Tải bản đầy đủ
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI KHU VỰC THĂM DÒ

ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI KHU VỰC THĂM DÒ

Tải bản đầy đủ

năm 2010, 99% đường giao thông nông thôn trên địa bàn đã được nhựa hoá, bê tông
hoá; 100% hộ dân được dùng điện lưới quốc gia, trạm xá được xây dựng theo tiêu
chuẩn của Bộ Y tế.
Mục tiêu phát triển kinh tế địa phương đến năm 2020 là: Phát triển kinh tế - xã
hội nhanh, hiệu quả, bền vững trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ rệt mức sống của nhân dân, phấn đấu đến năm
2020 là tỉnh công nghiệp, có mức GDP bình quân đầu người vượt mức trung bình của
vùng đồng bằng sông Hồng.
Giáo dục, đào tạo ngày càng được xã hội hoá sâu rộng. Tất cả các xã, thị trấn đều
có trường học cao tầng, nhiều xã có 3 - 4 trường. Chất lượng giáo dục toàn diện được
củng cố vững chắc cả về giáo dục, trí dục, đức dục, giáo dục quốc phòng và pháp luật.
Đặc biệt, số học sinh ở cả ba cấp đạt kết quả cao qua các kỳ thi học sinh giỏi tăng đều
qua các năm.
II. Các nội dung, thông tin, số liệu về điều kiện địa lý tự nhiên, xã hội khu vực.
II.1. Vị trí hành chính, tọa độ các điểm góc khu vực thăm dò
Như đã nêu ở trên, vùng thăm dò có vị trí thuộc địa phận Thị Trấn Kiện khê,
huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, được giới hạn bởi toạ độ (hệ VN2000, kinh tuyến
trục 105 múi chiếu 30): Tọa độ giới hạn các điểm góc khu vực thăm dò được giới hạn
bởi các điểm góc:
X1: 591.280 ; Y1 : 2.770.467

X2: 592.954 ; Y2 : 2.770.467

X3: 592.954 ; Y3 : 2.267.559

X4: 591.280 ; Y4 : 2.267.559

vực Vị trí
khu nghiên
cứu

Hình 1. 2 Sơ đồ vị trí khu vực thăm dò nhìn từ google earth

- 16 -

II.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo, khí tượng, thủy văn, hải văn khu vực thăm dò
Khu vực thăm dò nước dưới đất nằm ở phía tây Thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh
Liêm, tỉnh Hà Nam. Đây là nơi có địa hình phức tạp, mật độ dân cư thưa thớt ở khu
vực đồng ruộng nhưng đông đức ở phường La Mát. Kinh tế khhu vưc tương đối phát
triển so với mặt bằng chung của cả nước.
- Về đặc điểm địa hình: có 3 dạng địa hình chính.
+ Địa hình vùng núi cao:
Phân bố ở phía tây, tây nam vùng nghiên cứu với độ cao từ 100÷ 481m. Hiện nay
dạng địa hình này đang ngày càng bị biến đổi do việc khai thác đá làm vật liệu xây
dựng và sản xuất xi măng. Cấu tạo nên địa hình này gồm các dãy núi đá vôi hệ tầng
Đồng Giao (t2ađg), bề mặt địa hình núi đá vôi lởm chởm tai mèo, đỉnh nhọn phát triển
nhiều hang động Karst, các đồi núi cát bột kết, sét kết thuộc hệ tầng Trias, hệ tầng Cò
Nòi, hệ tầng Nori-Reti và hệ tầng Suối Bàng (t1cn, t2lnt , t3n – rsb).
+ Địa hình vùng đồi núi thấp:
Phân bổ ở phía tây nam vùng nghiên cứu bao gồm các chỏm núi đá vôi nhỏ, nằm
riêng lẻ dưới chân các dải núi cao ở phía tây, phía nam, các chỏm đồi bột kết, cát kết,
đá biến chất Protezozôi hệ tầng Ngòi chi nổi lên giữa vùng đồng bằng ở phía đông,
đông nam vùng, độ cao địa hình thay đổi từ 20 ÷ 100m, đỉnh bằng và thoải.
Dạng địa hình nay gồm các dải đồi bát úp nằm xen kẽ hoặc ven rìa địa hình núi
đá vôi, tạo thành một dải (dải thôn Non – Chanh Thượng) hoặc các chỏm độc lập ở các
xã Thanh Bình, Thanh Lưu. Điểm chung của dạng địa hình đồi thấp là đỉnh tròn, sườn
thoải (độ dốc sườn 10 – 15o), đa số là các đồi trọc hoặc trồng cây lương thực, cây công
nghiệp. Cấu thành nên dạng địa hình này là các thành tạo lục nguyên cát kết, bột kết,
có vỏ phong hóa dày từ 5 – 15m. nhiều chỗ do quá trình xói lở nên đá gốc rắn chắc lộ
ngay trên bề mặt. Đặc biệt một phần của dạng địa hình này được cấu thành từ các trầm
tích dolomit, mà tiêu biểu là dãy Bút Sơn – Kiện Khê.
+ Địa hình đồng bằng tích tụ.
Chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn vùng nghiên cứu, phân bố ở phía đông bắc và
đông nam vùng, cấu tạo nên địa hình này gồm toàn bộ các loại trầm tích hệ Đệ tứ bở
rời, thành phần thạch học là cát bột, bột sét cấu tạo mềm bở, bề mặt địa hình tương đối
bằng phẳng, nghiêng dần từ phía tây sang đông, độ cao tuyệt đối thay đổi thường từ
1÷ 2m.
Với đặc điểm địa hình như vậy, sự hình thành trữ lượng nước dưới đất khu vực
Hà Nam nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng khá phức tạp. Ở những khu vực địa

- 17 -

hình bằng phẳng, nhất là nơi có các đới dập vỡ của đá cứng nứt nẻ nằm sát mặt đất
hoặc lộ ra trên mặt đất thì khả năng ngấm của nước mưa nhiều, nước ngầm sẽ được
cung cấp một lượng khá lớn. Ở những nơi địa hình dốc, khả năng thấm của nước mưa
cho nước dưới đất hạn chế hơn. Lượng thấm từ nước mưa xuống nước dưới đất được
tính theo hệ số kinh nghiệm, thay đổi từ 0,13 đến 0,3 tùy theo loại đất đá. Khu vực
phường La Mát, nơi có một phần diện tích thăm dò thuộc dạng địa hình này.
- Về đặc điểm khí hậu: Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của
khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt, hàng năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10 , mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
Theo tài liệu khí tượng thủy văn của hai trạm Phủ Lý các yếu tố khí hậu đặc
trưng của vùng được thể hiện như sau:
- Nhiệt độ không khí thay đổi từ 6,90 ÷ 38,60c, nóng nhất vào tháng 5÷ 7
- Độ ẩm tương đối thay đổi từ 79% ÷ 90%
- Lượng bốc hơi lớn nhất 129,5mm(tháng6/2003), nhỏ nhất 53,0mm (tháng
2/2004), ngày có lượng bốc hơi lớn nhất /tháng là 11,1mm(ngày5/3/2003), nhỏ
nhất/tháng là 0,1mm (ngày 13/2/03).
- Mưa nhiều từ tháng 5÷ 9 hàng năm, lượng mưa lớn nhất 420,7 mm (tháng
9/2003), ngày mưa nhiều nhất trong tháng là147,1mm (ngày9/9/2003)
Hướng gió thịnh hành nhất là đông bắc và đông nam tương ứng với mùa đông và
mùa hè.
- Về mạng lưới thủy văn: Vùng nghiên cứu có mật độ sông ngòi phát triển khá
nhiều, các sông chính gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang và sông Nhuệ.
a - Sông Hồng:
Là sông lớn nhất trong vùng bắt nguồn từ phía tây bắc chảy về phía đông nam,
chiều dài nằm trong vùng công tác khoảng 50km, chiều rộng trong vùng biến đổi từ
400 ÷ 600m. Lưu lượng nước sông hiện tại không đo được chỉ quan trắc được mực
nước.
b - Sông Đáy: Bắt nguồn từ các suối nhỏ ở phía tây bắc vùng Hoà Bình chảy về
qua Kim Bảng, Phủ Lý xuống phía nam qua Ninh Bình ra cửa đáy. Theo báo cáo thăm
dò nước dưới đất vùng Phủ Lý của Đoàn 47, tài liệu quan trắc nước mặt tại trạm Phù
Vân, lưu lượng đo được lớn nhất (8/1977) là 91,95 m 3/s, nhỏ nhất (9/1977) là
4,06m3/s.
c - Sông Châu Giang :

- 18 -

Là một nhánh của sông Hồng, bắt nguồn từ ngã ba sông Đáy ở Phủ Lý chảy về
phía đông vào sông Hồng đổ ra biển, sông uốn khúc quanh co, tốc độ dòng chảy chậm,
vận tốc trung bình khoảng 0,5 ÷ 1 m/s, lưu lượng dòng chảy thay đổi 2,14÷
27,78m3/s.
d - Hồ nước mặt :
Phát triển không nhiều, phần lớn các hồ nhỏ như hồ Đầm Cút, hồ Đồng Sơn, Hồ
Liên Sơn, diện tích nhỏ khoản 0,3 ÷ 1km2, sâu khoảng 2 ÷ 3m, là những hồ nhân tạo,
nhân dân đắp đập giữ nước để phục vụ cho nông nghiệp là chính, hồ chỉ có nước về
mùa mưa, mùa khô gần như cạn kiệt.
Tóm lại : Nước mặt trong vùng nghiên cứu tuy lượng nhiều nhưng phần lớn bị
nhiễm bẩn không sử dụng vào mục đích cung cấp nước cho ăn uống sinh hoạt được.
Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn một số nơi nước dưới đất chưa đủ cung cấp có thể
dùng nước mặt một số sông trên để cung cấp nhưng phải có biện pháp sử lý đảm bảo
trước khi dùng.
e. Các sông nội đồng:
Do sông Châu Giang chạy cắt ngang qua tỉnh nên mạng lưới sông nội đồng chia
thành các hệ thống phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp của toàn tỉnh.
f. Hiện trạng chất lượng nước mạng lưới sông suối
Nhìn chung hiện trạng chất lượng nước mạng lưới sông suối và ao hồ được quan
trắc trên các hệ thống các sông về các chỉ tiêu như pH, DO, COD, BOD 5, NH4+ đều đạt
tiêu chuẩn chất lượng nước mặt TCVN 5942-1995 cột B, chất lượng nước thủy lợi
TCVN 6773-2000. Chỉ tiêu NH4+ có tần suất và số lần vượt tiêu chuẩn TCVN 5942
1995 cột A trong cả mùa mưa và mùa khô nhiều lần, do đó cần hết sức chú ý đến việc
xử lý NH4+ khi sử dụng cho mục đích cung cấp sinh hoạt. Chỉ tiêu NO 2-, TSS và
coliform có diễn biến rất phức tạp, có tần suất vượt TCVN 5942-1995 cột B rất cao,
đặc biệt là coliform có nơi vượt chuẩn từ 5 đến 10 lần.
Sông Đáy và sông Nhuệ là hai con sông chảy qua địa bàn tỉnh, hiện có nhiều
thông số ô nhiễm rất lớn, thể hiện rõ sự tác động của các hoạt động sản xuất, sinh hoạt
tới chất lượng các sông này.
Mạng thủy văn trong khu vực có thể ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm thông qua
sự ngấm tự nhiên hoặc hoạt động nhân sinh. Do vậy khi nước các dòng mặt ô nhiễm
có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm.
II.3.

Đặc điểm phân bố dân cư, mật độ dân số và các yếu tố kinh tế, xã hội

- 19 -