Tải bản đầy đủ
NHỮNG PHỨC TẠP, SỰ CỐ TRONG QUÁ TRÌNH KHOAN VÀ CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG – BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

NHỮNG PHỨC TẠP, SỰ CỐ TRONG QUÁ TRÌNH KHOAN VÀ CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG – BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ

- Lựa chọn và điều chỉnh đúng chế độ khoan qua các tầng không ổn định cũng tạo
khả năng ngăn ngừa sập lở tốt.
* Hiện tượng sập lở thành giếng khoan thể hiện qua những dấu hiệu sau:
- Áp lực trong máy bơm tăng lên đột ngột.
- Dung dịch đưa từ giếng khoan lên chứa nhiều vụn đất đá.
- Trong khi khoan và kéo thả cần khoan bị mắc.
- Thả dụng cụ không đến đáy giếng khoan.
* Các biện pháp ngăn ngừa:
- Các đoạn sập lở được chỉ ra trong thiết kế kỹ thuật địa chất. Trước khi khoan vào
đoạn sập lở cần phải áp dụng các biện pháp ngăn ngừa. Biện pháp hiệu quả nhất là
làm nặng dung dịch sét và tăng cường chất lượng của nó bằng gia công hoá học.
- Có thể khoan qua vùng sập lở với dung dịch sét đã gia công hoá học có độ thải
nước và trọng lượng riêng đảm bảo cho áp lực của dung dịch cao hơn áp lực vỉa.
- Khoan lỗ khoan với đường kính nhỏ nhất khi có thể. Người ta đã chứng minh rằng
giảm đường kính giếng khoan thì mức độ sập lở cũng giảm xuống.
- Dùng các choòng khoan cùng một cỡ đường kính để khoan từ chân cột ống trước
đến chân cột ống sau.
- Tốc độ dung dịch đi lên ở ngoài cần khoan phải không nhỏ hơn 1,5m/s.
- Thả cột cần khoan xuống đáy êm và trơn tru. Tránh thay đổi trọng lượng riêng của
dung dịch sét trong một khoảng lớn. Trước khi kéo cần khoan lên cần phải bù dung
dịch vào giếng khoan.
- Không để cần khoan nằm yên trong giếng khoan trong một thời gian dài để tránh
hiện tượng bó cột cần.
8.1.2. Hiện tượng mất dung dịch khoan
8.1.2.1. Các nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng mất dung dịch
* Áp lực cột dung dịch lớn hơn áp lực vỉa (chênh áp càng lớn thì gây mất dung dịch
càng nặng, ở những tầng thấm và tầng đất đá nứt nẻ)
* Do đặc tính của tầng mất dung dịch:
- Các tầng mất dung dịch có thể là tầng chứa dầu - khí - nước có độ rỗng và độ thấm
lớn, các tầng đã được khai thác có áp lực vỉa giảm xuống.
- Tầng đất đá bị vò nhàu, huỷ hoại do chuyển động kiến tạo, các hang động carter và
đặc biệt là tầng móng dễ bị mất dung dịch nhất.
8.1.2.2. Nghiên cứu vùng mất dung dịch
Để chống mất dung dịch có hiệu quả và có biện pháp ngăn ngừa cho giếng khoan
sâu

105

cần phải nghiên cứu tổng hợp ngay sau khi khoan vào tầng mất dung dịch. Công tác
nghiên cứu tổng hợp bao gồm:
* Nghiên cứu thuỷ động để tìm hiểu cường độ mất dung dịch.
* Xác định ranh giới sự hút nước của các tầng, sự tồn tại dòng chảy từ vỉa này sang
vỉa khác trong giếng khoan.
* Xác định đường kính thực của giếng khoan trong vùng mất dung dịch.
8.1.2.3. Các biện pháp phòng chống mất dung dịch
Để khắc phục các hiện tượng mất dung dịch có cường độ khác nhau và mất hoàn
toàn, người ta dùng các phương pháp chủ yếu sau:
* Giảm chênh lệch áp lực giữa giếng khoan và vỉa bằng cách thay đổi thông số dung
dịch.
* Đối với các vùng có nguy cơ mất dung dịch cao như tầng móng có thể cho thêm
chất độn vào dung dịch (vỏ trấu, xơ dừa và các chất dạng sợi).
* Dự trữ đầy đủ lượng dung dịch cần thiết kịp thời khi xảy ra hiện tượng mất dung
dịch.
8.1.3. Hiện tượng kẹt mút bộ cần khoan
* Đối với giếng thi công khoảng từ 1890 – 2524 dễ xảy ra hiện tượng kẹt mút bộ
cần khoan, đây là khoảng ổn định góc nghiêng, tỷ lệ cát kết/sét kết là 35/65 (%).
Bên cạnh đó vùng này có hệ số mở rộng thành là 1,2 nên dễ gây là các hốc làm mùn
khoan bị dữ lại khi ngừng tuần hoàn làm mùn khoan lắng xuống đấy gây kẹt mút bộ
khoan cụ
8.1.3.1. Các nguyên nhân gây kẹt bộ cần khoan
Hiện tượng kẹt cần khoan có thể xảy ra do những nguyên nhân sau:
* Bộ cần khoan bị kẹt do sự trương nở của sét.
* Hiện tượng kẹt do chênh áp: Hiện tượng này xảy ra mạnh mẽ ở những đoạn thân
giếng nghiêng vì khi đó cột cần khoan dựa vào thành giếng và do sự chênh lệch áp
lực giữa cột dung dịch và áp lực vỉa tạo ra lực dư ép cần khoan vào thành giếng.
Ngoài ra lực dư còn do cột cần khoan tạo nên dẫn tới kẹt cần do bám dính mà không
dạo được cột cần.
* Hiện tượng kẹt do sập lở thành giếng khoan làm chôn vùi bộ dụng cụ.
* Để cột cần khoan nằm yên trong giếng với thời gian dài làm mùn khoan lắng
xuống.
* Các thông số dung dịch và tốc độ bơm rửa không đủ để đưa mùn khoan lên.

106

8.1.3.2. Các biện pháp phòng tránh
* Dùng dung dịch sét có chất lượng cao, tạo lớp vỏ sét mỏng và chặt sít trên thành
giếng khoan. Độ thải nước nhỏ, ứng suất cắt tĩnh lớn
* Bảo đảm tốc độ đi lên của dòng dung dịch dưa mùn khoan lên bề mặt. Trước khi
kéo cần lên phải rửa sạch choòng khoan và điều chỉnh thông số dung dịch cho phù
hợp với yêu cầu thiết kế.
* Thường xuyên doa lại những đoạn có khả năng hình thành lớp vỏ sét dày.
* Trong trường hợp bắt buộc phải dừng khoan thì cứ 3 ÷ 5phút lại dạo dụng cụ lên
xuống và cho quay cột cần khoan.
* Dùng dung dịch có thêm hàm lượng chất bơi trơn ( Than chì)
8.1.3.3. Các biện pháp cứu kẹt
Dùng hệ thống tời kéo và quay Đầu quay Top drive với lực kéo lớn nhất. Nếu
không giải phóng được bộ dụng cụ bằng cách trên thì xác định điểm kẹt và dựa vào
đó lập kế hoạch sửa chữa.
Điểm kẹt được xác định theo công thức:

Trong đó:
L: Độ dài phần tự do trên điểm kẹt
1,05: Hệ số chỉ sự tồn tại của khoá nối
E: Mô đun đàn hồi của thép. E = 2.106kG/cm2
P1: Lực kéo lần thứ nhất
P2: Lực kéo lần thứ hai
I: Độ giãn cần khoan sau hai lần kéo
* Nếu sử dụng thiết bị lắc đập để cứu kẹt thì trước hết phải tháo đoạn cần tự do
bằng cách quay trái bộ cần ở trạng thái không nén lực hoặc bằng dây đạn nổ.
* Cần phải đặt khoá an toàn phía trên cần nặng vì đó là điểm nguy hiểm nhất khi bị
kẹt. Bộ khoá an toàn sẽ cho phép tháo được nhanh chóng.
* Trước khi thả thiết bị lắc đập phải kiểm tra vỏ và ren bằng khoá máy.
* Khi nối thiết bị lắc đập với bộ phận bị kẹt thì tiến hành đập 12 ÷ 15phút trong
tình trạng căng bộ cần. Lực đập và lực kéo trong suốt quá trình thực hiện phải bằng
nhau.
* Nếu sau 5 ÷ 6 chu kỳ lắc đập không có kết quả thì dừng lại 10 ÷ 15 phút rồi tiếp
tục các chu kỳ lắc đập với lực kéo và lực đập lớn hơn. Lực đập đầu tiên bằng 1 phần

107

bộ dụng cụ 12 ÷ 15T, sau mỗi chu kỳ tăng từ 2 ÷ 3T. Lực kéo cực đại không quá
15 ÷ 20T (không kể trọng lượng bộ dụng cụ đặt phía trên thiết bị lắc đập.
* Nếu bộ phận bị kẹt được giải phóng 1 phần thì xác định điểm được giải phóng để
kéo lên, sau đó tiếp tục các quy trình tiếp theo để giải phóng nốt phần còn lại.
* Tiến hành cứu kẹt do sập lở thành giếng
Để giải phóng bộ khoan cụ ta có thể tiến hành các biện pháp sau:
- Tác động lực kéo lên cột cần khoan, bơm rửa dung dịch đặc biệt qua khoảng
không vành xuyến nhằm bôi trơn, hoà tan cacbonat, có thể dùng dầu thô hoặc dung
dịch axit Clohydric;
- Nếu bộ khoan cụ không giải phóng theo phương pháp trên ta co thể tiến hành
tháo phần tự do của cột cần khoan nhờ sức công phá của khôi thuốc nổ, sau đó sử
dụng dụng cụ chụp Colocon bên trên có lắp búa thuỷ lực tạo ra xung lực để giải
phóng bộ khoan cụ. Nếu biện pháp trên không thành công ta có thể đổ cầu xi măng
mở thân giếng mới.
* Tiến hành cứu kẹt do chênh áp
Ngoài các biện pháp cứu kẹp thông thường ta còn có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Sử dụng dung dịch bôi trơn để giảm ma sát giữa cột cần khoan và thành giếng,
kết hợp các tác động cơ học;
- Giảm áp suất cột dung dịch trong phạm vi cho phép.
8.1.4. Sự cố đứt tuột cần khoan
* Nguyên nhân của sự cố đứt tuột cần khoan
Sự cố đứt tuột cần khoan là sự cố chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 70% số lượng các
sự cố xẩy ra trong quá trình khoan. Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cố này như:
Nguyên nhân do con người:
- Trong quá trình khoan không giám sát chặt quá trình khoan. Bộ dụng cụ đáy
bị kẹt cứng tuy nhiên ở trên chưa phát hiện ra vì vậy mômen xoắn của cột cần lớn
hơn mức cho phép dẫn tới đứt cần khoan;
- Trong quá trình tính toán thiết kế chọn bộ khoan cụ không chính xác dẫn tới
điểm trung hoà vượt lên trên đoạn cần khoan chứ không nằm ở đoạn cần nặng.
Đoạn cần khoan sẽ không đủ điều kiện bền mỏi trong quá trình làm việc nó cũng
dẫn tới sự cố đứt cần.
Nguyên nhân thiết bị không đủ bền để đáp ứng cho quá trình làm việc do thiết bị
cũ, có khuyết tật không phát hiện ra.
* Cách ngăn ngừa sự cố đứt cần
Trong quá trình khoan do sử dụng phương pháp khoan roto là chủ yếu nên cần

108

khoan được chú ý chọn loại cần khoan đủ độ bền và zamoc lắp thành từng đoạn cần
dựng tại xưởng. Kiểm tra bằng thuỷ lực và siêu âm trước khi đưa cần vào sử dụng.
* Biện pháp cứu chữa sự cố
Dụng cụ cứu chữa đối với cần khoan:
- Metric: Dùng trong trường hợp cần khoan bị đứt hay tuột ren ở vùng đầu nối.
Để bắt nối với cần khoan còn lại ta tạo ren trái phía trong của cần khoan và tháo
từng phần cột cần khoan;
- Côlôcôn: dùng trong trường hợp cần khoan bị đứt ở chân, hay những cần khoan
dùng Met trích để cứu nhưng không thành công, ta dùng Côlôncô để tiện ren bên
ngoài cần khoan;
- Ống hom giỏ: Dùng trong trường hợp bị đứt cần khoan có đường kính lớn, đầu
nối bị biến dạng hay đứt không đồng đều, khi sử dụng với Côlôncô không an toàn ta
sử dụng ống hom giỏ;
- Ống chụp: Nếu chỗ đứt gãy không phẳng và có thể bị nứt dọc, thì dùng ống
chụp mà cần khoan có thể chui qua, có lắp thêm một đoạn ống thích hợp;
- Dao cắt: Khi cần khoan bị kẹt không thể kéo lên được, sau khi đã dùng nhiều
biện pháp cứu chữa như ngâm dầu, axit, bắn mìn . . . Ta dùng dao cắt và lấy cần
khoan lên. Dao cắt có 2 loại là dao cắt bên ngoài và dao cắt bên trong.
8.1.5. Sự cố rơi các dụng cụ xuống đáy
* Nguyên nhân
- Các dụng cụ bị lỏng trong quá trình làm việc;
- Không giữ cẩn thận ở miệng lỗ khoan trong thời gian nâng thả cũng như khi
kéo hết cần ra khỏi miệng lỗ khoan;
- Thao tác nâng thả sai trong quá trình nâng và tháo vặn cần;
- Làm việc thiếu chú ý ở miệng lỗ khoan.
Cần khoan có thể bị rơi, bởi quá trình nâng thả elevatơ bị hỏng. Hay trong quá
trình nâng thả không chú ý đóng elevatơ. Cũng có thể gây ra do thao tác nâng thả
cần khoan bị tháo ren. Trong khi rơi choòng khoan bị cắm xuống đáy và cần bị cong
và có trường hợp không thể nào lấy lên được.
Cần nặng bị rơi có thể do không sử dụng các chấu chèn đặc biệt dùng cho cần nặng.
Còn rơi các dụng cụ khác có thể do những sơ suất, hay do bị hư hỏng trong quá
trình làm việc. Hậu quả của nó có thể gây nên kẹt cần, rơi xuống đáy. Ngăn cản quá
trình tiếp tục khoan.
* Biện pháp cứu chữa
Trong trường hợp choòng khoan bị đứt hay tượt ở đầu nối, Nếu vị trí của nó ở
thế thẳng đứng. Người ta dùng Met trích đặc biệt để cứu . Nếu như không thể cứu

109

được bằng phương pháp này thì người ta dùng các phay đặc biệt để khoan phá. Sau
đó các phoi bị phá được lấy lên nhờ đầu chụp hay doa nam châm.
8.1.6. Sự cố về choòng khoan
Trong các sự cố về choòng khoan thì sự cố rơi choòng là phổ biến nhất. Ngoài
ra còn hay sảy ra một số sự cố khác như : bị vỡ choòng đứt thân, vỡ vòng bi, tuột
đầu nối.
* Nguyên nhân
- Kiểm tra không kĩ chất lượng choòng khoan trước khi khoan;
- Thời gian sử dụng choòng khoan để khoan quá lâu làm cho các chóp khoan bị
mài mòn nhất là ổ đỡ;
- Các thông số chế độ khoan không hợp lý nhất là tải trọng đáy và tốc độ quay;
- Do khuyết tật của choòng trong quá trình chế tạo;
- Khi đưa cho òng vào làm việc, bị kẹt ở giếng do đường kính lỗ khoan bị bó
hẹp lại.
* Dấu hiệu nhận biết
- Mômen quay trên bàn roto tăng do ổ bi chóp bị kẹt;
- Rung lắc bộ cần khoan;
- Giảm tốc độ cơ học 2 - 2,5 lần với cùng một chế độ khoan trước.
* Biện pháp phòng ngừa và cứu chữa
- Biện pháp phòng ngừa:
+ Kiểm tra kĩ chất lượng choòng khoan đặc biệt là ổ đỡ của các chóp xoay trước
khi thả vào giếng;
+ Lựa chọn các cho òng khoan phải phù hợp với cột địa tầng và tính chất cơ học
của đất đá của từng khoảng khoan;
+ Chế độ khoan phải tuân thủ nghiêm ngặt theo thiết kế.
- Phương pháp cứu chữa:
Khi choòng bị rơi xuống đáy giếng khoan, nếu nó ở thế thẳng đứng ta có thể
dùng Metric dặc biệt kể cứu chữa. Nếu không được ta có thể sử dụng choòng khoan
nam châm khoan với tốc độ chậm và tải trọng đáy nhỏ đủ để nghiền nát chóp xoay,
rồi nhờ đầu chụp hoặc doa nam châm để lấy các mảnh vụn lên mặt đất
8.1.7. Sự xuất hiện của dầu- khí và phun trào
* Dấu hiệu báo trước khi xuất hiện dầu khí phun trào:
- Dấu hiệu trực tiếp: tăng thể tích dung dịch trong bể chứa, tăng dòng chảy chảy của
dung dịch đi lên từ giếng khoan khi không tăng lưu lượng máy bơm.
- Dấu hiệu gián tiếp: tăng tốc độ cơ học khoan, thay đổi chỉ số của dung dịch khoan,
thay đổi áp suất bơm, thay đổi thông số chế độ khoan.

110

* Nguyên nhân và điều kiện xuất hiện dầu khí phun:
- Có sự sai sót trong việc xác định áp suất vỉa, khi thi công giếng và kiểm tra không
đủ các thông số vỉa trong quá trình khảo sát mỏ.
- Giảm áp suất thuỷ tĩnh vỉa.
- Sử dụng dung dịch có trọng lượng riêng nhỏ hơn trọng lượng riêng của dung dịch
thiết kế.
- Không bơm rót dung dịch vào giếng khi kéo cần tại các vỉa đã mở. Giếng khoan
dừng lâu khi đã mở tầng sản phẩm nhưng không bơm rửa.
- Tăng hàm lượng của khí trong dung dịch trong quá trình khoan.
- Không áp dụng biện pháp dóng kín miệng giếng khi có dấu hiệu xuất hiện dầu khí
* Các biện pháp phòng chống:
- Sử dụng dung dịch có trọng lượng riêng đúng với trọng lượng riêng thiết kế.
- Luôn theo dõi các thông số dung dịch, nếu thấy hiện tượng như trên phải điều
chỉnh lại các thông số dung dịch, nhất là phải tăng trọng lượng riêng, độ nhớt và
ứng suất cắt tĩnh.
- Thường xuyên kiểm tra lại mặt bích của thiết bị chống phun.
- Khi kéo thả cần phải thường xuyên rót dung dịch vào giếng.
- Khi thấy xuất hiện dầu khí phải nhanh chóng đóng các đối áp làm kín miệng
giếng.
- Lúc kéo thả, nếu thấy xuất hiện dầu khí cũng phải dừng ngay kéo thả và đóng kín
miệng giếng.
8.2. Công tác an toàn lao động và vệ sinh môi trường
8.2.1. Các yêu cầu và biện pháp cơ bản của kỹ thuật phòng chữa cháy và an

toàn lao động
* Việc tổ chức các công tác bảo vệ lao động và kỹ thuật an toàn trên giàn khoan cố
định, thực hiện theo quy chế đối với giàn khoan cố định được soạn thảo dựa trên
các yêu cầu của hệ thống quản lý bảo hộ lao động trong công nghiệp dầu khí, các
nội quy quyết định của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro.
* Vấn đề an toàn của các công tác trên giàn khoan phải được thực hiện theo các quy
chế hiện hành về an toàn lao động trong công nghiệp dầu khí (cơ quan an toàn lao
động Matxcơva), các quy chế trong thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa.
Trên cơ sở quy chế này và xem xét các điều kiện cụ thể của việc thăm dò và khai
thác ở nước ta mà xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đã đưa ra các hướng dẫn về an
toàn lao động cụ thê trong công tác khoan trên biển.

111

* Trên giàn khoan phải được trang bị các phương tiện kỹ thuật an toàn hiện đại có
thể báo trước sự cố có thể sảy ra trên giàn khoan, bảo đảm vệ sinh công nghiệp,
ngăn ngừa các chứng bệnh nghề nghiệp của công nhân và nhân viên trên giàn, đồng
thời trên giàn khoan phải được trang bị các phương tiện cấp cứu tập thể.
* Việc huấn luyện kỹ thuật an toàn phải được tiến hành thường xuyên và thực hiện
theo đúng điều lệ của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro.
* Hệ thống ánh sáng phải được đảm bảo cho công nhân viên trên giàn. Do tính liên
tục của quá trình công nghệ khoan trên biển mà công tác khoan đòi hỏi cao về độ
sáng tại nơi làm việc, các tiêu chuẩn về độ sáng được nêu trong nội quy an toàn của
xí nghiệp.
* Tiếng ồn và độ rung: tại nơi làm việc ngoài việc sắp xếp hợp lý độ sáng thích hợp,
cần phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc giảm tiếng ồn độ rung đến
mức tiêu chuẩn cho phép. Các phương tiện bảo vệ do viện nghiên cứu an toàn lao
động Liên Bang Nga quy định nhằm giảm tiếng ồn và độ rung tại nơi làm việc.
* Việc phân bố thành phần và số lượng phương tiện cấp cứu xử lý sự cố phải tương
ứng với điều kiện trên giàn.
* Các công tác bốc dỡ hàng phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo của người có trách
nhiệm.
* Phòng cháy chữa cháy trên giàn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của quy chế an
toàn trong thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam, trên các giàn
phải có đội cơ động hoạt động theo kế hoạch xử lý sự cố. Trên các giàn phải có dự
trữ các
chất làm nặng, dầu mỡ, điều khiển thuỷ lực đối áp. Việc thử hệ thống đối áp tiến
hành với sự có mặt của đại diện ban phòng chống phun.
8.2.2. An toàn lao động khi khoan các giếng dầu và khí
Việc khoan chỉ được bắt đầu khi công tác lắp ráp thiết bị khoan đã kết thúc và
được
hội đồng nghiệm thu, tham gia vào hội đồng nghiệm thu có đại diện của cán bộ
phòng
an toàn lao động.
* Việc khoan trên biển chỉ do những người được học chuyên ngành về khoan thực
hiện.
* Trước lúc bắt đầu khoan cần phải:
- Rửa sàn khoan, giá để cần, máy khoan và các nơi khác.
- Thu dọn tất cả các thiết bị không liên quan có thể gây trở ngại cho công việc
khoan.

112

- Kiểm tra lại động cơ khoan, cho động cơ hoạt động thử, kiểm tra đầu xa- nhích.
- Kiểm tra lại các máy móc khác (đồng hồ đo áp suất, đồng hồ đo trọng lượng, …).
* Trước khi khoan giếng phải lắp thiết bị đối áp trên miệng giếng và thiết bị này
phải đảm bảo độ an toàn trong quá trình làm việc,.
* Kiểm tra lại ròng rọc tĩnh, ròng rọc động, móc xa- nhich và các thiết bị khác. Cần
đặc biệt chú ý đến việc gia cố các bộ phận của chúng, các bulông nối các thiết bị
cần phải được hãm chặt.
* Khi khoan có khả năng xuất hiện dầu khí, kíp trưởng phải biết chắc là trên giàn
khoan hiện có hai van ngược đã được ép thử có điều kiện phù hợp với điều kiện cần
khoan đang sử dụng.
* Nếu trước khi khoan đã tiến hành công tác sửa chữa thì trước lúc sắp cho máy
chạy phải dọn hết các đồ vật không cần thiết (Bulông, ecu, dụng cụ cầm tay…) từ
các thiết bị được sửa chữa.
8.2.3. Những nhiệm vụ và biện pháp đầu tiên của đơn vị khoan khi có báo
động cháy
* Nhiệm vụ của kíp khoan:
- Khi có xuất hiện dầu khí phun phải nhanh chóng làm kín miệng giếng, sau 5 ÷ 10
phút phải ghi lại áp suất dư bên ngoài cần, áp suất dư trong cần, thể tích dung dịch
trong bể chứa.
- Công việc tiếp theo được tiến hành theo lệnh của đốc công, kỹ sư trưởng hay giàn
trưởng.
* Biện pháp đầu tiên của ca khi dầu khí, nước khi khoan hoặc kéo thả cần:
- Kíp trưởng: ngừng ngay tuần hoàn, kéo cần đến khi đầu nối với cần vuông lên
khỏi bàn Rotor. Lắp van bi xoay vào cần khoan (khi dưới cần vuông không có) mở
van thuỷ lực trên đường Manhephone bơm dung dịch khoan. Bố trí theo dõi và ghi
lại áp suất ở ngoài cần. Trường hợp áp suất trong ống tăng cao hơn áp suất cho
phép, theo lệnh của kỹ sư và giàn trưởng, xả áp suất dư đồng thời bơm dung dịch
nặng.
- Phụ khoan: Tham gia lắp bi xoay vào cần khoan, đóng van trước và điều khiển,
sau đó đóng van dập giếng. Chuẩn bị các phương tiện tách khí hoạt động và đánh
dung dịch nặng.
- Thợ dung dịch: Theo dõi sự tuần hoàn của dung dịch khoan, đo các thông số của
dung dịch khoan, thông báo cho kíp trưởng và đốc công biết sự hiện diện của dầu,
khí và nước.
* Biện pháp đầu tiên của ca khi dầu khí, nước khi giếng khoan trống:

113

- Khi khoan, đo địa vật lý hoặc bắn mìn phải ngừng ngay các công việc lại và đóng
đối áp vạn năng.
- Công việc tiếp theo làm theo lệnh của các cán bộ kỹ thuật.
* Các trường hợp đặc biệt:
- Mọi công việc khác với các trường hợp trên phải được tiến hành và tuân theo kế
hoạch của lãnh đạo.
- Khi nhận tín hiệu đóng đối áp, kíp trưởng ở bàn điều khiển thuỷ lực, mở van điều
khiển thuỷ lực ở đường xả và đóng đối áp trên.
8.2.4. Vệ sinh môi trường trong quá trình thi công giếng khoan
* Để đảm bảo an toàn lao động và sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên trong xí
nghiệp, cần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và hướng dẫn kiểm tra an toàn lao động theo
định kỳ hàng năm.
* Xét tới sự hiện diện các hợp chất hữu cơ trong không khí theo hướng dẫn về
phòng chống khí độc trong công nghiệp. Công nhân khoan cần được trang bị các
phương tiện phòng chống khí độc khi làm việc với những hoá chất độc hại.
* Trong quá trình làm việc, do chịu tác động
của tiếng ồn và độ rung cao, vì vậy,
công nhân cần được trang bị các thiết bị chống ồn và giảm rung.
* Độ chiếu sáng cũng là một điều kiện hết sức cần thiết đảm bảo sự an toàn của
công việc và con người.

114

CHƯƠNG IX
TỔ CHỨC THI CÔNG VÀ TÍNH TOÁN GIÁ THÀNH
9.1. Tổ chức thi công.
9.1.1. Cơ cấu tổ chức
Để đảm bảo kỹ thuật và tiến độ thi công giếng khoan theo đúng lịch trình đã
vạch ra, phòng khoan của xí nghiệp liên doanh VietSovpetro là phòng chức năng cố
vấn trực tiếp cho xí nghiệp khoan ngoài biển trong suốt quá trình thi công và cung
ứng vật tư kỹ thụât. Ngoài ra xí nghiệp liên doanh đã thành lập nhóm giám sát với
chức năng giám sát kỹ thuật chi phí thực tế về đầu tư và thời gian thi công, thực
hiện theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt.
Trong đội khoan ngồm có 04 kíp chia ra làm 02 ca gồm ca ngày và ca đêm.
Trong 04 kíp 02 kíp nghỉ ở bờ và 02 kíp làm việc ngoài biển ( kíp đi kíp về). Ngoài
biển có 02 kíp. Kíp (I) làm việc từ 07 h đến 19h, kíp (II) làm việc từ 19h đến 07h ngày
hôm sau, thời gian làm việc 12h /ngày, tháng làm việc 15 ngày ngoài biển.
9.1.2. Tổ chức ca sản xuất
* Tổng số công nhân viên trên giàn trong mỗi ca sản xuất lớn nhất:55 người
* Cơ cấu tổ chức một ca sản xuất trên giàn khoan Bạch Hổ: Mỗi ca sản xuất trên
giàn khoan kéo dài 15 ngày và được tổ chức như sau:
- Một giàn trưởng (hoặc giàn phó quyền giàn trưởng);
- Một thuyền trưởng;
- Đội khoan bao gồm: 2 đốc công (1 là người Việt Nam và một là người Nga),
bốn kíp trưởng và tám phụ khoan. Đội khoan được chia thành hai kíp khoan, mỗi
kíp khoan làm việc 12 giờ trong một ngày và nhiệm vụ của mỗi thành viên trong
đội như sau:
+ Đốc công khoan: Chịu trách nhiệm chỉ đạo việc thi công giếng khoan;
+ Kíp trưởng: Thực hiện công tác khoan và kéo thả bộ khoan cụ;
+ Công nhân khoan: Gồm một thợ làm việc trên cao, một phụ trách dung dịch và
hai thợ sàn khoan thực hiện công tác tháo vặn cần, dọn dẹp sàn khoan, sơn…

115