Tải bản đầy đủ
3 . Phương pháp khai thác dầu bằng bơm ly tâm điện chìm

3 . Phương pháp khai thác dầu bằng bơm ly tâm điện chìm

Tải bản đầy đủ

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

2.3.2. Ưu điểm :
- Có thể khai thác với lưu lượng lớn.
- Có thể áp dụng cho các giếng khai thác đơn lẻ trong điều kiện chi phí

hạn chế.

- Chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn phương pháp Gaslift.
- Thuận lợi trong khai thác các giếng có độ ngậm nước cao (lớn hơn 80%) và yếu tố khí
thấp, nhất là trong giai đoạn khai thác thứ cấp.
- Không gian dành cho thiết bị ít hơn so với các phương pháp khác, phù hợp khai thác ngoài
khơi.
- Nguồn năng lượng điện cung cấp cho các máy bơm là nguồn điện cao thế hoặc được tạo ra
nhờ động cơ điện.
- Áp dụng trong giai đoạn cuối của quá trình khai thác áp suất vỉa rất thấp để hút cạn dòng
dầu (do tạo được chênh áp lớn).
- Là phương pháp khai thác an toàn, việc theo dõi và điều khiển dễ dàng.
- Cho phép đưa giếng vào khai thác sau khi khoan xong.
2.3.3.Nhược điểm :
- Hàm lượng tạp chất ảnh hưởng lớn đến hoạt động của máy bơm.
- Kém hiệu quả trong những giếng có yếu tố khí cao hệ số sản phẩm thấp, nhiệt độ vỉa cao,
hàm lượng vật cứng và hàm lượng Parafin cao.
- Khó khăn trong việc lắp đặt các thiết bị an toàn sâu.
- Đòi hỏi phải có thiết bị kiểm tra và điều khiển cho từng giếng...
- Lưu lượng giảm nhanh theo chiều sâu lắp đặt, thường khai thác ở độ sau nhỏ hơn 4000m.
- Khó tiến hành khảo sát nghiên cứu giếng, đo địa vật lý ở các vùng nằm dưới máy bơm và
khó xử lý vùng cận đáy giếng.
- Khó điều chỉnh được lưu lượng khai thác.

20

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
2.3.4

SV: Phạm Văn Độ

Phạm vi ứng dụng :

Phương pháp này tương đối phổ biến vì cấu trúc thiết bị và hệ thống khai thác đơn
giản, máy làm việc dễ dàng có khả năng thu được lượng dầu tương đối lớn đến hàng trăm
tấn/ngđ. Loại máy bơm này rất thuận lợi khi khai thác dầu ở những vỉa có tỷ số dầu thấp,
nhiệt độ vỉa dưới 2500F. Đặc biệt hiệu quả trong những giếng khai thác dầu có độ ngậm
nước cao và giếng dầu chưa bão hoà nước.
Ngày nay với sự phát triển của kỹ thuật hệ thống bơm điện chìm được sử dụng trong
những giếng có nhiệt độ lên tới 350 0F, khắc phục những giếng có tỷ lệ khí dầu cao, bằng
cách lắp đặt thiết bị tách khí đặc biệt. Các chất ăn mòn gây hư hỏng như H 2O, CO2 có thể
khắc phục nhờ các vật liệu đặc biệt phủ bên ngoài. Phương pháp này hiện đang được áp
dụng tại một số giếng ở mỏ Bạch Hổ và Mỏ Rồng.
2.4. Khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift
2.4.1. Bản chất của phương pháp
Khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift dựa trên nguyên tắc bơm khí nén cao áp vào
vùng không gian vành xuyến giữa ống khai thác và ống chống khai thác, nhằm đưa khí cao
áp đi vào trong ống khai thác qua van Gaslift với mục đích làm giảm tỷ trọng của sản phẩm
khai thác trong cột ống nâng, dẫn đến giảm áp suất đáy và tạo nên độ chênh áp cần thiết để
sản phẩm chuyển động từ vỉa vào giếng. Đồng thời do sự thay đổi nhiệt độ và áp suất trong
ống khai thác làm cho khí giãn nở góp phần đẩy dầu đi lên, nhờ đó mà dòng sản phẩm được
nâng lên mặt đất và vận chuyển đến hệ thống thu gom và xử lý.
2.4.2 Ưu điểm :
- Có thể đưa ngay giếng vào khai thác khi giai đoạn tự phun kém hiệu quả.
- Cấu trúc cột của ống nâng đơn giản không có chi tiết chóng hỏng.
- Phương pháp này có thể áp dụng với giếng có độ sâu, độ nghiêng lớn.
- Khai thác với giếng có yếu tố khí lớn và áp suất bão hòa cao.
- Khai thác lưu lượng lớn và điều chỉnh lưu lượng khai thác dễ dàng.
- Có thể khai thác ở những giếng có nhiệt độ cao và hàm lượng Parafin lớn, giếng có
cát và có tính ăn mòn cao.

21

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

- Khảo sát và xử lý giếng thuận lợi, không cần kéo cột ống nâng lên và có thể đưa
dụng cụ qua nó để khảo sát.
- Sử dụng triệt để khí đồng hành.
- Ít gây ô nhiễm môi trường.
- Có thể khai thác đồng thời các vỉa trong cùng một giếng.
- Giới hạn đường kính ống chống khai thác không ảnh hưởng đến sản lượng khai
thác khi dùng khai thác Gaslift.
- Có thể sử dụng kỹ thuật tời trong dịch vụ sửa chữa thiết bị lòng giếng. Điều này không
những tiết kiệm thời gian mà còn làm giảm chi phí sửa chữa.
2.4.3 Nhược điểm :
- Đầu tư cơ bản ban đầu rất cao so với các phương pháp khác.
- Năng lượng sử dụng để khai thác một tấn sản phẩm cao hơn so với các phương pháp
khác.
- Không tạo được chênh áp lớn nhất để hút dầu ở trong vỉa ở giai đoạn cuối của quá
trình khai thác.
- Nguồn cung cấp năng lượng khí phải lớn đủ cho toàn bộ đời mỏ.
- Chi phí vận hành và bảo dưỡng trạm khí nén cao, đòi hỏi đội ngũ công nhân vận
hành và công nhân cơ khí lành nghề.
2.4.4 Phạm vi ứng dụng :
Hiện nay giải pháp khai thác dầu bằng phương pháp Gaslift đang được áp dụng rộng
rãi trên cả đất liền và cả ngoài biển, đặc biệt đối với vùng xa dân cư và khó đi lại. Giải pháp
này thích hợp với những giếng có tỷ số khí dầu cao, có thể khai thác ở những giếng có độ
nghiêng lớn và độ sâu trung bình của vỉa sản phẩm trên 3000m. Phương pháp này hiện đang
được áp dụng rộng rãi trên mỏ Bạch Hổ.
2.4.5

Đặc điểm cụ thể của phương pháp gaslift.
- Phương pháp áp dụng khi giếng không thực hiện được quá trình tự phun .

22

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

- Bản chất của phương pháp như sau: (xem hình vẽ) Bơm khí nén vào ống bơm ép làm
cho chất lỏng trong ống khai thác di chuyển xuống đế ống nâng. Khi mực chất lỏng đến đế ống
nâng, áp suất nén khí đạt giá trị cựa đại, áp suất tại thời điểm này gọi là áp suất khởi động (P kd).
Khí nén tiếp tục đi vào ống nâng hoà trộn với chất lỏng, làm cho tỷ trọng cột chất lỏng giảm
trong ống nâng giảm, dẫn đến Pđ giảm , chênh áp ∆ p tăng, chất lỏng đi từ vỉa vào đáy giếng
và đi lên miệng giếng

Hình 2.2. Sơ đồ khai thác dầu bằng gaslift
- Hiệu quả của phương pháp Gaslift phụ thuộc vào:
+ Độ sâu dẫn khí ( Chiều sâu nhúng chìm ống nâng).
+ Lưu lượng khí (Qhd).
+ Áp suất trên nhánh xả.
+ Hệ số sản phẩm ( Độ cho dầu của vỉa).
+ Lượng khí tách ra khỏi dầu (Ghd ).
+ Tính chất dầu ( µ , ρ …)
+ Cấu trúc ống khai thác.
23

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

* Ưu điểm của phương pháp Gaslift:
+ Cấu trúc ống nâng đơn giản, không có chi tiết dễ hư hỏng.
+ Sử dụng ở giếng có độ sâu và nghiêng lớn.
+ Khai thác được lưu lượng lớn, dễ điều chỉnh Qkt.
+ Khai thác giếng có yếu tố khí Giếng lớn và Pbh cao.
+ Khai thác giếng có t0 cao, hàm lượng parafin lớn, có cát
+ Tính ăn mòn mạnh.
+ Khảo sát và xử lý giếng thuận lợi (Không cần nâng cột ống khai thác).
+ Sử dụng triệt để khí đồng hành.
+ Ít gây ô nhiễm môi trường.
+ Có thể khai thác đồng thời từng vỉa trong cùng một giếng
* Nhược điểm :
+ Đầu tư ban đầu lớn.
+ Năng lượng chi phí cho 1 tấn sản phẩm lớn.
+ Hệ số hiệu dụng của cột ống nâng và cả hệ thống thấp.
Tùy thuộc vào phương pháp bơm ép khí nén và lưu lượng khai thác mà chia ra làm
2 phương pháp khai thác Gaslift.
2.4.5.1 Phương pháp khai thác gaslift liên tục:
Phương pháp Gaslift liên tục là phương pháp khí nén đưa vào khoảng không vành
xuyến giữa ống chống khai thác và cột ống nâng, còn sản phẩm theo ống nâng lên mặt đất
liên tục.
* Phạm vi ứng dụng: khai thác Gaslift liên tục được áp dụng tốt nhất đối với các giếng:
+ Có lưu lượng khai thác lớn.
+ Sản phẩm cát hay bị ngập nước.
+ Sản phẩm có độ nhớt cao, dòng chảy có nhiệt độ lớn.
24

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

+ Có tỷ suất khí cao mặc dù sản lượng giếng có thể nhỏ.
* Ưu điểm:
+ Năng lượng của khí nén và khí đồng hành được tận dụng tại miệng giếng để vận
chuyển sản phẩm đi tiếp đến hệ thống thu gom và xử lý.
+ Lưu lượng khai thác tương đối ổn định, hạn chế được nhiều phức tạp trong hệ
thống Gaslift.
+ Điều chỉnh lưu lượng khí nén thuận lợi bằng côn điều khiển.
+ Có thể điều chỉnh lưu lượng khai thác bằng việc điều chỉnh lưu lượng khí nén.
* Nhược điểm: Không hiệu quả đối với giếng có mực nước động thấp (mặc dù lưu
lượng khai thác lớn).
2.4.5.2 Phương pháp khai thác Gaslift định kỳ:
Khai thác Gaslift định kỳ được tiến hành bằng cách ép khí vào khoảng không vành
xuyến và hỗn hợp sản phẩm khai thác theo ống khai thác lên mặt đất diễn ra không liên tục
mà có định kỳ được tính toán dựa theo các thông số địa chất kỹ thuật của đối tượng khai
thác.
* Phạm vi áp dụng:
+ Có áp suất đáy thấp nhưng hệ số sản phẩm cao.
+ Có hệ số sản phẩm thấp.
+ Giếng sâu và mực chất lỏng thấp.
+ Có lưu lượng khai thác nhỏ.
* Ưu điểm:
+ Kinh tế và linh hoạt (giá thành khai thác và thiết bị cho các giếng sâu với mực
chất lỏng thấp, thấp hơn so với các phương pháp cơ học khác).
* Nhược điểm:
+ Lưu lượng cực đại bị giới hạn.
+ Không thích hợp với các giếng sâu, ống nâng nhỏ đặc biệt là ống dạng mì ống do
khả năng tải của giới hạn ống bị.
25

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

+ Áp suất dao động mạnh vùng cận đáy giếng có thể dẫn đến sự phá huỷ đáy giếng.
+ Khó điều khiển trong hệ thống Gaslift khép kín và nhỏ .
Ngoài ra còn có phương pháp khai thác Gaslift không cần máy nén khí.
2.5. Cơ sở để áp dụng phương pháp gaslift ở mỏ Bạch Hổ
Điều kiện khai thác dầu ngoài biển phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với đất liền.
Do vậy thời gian khai thác và phát triển mỏ thường kéo dài trong khoảng 20 ÷ 30 năm vì
vậy bên cạnh việc đưa nhanh tốc độ khoan và đưa giếng mới vào khai thác, chúng ta cần áp
dụng các phương pháp khai thác khác nhau, nhằm gia tăng sản lượng khai thác và tận dụng
cơ chế năng lượng của vỉa sản phẩm.
Với điều kiện hiện tại ở mỏ Bạch Hổ ngoài đối tượng móng đang khai thác theo chế độ
tự phun cho sản lượng cao và áp suất giảm không đáng kể, thì hầu hết các giếng khai thác ở
tầng Mioxen và Oligoxen ở thời kỳ cuối của quá trình tự phun hoặc ngừng phun và bị ngập
nước. Do đó việc đưa các giếng này vào khai thác thứ cấp là rất cần thiết.
Qua phân tích các ưu, nhược điểm của từng phương pháp khai thác cơ học ở phần trên,
ta nhận thấy rằng một số hạn chế của phương pháp này có thể khắc phục bằng cách sử dụng
phương pháp khác. Nhưng điều này không toàn diện vì bản thân ưu và nhược điểm của các
phương pháp trên không thể bù trừ nhau. Để có cơ sở lựa chọn phương pháp khả thi và hiệu
quả nhất đối với điều kiện mỏ Bạch Hổ cần phải xét đến các yếu tố sau:
+Tính chất lưu thể của vỉa (dầu, khí, nước).
+Tính chất colectơ của đá chứa.Điều kiện địa chất của mỏ tiến hành khai thác.
+Tình trạng kỹ thuật áp dụng trên mỏ, công nghệ và thiết bị hiện có.
+Điều kiện thời tiết, khí hậu và kinh tế xã hội.
+Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật thông qua các thí nghiệm trên mỏ.
Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp khai thác dầu bằng cơ học trên
thế giới, liên hệ với điều kiện thực tế tại mỏ Bạch Hổ, tác giả thấy rằng: Với các giếng khai
thác tập trung trên giàn cố định hay giàn vệ tinh với diện tích sử dụng hạn chế, độ sâu vỉa
sản phẩm tương đối lớn từ (3000 ÷ 5000m), sản lượng khai thác lại lớn, nên giải pháp khai
thác bằng máy bơm piston cần là không khả thi đối với mỏ Bạch Hổ.
Năm 1989, viện nghiên cứu khoa học và thiết kế dầu khí biển của xí nghiệp liên doanh
Vietsovpetro đã tiến hành thử nghiệm với bộ máy bơm piston thuỷ lực và máy bơm ly tâm
điện chìm trên một số giàn cố định (MSP). Kết quả thử nghiệm cho thấy khả năng sử dụng
piston thuỷ lực khi khai thác các giếng có lưu lượng 30 ÷ 50m 3/ngđ và sản phẩm khai thác
có độ ngậm nước cao là không hiệu quả. Các lần thử nghiệm máy bơm thuỷ lực đã chỉ ra

26

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

hàng loạt nhược điểm về đặc tính kỹ thuật của máy bơm, do vậy máy bơm không bền và
chóng hỏng.
Từ năm 1991 tại mỏ Bạch Hổ đã tiến hành thử nghiệm khai thác bằng máy bơm ly tâm
điện chìm với mục đích xác định phạm vi sử dụng của máy bơm đối với mỏ dầu có yếu tố
khí cao và nhiệt độ vỉa cao. Kết quả thí nghiệm như sau:
+50% hỏng hóc của máy bơm ly tâm điện ngầm xảy ra ở phần điện trong đó 30% hỏng là
do đường dây điện bị xây xước trong khi thả máy xuống giếng nghiêng và sâu.
+83% máy bơm ly tâm điện ngầm làm việc trong điều kiện có hệ số hiệu dụng tối ưu.
+Chu kỳ giữa hai lần sửa chửa giếng khai thác bằng máy bơm ly tâm điện chìm tại mỏ Bạch
Hổ thay đổi trong phạm vi tương đối lớn, trung bình từ 6 ÷ 8 tháng.
Kết quả thí nghiệm cho thấy nhiệt độ làm việc của động cơ trong thời gian làm việc luôn
gần giá trị tới hạn của động cơ, nhất là khi khai thác ở tầng móng có nhiệt độ cao. Trong
điều kiện làm việc như vậy, tuổi thọ và khả năng làm việc của máy bơm giảm. mặt khác ở
mỏ Bạch Hổ có nhiều giếng khoan nghiêng, khoan ngang có độ nghiêng lớn, điều đó dẫn
tới khó khăn trong việc thả máy bơm. Hệ thống bảo vệ dây cáp bị xây xát trong quá trình
thả hoặc máy bơm có thể bị kẹt không quay được do độ nghiêng của giếng lớn.
Bên cạnh đó, phần lớn giếng ở mỏ Bạch Hổ có đường kính ống chống khai thác là
168mm. Với đường kính đó nếu lưu lượng khai thác nhỏ hơn 200m 3/ngđ thì có thể sử dụng
máy bơm ly tâm điện ngầm, đối với các giếng có độ sâu 3500m và không thể sử dụng máy
bơm ly tâm điện ngầm để khai thác với sản lượng lớn hơn 300T/ngđ. Vì đường kính ống
chống khai thác nhỏ (168mm).
Nếu dùng máy bơm ly tâm điện ngầm cho toàn bộ mỏ, đặc biệt với các giếng khai
thác trên giàn vệ tinh thì vấn đề kéo thả máy bơm trong quá trình sửa chữa trở thành nan
giải vì cần đến tàu khoan và điều kiện thời tiết cho phép. giải pháp sử dụng máy bơm ly
tâm điện ngầm để khai thác chì có tính khả thi khi khai thác cục bộ ở từng giếng và cho mỏ
Rồng.
Từ những vấn đề thực tế nêu trên, việc sử dụng bơm ly tâm điện chìm gặp không ít
khó khăn do yếu tố khí lớn, độ sâu lớn, độ nghiêng và kích thước của giếng cũng như cấu
trúc giàn BK.
Ngày nay với lưu lượng khí đồng hành cao và áp suất lớn cho phép mỏ Bạch Hổ áp
dụng phương pháp khai thác bằng gaslift trên toàn bộ mỏ. Nó đã chứng tỏ ưu điểm hơn so
với các phương pháp khai thác cơ học khác, không những về mặt kỹ thuật, công nghệ mà
còn về mặt kinh tế. Với các trang thiết bị hiện đại rất phù hợp, phương pháp khai thác này
đã hứa hẹn mang lại hiệu quả cao hơn các phương pháp khai thác cơ học khác. Do vậy việc
áp dụng phương pháp khai thác dầu bằng gaslift là hiệu quả và thích hợp đối với giếng mà
tác giả sẽ thiết kế.
27

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

Bảng 2.1: So sánh điều kiện làm việc của các phương pháp khai thác cơ học
Phương pháp khai thác
Bằng điện
Loại ly tâm
Loại xoắn

Bằng khí
Gaslift

Ngoài khơi

Khá

Khá

Khá

Thành phố đông dân

Khá

Khá

Khá

Sa mạc

Trung bình

Khá

Khá

Giếng riêng lẻ

Khá

Khá

Khá

Nhóm giếng

Khá

Khá

Tốt

Độ sâu giếng lớn

Khá

Khá

Tốt

Áp suất vỉa thấp

Khá

Khá

Trung bình

Nhiệt độ cao

Xấu

Xấu

Tốt

Sản phẩm có độ nhớt cao

Xấu

Tốt

Trung bình

Sản phẩm có độ ăn mòn cao

Xấu

Trung bình

Khá

Xuất hiện lắng đọng muối

Trung bình

Trung bình

Xấu

Xuất hiện nhũ tương

Trung bình

Khá

Trung bình

Yếu tố khí cao

Xấu

Trung bình

Khá

Thay đổi sản lượng linh hoạt và
chuyển sang khai thác định kỳ

Xấu

Trung bình

Tốt

Tiến hành khảo sát giếng

Khá

Xấu

Tốt

Các giếng khoan nghiêng

Trung bình

Trung bình

Tốt

Sửa giếng bằng tời

Xấu

Xấu

Tốt

Sản phẩm chứa nhiều cát

Xấu

Trung bình

Khá

CHƯƠNG III
CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHAI THÁC DẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP GASLIFT

28

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

3.1. Nguyên lý làm việc của giếng dầu và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác
bằng phương pháp gaslift
3.1.1. Nguyên lý
Phương pháp khai thác gaslift là một phương pháp khai thác cơ học được áp dụng
khi không thể thực hiện được khai thác tự phun.
Phần lớn các giếng sau thời kỳ khai thác bằng phương pháp tự phun, năng lượng vỉa
sẽ giảm không còn đủ để vận chuyển sản phẩm từ vỉa theo thân giếng đi lên mặt đất. Để
tiếp tục khai thác người ta nén khí xuống vào trong cần hoặc vào ngoài cần khai thác với
mục đích làm nhẹ dầu để tiếp tục khai thác tương tự như phương pháp khai thác tự phun
nhân tạo.

Hình 3.1. Nguyên lý hoạt động của phương pháp khai thác Gaslift

- Khi chưa bơm khí nén vào khoảng không vành xuyến giữa HKT và ống chống khai
thác thì mực chất lỏng bên trong và bên ngoài ống bằng nhau.
- Bơm khí nén vào ống bơm ép là cho chất lỏng trong ống bơm ép di chuyển xuống
đế ống nâng. Khi mực chất lỏng đến đế ống nâng, áp suất nén khí đạt giá trị cực đại, áp suất
29

Trường Đại Học Mỏ Địa Chất

SV: Phạm Văn Độ

tại thời điểm này gọi là áp suất khởi động (P kđ). Khí nén tiếp tục đi vào ống nâng, hoà trộn
với chất lỏng, làm cho tỷ trọng cột chất lỏng trong ống nâng giảm, dẫn đến P đ giảm nên
chênh áp ∆ P tăng do chất lỏng đi từ vỉa vào đáy giếng và đi lên miệng giếng.
3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp Gaslift.
+ Lưu lượng khí nén : Để khai thác có hiệu quả ta phải đảm bảo đủ khí nén theo yêu
cầu. Lưu lượng này được tính bằng tổng lưu lượng khí nén được bơm vào tất cả các
giếng trong vùng khai thác. Khai thác sẽ đạt hiệu quả khi khí bơm ép đạt được lưu
lượng tối ưu.
+ Cấu trúc ống khai thác: Để khai thác ổn định, kích thước ống khai thác là một yếu tố
quan trọng khi thiết kế. Kích thước của ống khai thác quá nhỏ sẽ gây ra tổn thất ma sát.
Tuy nhiên nếu quá lớn sẽ làm cho dòng chảy mất ổn định. Để thiết kế được ống khai
thác tối ưu cho dòng chảy hai pha trong giếng thẳng đứng cần phải có dữ liệu chính xác.
+ Tính chất của chất lưu khai thác: Độ nhớt, độ ngậm nước, độ ngậm dầu, sức căng
trượt.
+ Áp suất khí nén, chiều sâu nhúng chìm: Áp suất khí nén quá thấp sẽ không khai thác
được lưu lượng mong muốn. Nếu chiều sâu nhúng chìm quá lớn thì áp suất khởi động
cũng rất lớn và ngược lại khí nén sẽ không nâng được dầu lên mặt đất.
+ Chất lượng khí nén: thông thường trước khi nén khí vào giếng người ta phải xử lý
chúng, bởi các tạp chất lẫn trong khí. Hiệu quả của hệ thống khai thác bằng Gaslift phụ
thuộc vào áp suất cao của khí có sẵn.
+ Máy nén khí : máy nén khí được lựa chọn phù hợp với giá trị áp suất, khả năng áp
dụng, công suất, môi trường hoạt động và nguồn kinh phí.
+ Ngoài ra hiệu quả của phương pháp khai thác bằng Gaslift còn phụ thuộc vào hệ số
sản phẩm, lượng khí tách ra khỏi dầu và áp suất trên nhánh xả.
3.2. Sơ đồ cấu trúc Hệ thống cột ống khai thác bằng gaslift.
Cấu trúc hệ thống khai thác bằng phương pháp gaslift bao gồm hệ thống các ống đặt trong
giếng , để thực hiện dẫn dòng khí bơm ép có áp suất cao và đưa dòng sản phẩm khí lên mặt
đất, đồng thời đảm bảo độ an toàn , cũng như hiệu quả của phương pháp khai thác dầu bằng
gaslift .
∗ Hệ thống ống khai thác bằng Gaslift có thể phân loại như sau :

- Theo số lượng cột ống thả vào giếng người ta chia ra :
+ Cấu trúc 1 cột ống.
+ Cấu trúc 2 cột ống.
30