Tải bản đầy đủ
Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý làm việc của phương pháp khai thác bằng gaslift theo cấu trúc hai dãy ống nâng - Hệ vành xuyến

Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý làm việc của phương pháp khai thác bằng gaslift theo cấu trúc hai dãy ống nâng - Hệ vành xuyến

Tải bản đầy đủ

14

Sau khi kết thúc thời kỳ khai thác tự phun mực chất lỏng cách miệng giếng
h0, khi tiến hành nén khí vào khoảng không vành xuyến giữa 2 dãy OKT, sản phẩm
của giếng đi lên theo trong dãy OKT thứ nhất (hình 2.1). Mực chất lỏng trong giếng
cách miệng giếng một khoảng h0 gọi là mực tĩnh. Chiều sâu mà OKT nhúng chìm
trong chất lỏng gọi là chiều sâu nhúng chìm h1 (hình 1.1.a). Nén khí vào khoảng
không vành xuyến giữa OKT thứ nhất và OKT thứ hai, áp suất khí tăng dần, mực
chất lỏng giữa 2 dãy OKT giảm dần. Một phần chất lỏng dâng lên trong OKT thứ
nhất, phần nữa dâng lên theo khoảng không vành xuyến giữa OKT thứ hai và ống
chống khai thác, phần nữa đi ngược vào vỉa (hình 1.1.b). Cho đến khi khí bắt đầu
xâm nhập vào trong OKT thứ nhất, tại thời điểm đó áp suất khí nén đạt giá trị lớn
nhất Pk.max (giá trị đó gọi là áp suất khởi động). Chiều cao mực chất lỏng giữa ống
thứ hai và ống chống khai thác đạt giá trị cao nhất h' o.min. Áp suất đáy tại thời điểm
này đạt giá trị lớn nhất P đ.max. Tiếp tục duy trì nén khí, khí sẽ xâm nhập vào trong
OKT thứ nhất làm nhẹ cột chất lỏng dẫn đến áp suất khí (P k) giảm dần, khi đó mực
chất lỏng ngoài ống thứ hai bắt đầu hạ xuống, đồng thời áp suất đáy giếng cũng
giảm dần theo và chất lỏng trong vỉa bắt đầu xâm nhập vào đáy giếng (hình 1.1.c).
Quá trình nén khí vẫn được tiếp tục, chất lỏng từ vỉa tiếp tục xâm nhập vào giếng và
quá trình khai thác đã được thực hiện, chiều sâu từ miệng giếng đến mực chất lỏng
ngoài OKT thứ hai gọi là mực thủy động (h2).
Hiệu quả của phương pháp gaslift phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Độ sâu nhấn chìm tương đối của ống khai thác, nếu giá trị này nhỏ quá thì
hiệu quả của phương pháp gaslift sẽ giảm. Còn nếu giá trị ấy quá lớn đòi hỏi phải
nén khí với áp suất cao;
- Phụ thuộc vào đường kính ống khai thác, đường kính ống khai thác càng
nhỏ thì chiều dài nâng càng lớn, tuy nhiên nếu quá nhỏ thì hao phí năng lượng sẽ
lớn;
- Phụ thuộc vào lượng khí nén xuống giếng, lượng khí nén xuống giếng
nhiều thì tỷ trọng sẽ càng giảm. Như vậy độ nâng cao của hỗn hợp càng lớn;
- Phụ thuộc vào độ nhớt của chất lỏng khai thác, trong cùng điều kiện như
nhau thì độ nâng cao của dầu lớn hơn nước vì dầu có độ nhớt lớn hơn. Do khí khó
vượt qua dầu hơn là nước nên nó có tác dụng vào dầu lớn hơn dẫn đến nâng được
cao hơn;
- Phụ thuộc vào áp suất trên nhánh xả;
- Phụ thuộc vào hệ số sản phẩm;

15

- Phụ thuộc vào lượng khí tách ra khỏi dầu;
1.1.3. Phạm vi ứng dụng
Hiện nay giải pháp khai thác dầu bằng phương pháp gaslift đang được áp dụng
rộng rãi trên cả đất liền và ngoài biển, đặc biệt đối với vùng xa dân cư và khó đi lại.
Giải pháp này thích ứng với những giếng có tỷ số khí dầu cao có thể khai thác ở
những giếng có độ nghiêng lớn và độ sâu trung bình của vỉa sản phẩm trên 3000 m.
Phương pháp này hiện đang được áp dụng phổ biến ở mỏ Bạch Hổ.
1.1.4. Ưu điểm của phương pháp khai thác gaslift
- Có thể đưa giếng vào khai thác ngay sau khi giai đoạn tự phun chấm dứt;
- Cấu trúc của cột ống nâng đơn giản không có chi tiết chóng hỏng;
- Phương pháp này có thể áp dụng với giếng có độ sâu và độ nghiêng lớn;
- Khai thác với giếng có yếu tố khí lớn và áp suất bão hòa cao;
- Khai thác lưu lượng lớn và điều chỉnh được lưu lượng khai thác;
- Có thể khai thác ở những giếng có nhiệt độ cao và hàm lượng Paraffin lớn,
giếng có cát và có tính ăn mòn cao;
- Khảo sát và xử lý giếng thuận lợi, không cần đưa cột ống khai thác lên mà
có thể đưa dụng cụ qua nó để khảo sát;
- Sử dụng triệt để khí đồng hành;
- Ít gây ô nhiễm môi trường;
- Có thể khai thác đồng thời từng vỉa trong cùng một giếng;
- Thiết bị đầu giếng khai thác bằng phương pháp gaslift giống với giếng khai
thác bằng chế độ tự phun ngoại trừ hệ thống đo và phân phối khí nén;
- Thiết bị lòng giếng tương đối rẻ tiền và chi phí bão dưỡng thấp hơn so với
các phương pháp khai thác dầu khác;
- Hệ thống gaslift trung tâm có thể khai thác và điều hành nhiều giếng một
lúc cách dễ dàng;
- Giới hạn đường kính ống chống khai thác không ảnh hưởng đến sản lượng
khai thác khi dùng phương pháp gaslift;
- Có thể sử dụng kỹ thuật tời trong dịch vụ sửa chữa các thiết bị lòng giếng.
Điều này không những tiết kiệm thời gian mà còn giảm chi phí sửa chữa.
1.1.5. Nhược điểm của phương pháp khai thác gaslift
- Đầu tư ban đầu rất cao so với các phương pháp khác;
- Năng lượng sử dụng để khai thác một tấn sản phẩm cao hơn so với các
phương pháp khác;

16

- Do dùng khí nén nên dễ hỏng ống chống khai thác;
- Không tạo được chênh áp lớn nhất để hút cạn dầu trong vỉa ở giai đoạn cuối
của quá trình khai thác;
- Nguồn cung cấp năng lượng khí phải đủ cho toàn bộ đời mỏ. Nếu không đủ
hoặc giá khí đắt phải chuyển sang phương pháp khác;
- Chi phí vận hành và bảo dưỡng trạm nén khí cao, đòi hỏi đội ngũ công
nhân vận hành và công nhân cơ khí lành nghề;
1.1.6. Các phương pháp khai thác dầu bằng gaslift
Tùy thuộc vào phương pháp ép khí nén mà người ta chia ta hai phương pháp
gaslift khác nhau:
- Phương pháp gaslift liên tục;
- Phương pháp gaslift định kỳ.
1.1.6.1. Phương pháp khai thác bằng Gaslift liên tục
Đây là phương pháp mà khí nén được đưa liên tục vào khoảng không vành
khuyên còn sản phẩm đưa lên mặt đất diễn ra liên tục.
a. Phạm vi áp dụng phương pháp:
- Đối với giếng có lưu lượng khai thác lớn. Trong trường hợp ống khai thác
không đủ thì áp dụng sơ đồ khí nén dạng trung tâm;
- Đối với những giếng mà sản phẩm khai thác có chứa cát hay bị ngập nước;
- Áp dụng cho những giếng mà sản phẩm khai thác có độ nhớt cao;
- Áp dụng với giếng khai thác có tỷ suất khí cao cho dù sản lượng giếng có thể
nhỏ.
b. Ưu điểm của phương pháp gaslift liên tục:
- Năng lượng của khí nén và khí đồng hành ở miệng giếng được tận dụng để
đưa sản phẩm đến hệ thống thu gom xử lý;
- Khí nén được bơm vào giếng và khai thác với lưu lượng tương đối ổn định,
hạn chế được nhiều phức tạp trong hệ thống gaslift (Paraffin bám vào thành ống,
thay đổi đột ngột áp suất ở đáy giếng);
- Điều chỉnh lưu lượng khí nén một cách thuận lợi bằng các côn điều khiển.
c. Nhược điểm của phương pháp gaslift liên tục: Hiệu quả khai thác không
thể so sánh với khai thác bằng máy bơm điện chìm với những giếng có lưu lượng
cao nhưng mực nước động thấp.
1.1.6.2. Phương pháp khai thác bằng Gaslift định kỳ

17

Đây là phương pháp khí nén được đưa vào vùng vành khuyên còn sản phẩm
theo ống khai thác lên mặt đất diễn ra không liên tục mà có định kỳ.
a. Phạm vi ứng dụng:
- Giếng có áp suất đáy thấp nhưng hệ số sản phẩm cao;
- Giếng có hệ số sản phẩm thấp;
- Giếng có áp suất đáy thấp;
- Đối với những giếng có chất chất lỏng thấp và chiều sâu lớn;
- Giếng có lưu lượng khai thác nhỏ.
b. Ưu điểm phương pháp gaslift định kỳ:
- Giá thành khai thác thấp so với các phương pháp khai thác cơ học khác. Khi
giếng sâu và mức chất lỏng thấp.
- Có thể khai thác trong mọi điều kiện.
c. Nhược điểm của phương pháp gaslift định kỳ:
- Lưu lượng khai thác bị giới hạn;
- Không thích hợp với giếng sâu;
- Áp suất dao động mạnh ở vùng đáy giếng khi đóng mở, dẫn đến sự phá huỷ
vùng đáy giếng;
- Khó điều khiển trong hệ thống gaslift khép kín và nhỏ.
1.1.7. Cấu trúc của hệ thống ống khai thác bằng phương pháp gaslift
Nhằm mục đích khai thác dầu bằng khí nén, phụ thuộc vào từng điều kiện
khai thác cụ thể của từng giếng mà người ta thiết kế các cấu trúc ống khác nhau về
cố lượng cột thả vào giếng cũng như các hướng của dòng sản phẩm và dòng khí
nén. Các cấu trúc cột ống được phân loại như sau:
- Theo hướng của dòng khí nén và dòng sản phẩm được phân ra hai chế đọ
khai thác: chế độ vành xuyến và chế độ trung tâm;
- Theo số lượng cột ống thả vào giếng người ta chia ra: cấu trúc một cột ống
và cấu trúc 2 cột ống;
- Theo số lượng cột ống thả vào giếng và hướng đi của khí nén và dòng sản
phẩm ta có 4 cấu trúc hệ thống khai thác gaslift được thể hiện trong hình 1.2.:
1.1.7.1. Cấu trúc hệ vành xuyến
a. Cấu trúc một cột ống: Cột ống thả vào giếng chính là cột ống khai thác,
còn cột ống chống khai thác sẽ là cột ống bơm ép. Khí nén được bơm ép vào vùng
vành xuyến giữa cột ống khai thác và cột ống chống khai thác. Như vậy, mực chất
lỏng khi giếng làm việc sẽ nằm ngay tại đáy ống

18

- Ưu điểm cấu trúc một cột ống theo chế độ vành xuyến:
+ Đơn giản, gọn nhẹ, sử dụng triệt để cấu trúc của giếng;
+ Tăng độ bền của ống khai thác;
+ Dễ nâng cát và vật cứng ở đáy giếng lên mặt đất;
+ Dễ xử lý khi có parafin lắng đọng;
+ Thuận lợi khi trang bị van Galift khởi động.
- Nhược điểm :
+Áp suất khởi động lớn (so với chế độ trung tâm).
+ Áp suấ t đáy giếng giảm đột ngột khi khởi động và ngừng nén khí làm hư
hỏng vùng cận đáy giếng và tạo nút cát lấp ống lọc. Để khắc phục nhược điểm này
người ta lắp van Gaslift khởi động và lắp đặt Paker.
b. Cấu trúc hai cột ống: 2 cột ống khai thác thả lồng vào nhau, khí được ép
vào vùng không gian vành xuyến giữa hai cột ống, còn hỗn hợp sản phẩm khai thác
đi lên theo ống nằm bên trong. Như thế cột ống ngoài được gọi là cột ống bơm ép
(cột ống thứ nhất), cột ống bên trong được gọi là cột ống khai thác (cột ống thứ hai).
- Ưu điểm của cấu trúc hai cột ống:
+ Chế độ khai thác với dao động áp suất làm việc ít (vì thế vùng khoảng
không vành xuyến giữa hai cột ống nhỏ hơn so với cấu trúc một cột ống);
+ Cột ống chất lỏng ở vùng khoảng không vành xuyến giữa cột ống thứ nhất
và cột ống khai thác có tác dụng điều hoà chế độ làm việc của giếng.
- Nhược điểm: kết cấu phức tạp, chi phí tốn kém, mất nhiều thời gian khi kéo
thả cột ống.

a)

b)
c)
Hình 1.2: Các loại cấu trúc giếng Gaslift
Cấu trúc: Chế độ vành xuyến 1 cột ống (Hình 1.2a )
Cấu trúc: Chế độ vành xuyến 2 cột ống (Hình 1.2b)
Cấu trúc: Chế độ trung tâm 1 cột ống (Hình 1.2c )

d)

19

Cấu trúc: Chế độ trung tâm 2 cột ống (Hình 1.2d )

1.1.7.2. Cấu trúc hệ trung tâm
Khí nén được bơm ép vào cột ống khai thác, còn dòng hỗn hợp sản phẩm
khai thác theo vùng vành xuyến đi lên bề mặt đến hệ thống thu gom và xử lý.
- Ưu điểm:
+ Giảm được áp suất khởi động;
+ Đơn giản gọn nhẹ sử dụng triệt để cấu trúc của giếng.
- Nhược điểm:
+ Giảm độ bền của ống chống khai thác;
+ Giảm độ bền của ống khai thác (do vật cứng mài mòn đầu nối giữa các cột
ống khai thác hay ăn mòn kim loại);
+ Giảm đường kính cột ống chống khai thác do parafin hay muối lắng đọng
trên thành ống;
+ Khó xử lý khi parafin lắng đọng;
+ Áp suất đáy giếng giảm đột ngột khi khởi động và ngừng nén khí.
Trên cơ sở các ưu nhược điểm kể trên trong thực tế thường sử dụng chế độ
cột ống vành xuyến một cột ống. Tuỳ theo việc trang bị paker và van ngược trong
hệ thống mà chia ra 3 trạng thái cấu trúc cơ bản sau :
- Hệ thống khai thác dạng mở (hình 1.3a): Không trang bị paker và van một
chiều, áp suất khởi động lớn hơn áp suất khí nén, áp dụng khi khai thác bằng
phương pháp Gasilft liên tục.
- Hệ thống ống khai thác dạng thác đóng (hình 1.3c): Trang bị paker không
trang bị van một chiều, áp dụng khi khai thác bằng Gaslift định kỳ.

a) Dạng mở

b)Dạng đóng

c)Dạng bán đóng