Tải bản đầy đủ
CÔNG TÁC AN TOÀN TRONG PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC BẰNG GASLIFT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

CÔNG TÁC AN TOÀN TRONG PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC BẰNG GASLIFT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Hệ thống điều khiên công nghệ gaslitf cần phải thực hiện chức năng đảm bảo an toàn
khi thiết bị đạt các thông số công nghệ cao hoặc thấp hơn giá trị giới hạn đã được đặt trước.
Việc xử lý khí cao áp cần phải tính đến việc sấy khí khỏi hơi nước trước điểm sương
-10C tránh tạo ra hydrat trong ống.
7.2.2. Những yêu cầu an toàn khi vận hành thiết bị gaslift
Bình tách V-100 là bình làm việc với áp suất cao. Vì vậy vận hành và bảo dưỡng
chúng phải tuân thủ theo “quy phạm lắp đặt và vận hành bình chịu áp lực”
Trước khi tiến hành khám nghiệm bên trong và thử thủy lực bình tách V-100. Các van
SDV-400, SDV-200 được lệnh đóng lại, hệ thống điều khiển chuyển sang chế độ bằng tay
và các van dung để xa condensat vào ngoài cần của giếng gaslift phải được đóng lại. tiến
hành xả áp suất của hệ thống về bằng áp suất khí quyển.
Bình tách cần phải đặt mặt bịt ngăn cách, nhằm tránh khả năng khí xâm nhập vào hệ
thống đường ống nối với bình.
Van an toàn sự cố BDV-100 cần được kiểm tra khả năng làm việc theo lịch, bằng cách
tạo tín hiệu tương tự tín hiệu điều khiển lúc van có sự cố.
Van an toàn PSV-100 được kiểm tra khả năng làm việc theo lịch trên bệ thử.
Khi làm việc trên cao ở các cụm SK-1, SK-2, SK-3, các dụng cụ cần phải có dây buộc hoặc
túi đựng để tránh khỏi bị rơi.
Sau khi khám nghiệm định kỳ, sửa chữa bình được đưa vào vận hành chỉ khi có giấy
phép của thanh tra về tình trạng kỹ thuật và vận hành các bình chịu áp lực.
để xả condensat từ bình tách vào ngoài cần của giếng thì áp suất ngoài cần của giếng phải
nhỏ hơn áp suất của bình V-100.
Nhằm ngăn chặn sự va đập thủy lực khi xả, sự chênh áp giữa bình V-100 và giếng
nhận condensat không vược quá 50 atm.
Van SDV-200 phải mở bằng tay, không dung hệ thống đóng mở tự động khi chênh áp
trước và sau van lớn hơn 30 atm.
Việc xả khí của hệ thống công nghệ gaslift được tiến hành qua blốc công nghệ đã có
trên giàn.
Nghiêm cấm điều tiết lưu lượng bằng các van cầu cũng như van đầu giếng khi giếng
làm việc bằng tay theo đường phụ (by-pass).
Khi thay tấm lỗ đo lưu lượng ơ SK-2 trên đường về giếng cần phải xả áp suất xuống
bằng áp suất khí quyển, nghiêm cấm việc kéo tấm lỗ mà không nới lỏng họp đựng nó, dung
tay lắc để kéo tấm lỗ.
Khi vận hành và bảo dưỡng để chứa hóa phẩm SK-3, hệ thống đường ống và máy
bơm hóa phẩm SK-4, phải tuân thủ quy chế an toàn lao động khi tiếp nhận, vận chuyển, sử
dụng và bảo quản hóa phẩm.
112

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Nghiêm cấm khắc phục rò rỉ trên đường ống có áp suất máy bơm đến hệ thống phân
phối khi (URG).
Trước khi cho khí vào URG cần phải:
+ kiểm tra tình trạng kỹ thuật của thiết bị URG, các thiết bị đo lường tự động hóa, thiết bị
đầu giếng, các đường ống công nghệ và bình tách.
+kiểm tra tình trạng các van trên đường ống đưa vào sử dụng.
+ kiểm tra tình trạng đóng của các van trên đường xả condensat từ bình tách đến giếng.
Trước khi đưa giếng vào làm việc cần phải kiểm tra tình trạng hoàn hảo của thiết bị,
dụng cụ đo lường trên đường sắp đưa khí đến giếng, tin chắc các van chặn, vn cầu, đồng hồ
đo áp suất, các điểm nối ống hoàn hảo không có sự rò rỉ.
Trong trường hợp rò rỉ cần dừng ngay việc cấp khí để tiến hành khắc phục.
Trong thời gian đưa khí vào giếng, áp suất trong đường ống, cấm không cho người
không có nhiệm vụ vào trong khu vực nguy hiểm.
Khi dừng giếng khai thác gaslift, cần thiết chuyển hệ thống tự động của giếng đó về
hệ thống bằng tay. Đóng van cầu trên đường ra của URG sau đó đóng van nhánh đường ra
trên đầu giếng.
Kế hoạch kiểm tra an toàn bộ hệ thống gaslift theoảo dưỡng do chánh kỹ sư XNKT
duyệt và tuân thủ các biển pháp an toàn chung.
7.2.3 Những yêu cầu an toàn khi sảy ra sự cố
Khi sảy ra tình huống sự cố (vỡ, hở đường ống dầu khí, condensat , thiêt bị, xảy ra đám
cháy…) cần thiết nhanh chóng dừng cấp khí đến khu vực xảy ra sự cố và tiếp theo tiến hành
công việc theo “lịch khắc phục khả năng xả ra sự cố “ của giàn.
7.3 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC
DẦU KHÍ
7.3.1 Một số khái niệm cơ bản về môi trường và công tác bảo vệ môi trường tại XNLD
Vietsopetro
b. Môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tự nhiên và các yếu tố vật chất quan hệ mật thiết với
nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự phát triển của con
người và tự nhiên.
Môi trường gồm hai tổ hợp: môi trường tự nhiên gôm có các thành phần không khí,
nước, đất, thế giới sinh vật và môi trường do con người tạo nên như đô thị, công trình xây
dựng,công nghiệp, thủy lợi…
b. Bảo vệ môi trường

113

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Bảo vệ môi trường là một trong những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
sẽ, cải thiên môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn củng như khắc phục hậu
quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên để cho sự sống trên trái đất tồi tại và phát triển bền vững.
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức cá nhân phải có trách nhiệm
bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
c. Tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dung
làm căn cứ để quản lý môi trường.
d. Ô nhiểm môi trường
Ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi các thành phần trong môi trường,
tạo nên sự mất cân bằng trạng thái môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh vật và
môi trường tự nhiên.
e. Chất gây ô nhiễm môi trường
Chất gây ô nhiễm môi trường là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có
trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn và gây tác hại cho môi trường tự nhiên,
cho con người củng như các sinh vật khác. Chất gây ô nhiễm có thể do các hiện tượng tự
nhiên sinh ra như: núi lửa, cháy rừng, bão lụt… hay do những hoạt động của con người gây
ra như: các hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt…
f. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường
Để ngăn ngừa và giải quyết các hậu quả của ô nhiễm cần phải thực hiện việc kiểm soát
ô nhiễm. kiểm soát ô nhiễm bao gồm tất cả các biện pháp hành chính, pháp luật và kỹ thuật
(quan trắc, xử lý chất thải, công nghiệp sạch) nhằm giảm nồng độ và lưu lượng tác nhân gây
ô nhiễm tới mức cho phép.
g. Công tác bảo vệ môi trường của XNLD Vietsovpetro
Để thực hiện tốt các công tác bảo vệ môi trường XNLD Vietsovpetro đã tiến hành:
Thành lập phòng bảo vệ môi trường vào năm 1981goomf nhóm thanh tra và nhóm
ứng cứu sự cố tràn dầu với nhiệm vụ và chức năng là quản lý, giám sát công tác bảo vệ môi
trường, thực hiện nhiệm vụ ứng cứu sự cố tràn dầu.
Soạn thảo và đưa vào sử dụng các van bản để thực hiện nhiệm vụ quản lý môi trường.
Đào tạo chuyên gia bảo vệ môi trường và tổ chức truyền thông, giáo dục, hướng dẫn
cho CBCNV về bảo vệ môi trường và các kỹ năng ngăn ngừa ô nhiễm
Trang bị các thiết bị ngăn ngừa ô nhiễm môi trường cho các công trình biển và tàu của
XNLD như: thiết bị tác dầu nước, lo đốt, máy ngiềm thức ăn thừa, két chứa dầu thải, bể
chứa nước thải…
114

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Đánh giá tác động môi trường và theo dõi, giám sát sự biến đổi của môi trường tại các
công trình của XNLD theo đúng yêu cầu cuả luật pháp về bảo vệ môi trường.
Quản lý chất thai: chất thai được thu gom, phân loại ngay tại các công trình. Chất thải
nào không thể xử lý được tại các công trình thì được vận chuyển về bờ để xử lý theo quy
định của luật pháp
7.3.2 Chất thải sản xuất trong các hoạt động dầu khí biển và biện pháp khắc phục
Chất thải sản xuất: chất thải sản xuất là các loại chất thải rắn, lỏng hoặc khí sinh ra
trong quá trình sản xuất của các công trình biển như dung dịch khoan, mùn khoan, nước
thải ( nước vỉa, nước bơm ép, các loại dung dịch dung khi bắn vỉa, gọi dòng, xử lý giếng…)
nước lẫn dầu, khí nén thải và khí thiên nhiên.
Biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm:
Thu gom, phân loại chất thải sản xuất ngay thị công trình dầu khí và bảo quản trong
công-te-nơ chuyên dụng: Chất thải nguy hại được thu gom vào công- te –nơ màu da cam có
sọc đen với dòng chữ “chất thải nguy hại”, chất thải không nguy; hại bỏ vào các công- te-nơ
sơn màu da cam.
Thu gom cặn dầu, dầu thải và các dung dịch khoan thải nền dầu, các chất rắn chứa
dầu , các chất lỏng và rắn độc hại khác vào công- te –nơ chuyên dụng vận chuyển vào đất
liền để xử lý theo quy định.
Chỉ được phép thải xuống biển các loại nước thải, mùn khoan có hàm lượng dầu theo
quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể với hàm lượng dầu như sau:
+ Nước thải khai thác ở vùng cách bờ 12 hay lý: giới hạn là 40 mg/l còn các loại nước thải
khác là 15 mg/l.
+ Mùn khoan thải ở vùng cách bờ ngoài 3 hải lý: Giới hạn là 40 mg/l còn các loại nước thải
khác là 15 mg/l.
+ Mùn khoan thải ở vùng cách bờ ngoài 3 hải lý: Giới hạn là 10g/kg mùn khoan khô.
Khí đồng hành khi không có khả năng thu gom để sử dụng thì phải đốt cháy hoàn toàn
tại vòi đốt. vòi đốt phải thiết kế đúng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật Việt Nam.
7.3.3 Chất thải sinh hoạt trong các hoạt động dầu khí biển và biện pháp ngăn ngừa ô
nhiễm.
Chất thải sinh hoạt: chất thải sinh hoạt bao gồm các chất thải lỏng, rắn và các loại
chất thải khác được loại ra trong quá trình sinh hoạt của con người trên công trình dầu khí
biển.
Biện pháp ngăn ngừa ô nghiễm:

115

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Thu gom, phân loại chất thải ngay tại khu nhà bếp và khu nhà ở của các công trình.
Các lại rác thải khó phân hủy như vỏ đồ hộp , chay lọ, túi nhựa… được thu gom vào côngte- nơ riêng biệt, vận chuyển vào bờ để xử lý theo quy định.
Các chất rắn như gỗ, giấy nếu có thể đốt và tro được phép thải xuống biển, nếu không
độc hại và không nhiễm dầu.
Các lại đồ ăn thừa được thu gom vào các thùng riêng biệt và được phép thải thẳng
xuống biển sau khi được nghiền thành hạt có đường kính nhỏ hơn 25 mm.
Các loại nước thải sinh hoạt được thu gom vào các bể, sau đó được xử lý bằng thiết bị
làm sách sinh học theo nguyên lý-hóa trước khi thải xuống biển.
7.3.4 Chất thải nguy hại hiện có tại XNLD và phương pháp xử lý
Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc
tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, làm ăn mòn và các đặc tính nguy
hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe của con
người.
Một số loại chất thải nguy hại hiện có tại XNLD: Ắc quy thải, thiết bị hay chi tiết điện
và điện tử, amiăng, cặn dầu, dầu thải, dung dịch khoan gốc dầu, nước thải va mùn khoan có
hàm lượng dầu quá mức cho phép, các loại bao bì và thùng chứa các loại chất nguy hiểm…
Phương pháp xử lý chất thải nguy hiểm: Tận thu ( kim loại, chay lọ, gỗ, nhiên liệu,
dung môi…) xử lý bằng phương pháp vật lý hoặc hóa học, đốt bang lò hay chôn lấp.
7.3.5 Các nguyên nhân sự cố tràn dầu, các phương pháp xử lý và nhiệm vụ của bản
thân
a. Các nguyên nhân xảy ra sự cố tràn dầu
Do vỡ đường ống dẫn dầu khí vận chuyển dầu từ tàu chứa dầu đến tàu nhận dầu, do
van chạm giữa các phương tiện nỗi với nhau cũng như với giàn khoan, vỡ các bình tách hay
chứa dầu, do sự cố vỡ đường ống công nghệ khai thác dầu hay nội mổ, phun trào dầu- khí ở
thiết bị dầu giếng khoan, khai thác, vòi đốt…
b. Các phương pháp xử lý sự cố tràn dầu
Phương pháp cơ học: Dùng phao quây gom dầu lại và sau đó dùng thiết bị chuyên
dụng ở bất ký sự cố tràn dầu nào ở biển, với phương châm càng nhanh càng gần nguồn tràn
dầu để xử lý càng nhanh tránh không cho dầu lan rộng.
Phương pháp dùng chất phân tán dầu: Dùng thiết bị phun hóa chất ( seacare-OSD,
superdicpersant-25) lên bề mặt của dầu tràn, chất này sẽ làm cho tan rã và phân tán lớp dầu.
Nhưng phương pháp này chỉ áp dụng ở những vùng cách bờ 2 km và có độ sâu của cột
nước trên 20 mét. Đây là phương pháp được áp dụng như là một phương pháp thay thế hoặc
hỗ trợ cho các phương pháp khác.
116

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Phương pháp dùng chế phẩm vi sinh: Dùng chế phẩm vi sinh ( enretech-1, premium
Floor Sweep) rải lên bề mặt lớp dầu tràn, chất này sẽ hút dầu và vi sinh sẽ phân hủy dầu.
Phương pháp dùng vật liệu thấm hút: Dùng giẻ lau, mùn cưa và các vật liệu khác.
c. Nhiệm vụ
Mọi cán bộ công nhân viên XNLD khi phát hiện thấy sự cố hoặc khả năng dẫn đến sự
cố tràn dầu hoặc rò rỉ dầu ở bất cứ mức độ nào phải nhanh chóng thông báo với người có
trách nhiệm phải trực tiếp chuyển thông tin đó đến lãnh đạo để đánh giá các tác động, tiến
hành các biện pháp giảm thiểu và tiếp tục thông báo đến các cấp cao hơn theo quy định.
Tham gia vào việc ứng cứu cự cố tràn dầu theo kế hoạch hoặc theo sự phân công của
lãnh đạo.

KẾT LUẬN

117

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Sau một thời gian nghiên cứu tài liệu tôi đã hoàn thành bản đồ án với đề tài: “Thiết
kế khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift cho giếng 901 mỏ Bạch Hổ”
Trong thời gian làm đồ án, qua các tài liệu về địa chất vùng mỏ Bạch Hổ cho thấy trong
điều kiện áp suất, nhiệt độ cùng với bản chất phức tạp của đất đá vùng mỏ thì với sự lựa
chọn và áp dụng phương pháp khai thác cơ học đóng một vai trò quan trọng, quyết định chủ
yếu đến khả năng khai thác trữ lượng dầu khí. Trên cơ sơ phân tích đó tôi đã đưa ra phương
án thiết kế khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift và rút ra rằng:
Khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift đã chứng minh tính ưu việt về mặt công
nghiệp, tính hiệu quả về mặt kinh tế và có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp khai
thác cơ học khác.
Hiện tại các công ty sản xuất thiết bị và khai thác dầu trên thế giới cũng như bản thân
phòng khai thác dầu khí của Viện NCKH & TK thuộc XNLD đều có sẵn chương trình lập
trình máy tính xác định tất cả các thông số cần thiết khi tiến hành thiết kế khai thác gaslift.
Đồ án này nhằm mục đích minh họa phương pháp và các bước tính toán trong quá trình
thiết kế, có sử dụng phương pháp biểu đồ Camco để xác định chiều sâu đặt van.
Trong quá trình khai thác gaslift, khi áp suất vỉa không đủ sức thắng được tổn hao
năng lượng nâng sản phẩm thì cần chuyển sang chế độ khai thác gaslift định kì.
Hiện nay trên mỏ Bạch Hổ đã có 2 giàn nén khí và hệ thống đường ống dẫn khí cao
áp đến các giàn cố định ( MSP ) và giàn nhẹ ( BK ) phục vụ cho khai thác dầu bằng Gaslift
Với những hiểu biết của bản thân cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo
trong Bộ môn Khoan-Khai thác dầu khí, đặc biệt là PGS.TS Lê Xuân Lân.
Đồ án của tôi đã được hoàn thành, tuy nhiên bản đồ án còn nhiều sai sót, rất mong được có
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để đồ án được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

118

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[ 1 ]. Báo cáo tham gia hội nghị khoa học tại hội nghị khoa học lần thứ 12,Trường Đại

Học Mỏ Địa Chất.
[ 2 ]. Công nghệ khai thác dầu khí của PGS -TS CAO NGỌC LÂM.
[ 3 ] .Công nghệ kỹ thuật khai thác dầu khí – Nhà xuất bản giáo dục (Phùng Đình Thực,
Dương Danh Lam, Lê Bá Tuấn, Nguyễn Văn Cảnh - 1999 ).
[ 4 ].Hoàn thiện công nghệ khai thác tập I +II của viện nghiên cứu NIPPI.
[ 5 ].Tạp chí dầu khí ( 1/1990 ).

119

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

PHỤ LỤC HỆ THỐNG ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
1.Hệ quốc tế SI:
Độ dài: m
Khối lượng: kg
Thời gian: s
Lực: N
Áp suất: N/m2 = Pa
Độ nhớt: µ

1kG = 9,90665N
1kG/m2 = 0,981bar
KPa = 1000Pa
1P= = 10-6 bar.s.
1CP = 10-8 bar.s

2. Qui đổi hệ Anh sang hệ SI:
1 inch
= 2,54 cm
1m
= 3,281 ft
1 mile
= 1,609 km
1 bbl
= 0,1589 m3
1m3/m3
= 5,62 ft3/bbl
1 psi
= 0,07031 kG/cm2
1 at
=14,7 psi
1 at
= 1,033 kG/ cm2
1 psig
= 1,176 psi
0

API
0
K
0
R
0

C
5

141.5
− 131.5
2
γ
(
G
/
cm
)
=
= 273 + ºC
= 460 + ºF
o

=

F − 32
9

120