Tải bản đầy đủ
Hình 5.9- Sơ đồ thiết bị miệng giếng

Hình 5.9- Sơ đồ thiết bị miệng giếng

Tải bản đầy đủ

- Đầu ống treo.
- Cây thông khai thác.
∗ Tổ hợp đầu ống chống:
Tổ hợp đầu ống chống là bộ phận dưới cùng của thiết bị miệng giếng. Nó được lắp
ngay trên đầu các cột ống chống kỹ thuật và khai thác.
Tổ hợp ống chống bao gồm:
- Các đầu treo ống chống.
- Các đầu bao ống chống.
- Gioăng và vành làm kín.
- Van cửa, van cho áp kế và áp kế.
Đầu ống chống chỉ có một dạng, chúng được phân loại theo kích thước và mặt
bích nối.
Tổ hợp đầu ống chống có những nhiệm vụ sau:
- Liên kết các cột ống chống.
- Bịt kín khoảng không gian vàng xuyến giữa 2 cột ống chống liên tiếp.
- Đo áp suất trong khoảng không gian giữa 2 ống chống.
∗ Đầu treo ống khai thác:
Đầu treo ống khai thác nằm ngay bên dưới cây thông khai thác và được nối với
đường dập giếng và đường tuần hoàn nghịch.
Bộ đầu treo ống khai thác bao gồm:
- Đầu treo cột ống nâng.
- Đầu bao cột ống nâng.
- Các van cửa, van cho áp kế và áp kế.
Bộ đầu treo cần có nhiệm vụ sau:
- Treo và giữ cột ống nâng.
- Bịt kín khoảng không gian vành xuyến giữa ống khai thác và ống chống khai
thác.
- Thông qua đường dập giếng nối với hệ thống máy bơm cao áp có công suất
lớn để thực hiện công nghệ dập giếng, bơm ép khi cần thiết.
- Thông qua đường tuần hoàn nghịch để xả áp suất ngoài cần, bơm rửa tuần
hoàn giếng.
- Thông qua các đồng hồ và van để kiểm tra áp suất ngoài cột ống nâng khi
thực hiện các giải pháp công nghệ khai thác.

87

Đầu ống treo có nhiều loại khác nhau, chúng có chức năng như nhau nhưng
khác nhau về hình dáng và cấu tạo.
∗ Cây thông khai thác:
Là phần trên của thiết bị miệng giếng, được nối trên đầu ống khai thác. Thông
thường cây thông khai thác gồm 2 nhánh làm việc: nhánh làm việc chính và nhánh
dự phòng.
Trên đầu cây thông khai thác có thiết bị gọi là lubricater cho phép dùng các
phương pháp cơ học để nạo vét parafin lắng đọng hoặc để dùng thả các thiết bị đo
đạc kiểm tra trong giếng đang hoạt động mà không cần phải đóng giếng. Đối với
giếng Gaslift cây thông khai thác còn lắp đặt các bộ phận sau:
- Đồng hồ chỉ áp suất trong cột ống nâng.
- Van chặn trên nhánh làm việc.
- Van an toàn thuỷ lực.
- Van tiết lưu.
Cây thông khai thác có những nhiệm vụ sau:
- Hướng cho dòng sản phẩm đi vào hệ thống thu gom và xử lý.
- Cho phép điều chỉnh lưu lượng khai thác một cách thuận lợi, dễ dàng nhờ
côn điều tiết.
- Tạo đối áp trên miệng giếng để sử dụng năng lượng vỉa một cách hợp lý
- Cho phép đo được áp suất đường nén, đường xả.
- Đảm bảo an toàn khi có sự cố (đóng van an toàn trung tâm).
- Cho phép thực hiện các thao tác kỹ thuật sau: bơm dập giếng, xử lý vùng cận
đáy giếng, gọi dòng sản phẩm, bơm ép vỉa.
Cây thông có 2 loại: chạc 3 và chạc 4.

88

1. Áp kế
2. Van chặn
3. Chạc 3
4-Van tiết lưu
5.Nhánh làm việc chính
6. Nhánh dự phòng
7. Van an toàn trung tâm
8. Điểm giao cắt
9. Mặt bích
10. Áp kế
11. Đường dẫn khí ép
12. Đường tuần hoàn nghịch
Hình 5.10- Sơ đồ cây thông kiểu chạc 3.
1. Áp kế
2. Van chặn
3. Van tiết lưu
4. Nhánh làm việc chính;
5. Van an toàn trung tâm
6. Đường tuần hoàn nghịch
7. Đường dẫn khí ép
8. Mặt bích
9. Đường dập giếng

Hình 5.11- Sơ đồ cây thông kiểu chạc 4.
- Cây thông kiểu chạc 3.
+ Ưu điểm: khi chạc 3 bị hỏng thì có thể thay thế mà không phải đóng giếng.
Lúc đó ta chỉ cần đóng van và cho giếng làm việc theo nhánh dự phòng. Loại này
thường dùng cho giếng có cát hoặc tạp chất.
+ Nhược điểm: Kích thước cao, cồng kềnh vừa chiếm không gian vừa yếu sàn
công tác, khó vận hành
- Cây thông kiểu chạc 4:

89

+ Ưu điểm: Đỡ cồng kềnh dễ vận hành, kết cấu vững chắc, độ chịu mài mòn
cao.
+ Nhược điểm: Không có nhánh dự phòng nên khi có sự cố hư hỏng ở nhánh
làm việc chính và chạc tư thì phải ngừng làm việc để thay thế. Chỉ sử dụng loại này
cho giếng có sản phẩm ít cát.
5.3. Hệ thống thu gom xử lý.
5.3.1.. Chức năng nhiệm vụ.
Dầu thô là sản phẩm mới được khai thác từ các giếng dầu gồm một hỗn hợp
dầu, khí, nước, các tạp chất cơ học và các thành phần đồng hành khác. Để lấy dầu
thương phẩm và vận chuyển được ta phải xây dựng hệ thống thu gom và xử lý.
Nhiệm vụ của hệ thống thu gom và xử lý là:
+ Tách dầu ra khỏi khí và nước.
+ Dùng hóa phẩm để gia nhiệt hoặc hạ nhiệt của dầu.
+ Phân phối dòng sản phẩm nhờ cụm Manhêphon đến các thiết bị đo, kiểm
tra, xử lý theo sơ đồ công nghệ.
5.3.2. Nguyên lý làm việc của hệ thống thu gom và xử lý dầu.
Sau khi dòng sản phẩm ra khỏi miệng giếng, nó đi qua hệ thống phân
dòng(cụm manhêphon) để phân phối dòng theo các đường ống phù hợp với từng
mụch đích công nghệ sau:
∗ Đối với giếng gọi dòng:
Sản phẩm dầu khí sau khi ra khỏi miệng giếng được phân phối về đường gọi
dòng để đưa vào bình gọi dòng. Tại đây:
- Dầu được tách ra và đưa về bình chứa 100m3 để tách lần 2.
- Khí đưa ra pakel đốt.
- Nước, dung dịch khoan, dung dịch gọi dòng xả xuống biển.
Khi thấy dầu phun lên thì người ta không đưa sản phẩm vào bình gọi dòng
mà chuyển sang bình tách (HΓC hoặc bình 100m3).
∗ Đối với giếng cần đo:
Khi tiến hành khảo sát giếng, kiểm tra định kì hoặc đột xuất để xác lập các
thông tin của vỉa và giếng nhằm xây dựng chế độ khai thác hợp lý người ta tiến
hành công tác đo.
Quy trình công nghệ như sau: dầu-khí sau khi ra khỏi miệng giếng được đưa về
đường đo dẫn về bình đo. Bình đo có tác dụng tách dầu riêng, khí riêng.
90