựng nhà máy sản xuất nước sạch tập trung tại các khu vực nông thôn.
Phấn đấu đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy nước sạch trên địa bàn Tỉnh đạt
240 - 250 nghìn m3/ngày đêm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của 100% dân số
trong Tỉnh.
Tại khu vực thăm dò là thị trấn Kiện Khê, dân cư thị trấn và các xí nghiệp nhà
máy sử dụng nước hiện do công ty cấp nước Phủ Lý cung cấp, nguồn nước cung cấp
đó được khai thác từ sông đáy. Tuy nhiên lượng nước này thường không ổn định về
chất lượng do sự biến động của các nguồn thải từ thượng nguồn. Mặt khác tại khu vực
thăm dò, tầng chứa nước dự kiến thăm dò là tầng khe nứt trias hệ tầng đồng giao trong
các thành tạo đá vôi nứt nẻ nên các hoạt động kinh tế xã hội có ảnh hưởng không

- 20 -

mạnh mẽ và nhạy cảm như đối với nước mặt.
II.4. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Công nghiệp: Tại khu vực thăm dò, các hoạt động công nghiệp chủ yếu là khai
thác đá, chế biến đá; sản xuất nước ngọt, sản xuất bia, ngoài ra cố một số ngành công
nghiệp vừa và nhỏ. Nguồn nước sử dụng cung cấp cho công tác khai thác và chế biến
đá được khai thác trên sông Đáy hoặc nước được lưu chứa tại các hồ nhân tạo. Nước
sử dụng cho ngành sản xuất nước ngọt của công ty TNHH Number One được khai thác
từ nguồn nước ngầm trong tầng chứa nước khe nứt với lưu lượng 2950m 3/ngày đêm.
Toàn bộ doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng nhà máy bia Sài Gòn - Phủ Lý được cấp nước
từ công ty cấp nước Phủ Lý. Ngoài ra trong những năm gần đây do nhu cầu đời sống
kinh tế xã hội, nhiều ngành, cơ quan Trung ương và địa phương tiến hành điều tra,
nhiên cứu phục vụ cho các mục đích khác nhau, trong đó có mục đích khoan lấy nước
phục vụ ăn uống, sinh hoạt và sản xuất rất nhiều. Đặc biệt là các lỗ khoan đường kính
nhỏ dạng UNICEF có tới hàng trăm lỗ khoan trong vùng.
Nông nghiệp: Các hoạt động trồng cây nông nghiệp nhưng năm gần đây tại khu
vực nghiên cứu tương đối ít. Một phần diện tích đất ven đồi được sử dụng trồng lúa,
nguồn nước khai thác phục vụ cho nông nghiệp chủ yếu từ sông Đáy và các hồ nhân
tạo. Không khai thác nước ngầm phục vụ cho hoạt động này.
Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi tại khu vực cũng như nông nghiệp, không có trang
trại chăn nuôi trong khu vực dự kiến thăm dò, vật nuôi chủ yếu nuôi nhỏ lẽ ở các hộ
gia đình sinh sống.
Dịch vụ: Do khu vực nghiên cứu là ven sườn núi nên dịch vụ phát triển ít, gần khu
trung tâm thị trấn phát triển mạnh hơn.
Nuôi trồng thủy sản: Dịch vụ nuôi trồng thủy sản tại khu vực này rất ít, cố rất ít
các hộ nuôi cá với quy mô nhỏ không đáng kể. Nước khai thác phục vụ được lấy từ
sông Đáy.
III. Tổng hợp các vấn đề đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến
nguồn nước, đến việc khai thác, sử dụng nước đã được làm rõ trong quá trình
thực hiện thăm dò.
Nhìn chung các vấn đề kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên đều có tác động với mức
độ khác nhau đến tài nguyên nước dưới đất trong khu vực. Khai thác khoáng sản, nông
nghiệp, công nghiệp đều sử dụng nước và có xả thải nên có những tác động xấu nhất định
đến chất lượng và trữ lượng nước ngầm trong vùng. Các hoạt động đó làm tăng làm lượng
các kim loại nặng, hàm lượng vi sinh vật và các chất ô nhiễm khác trong nước ngầm.

- 21 -

Về cơ bản các số liệu thu thập trong quá trình thăm dò đã phản ánh tương đối rõ về
đặc điểm tự nhiên, xã hội của khu vực thăm dò và tình hình khai thác, sử dụng nguồn
nước dưới đất để phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho các ngành kinh tế tại khu vực
thăm dò. Trong quá trình bơm hút nước thí nghiệm, sự hạ thấp mực nước khu vực, một số
giếng khai thác nhỏ lẽ bị mất nước làm ảnh hưởng một phần đến sinh hoạt dân cư nơi đây.
Điều này cho thấy có mối liên hệ giữa các hoạt động kinh tế xã hội đến chất lượng nước.
Lượng xả thải trong khu vực Thanh Liêm ít ảnh hưởng đến nguồn nước trong phạm vi
thăm dò. Chẳng hạn việc sử dụng đất cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp làm tăng
nguy cơ ô nhiễm dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bảo quản nông thủy sản…
Các điều kiện tự nhiên như địa hình, địa mạo, thành phần đất đá, mạng thủy văn
cũng là những tác nhân tác động đến chất lượng và trữ lượng nước ngầm của khu vực.
Địa hình có lớp phủ mỏng làm tăng khả năng thấm của nước mưa, nước mặt vào nước
ngầm nhưng cũng làm tăng khả năng ô nhiễm cho tầng chứa nước. Sự thấm của dòng
thủy văn cũng gia tăng trữ lượng cho nước dưới đất nhưng cũng là tiềm tàng khả năng
ô nhiễm các chất bẩn từ nước mặt vào nước dưới đất.

- 22 -