Tải bản đầy đủ
Động từ ngữ vi

Động từ ngữ vi

Tải bản đầy đủ

Chơng III: Lập luận

I Lập luận l gì ?
1. Lập luận l đa ra những lí lẽ nhằm đi đến một kết luận no đấy. Ví dụ, trong một cuộc
hội thoại có những lời nh sau :
A Đi H Nội với mình đi.
B Mình không đi đâu. Trời đang ma với lại mình đang còn mệt.
B đã đa ra kết luận : "Mình không đi đâu." lí lẽ m B viện ra để biện hộ cho kết luận đó
l "Trời đang ma" v "đang còn mệt".
Các lí lẽ đa ra đợc gọi l luận cứ. Chúng ta có công thức lập luận sau đây :
p, q r
p, q,... l các luận cứ, r l kết luận. Ta nói giữa q, p, r có quan hệ lập luận v tổ hợp p, q,...
r đợc gọi l một lập luận.
2. Vị trí v sự hiện diện của luận cứ v kết luận
a) Kết luận có thể đứng ở trớc các luận cứ, có thể đứng ở sau hay ở giữa các luận cứ.
Trong ví dụ trên, kết luận r (Mình không đi đâu.) đứng trớc p, q. Lập luận ny còn có thể phát
biểu nh sau :
Trời đang ma, với lại mình đang còn mệt, mình không đi đâu.
Trong trờng hợp ny, r đứng sau p, q lại có thể phát biểu :
Trời đang ma, mình không đi đâu, vả lại mình đang mệt.
Trong trờng hợp ny, kết luận r đứng giữa hai luận cứ.
b) Kết luận v cả luận cứ có thể tờng minh, có nghĩa l nói rõ ra (nh các ví dụ trên đây)
m cũng có thể hm ẩn. Ví dụ : trớc lời rủ của A, B có thể chỉ nói :
Trời đang ma.
hoặc :
Mình đang mệt.
l A tự rút ra đợc kết luận m B muốn nêu ra. Đây l trờng hợp kết luận hm ẩn. Trong câu
nói sau đây :
Lan ơi ! Đi nấu cơm đi. Mẹ đi chợ về rồi đấy.
"Đi nấu cơm đi." l kết luận. "Mẹ đi chợ về rồi đấy." cha phải l luận cứ trực tiếp. Luận
cứ trực tiếp nhng không đợc nói ra, hm ẩn l :
Đã có thức ăn rồi.
hoặc :

Đã tra rồi.

23

Tuy nhiên, về nguyên tắc, kết luận hoặc luận cứ dù hm ẩn nhng phải lm thế no cho
căn cứ vo ngữ cảnh, ngời nghe có thể tự mình rút ra đợc. Sau đây, chúng ta sẽ biết rằng để
rút ra đợc kết luận hay luận cứ ta phải dựa vo các lẽ thờng.

II Lập luận v lôgic
1. Lập luận v lôgic
Trong lôgic, chúng ta có phép quy nạp v diễn dịch. Quy nạp hay diễn dịch cũng l căn cứ
vo các luận cứ để đi đến kết luận, luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát nếu l trờng hợp
quy nạp. Kết luận khái quát đóng vai trò luận cứ tiên đề đến kết luận cục bộ (hay một kết luận
hệ quả) nếu l trờng hợp diễn dịch. Bởi vậy, nói đến lập luận l ta thờng nghĩ đến lôgic, đến
lí luận, đến các văn bản nghị luận.
Đúng l trong lôgic, trong văn nghị luận có vấn đề lập luận. Nhng thực ra lập luận có mặt
khắp nơi, trong bất cứ ngôn bản no, đặc biệt trong đời thờng. Ví dụ, trong việc mua bán,
ngời bán phải lập luận để đi đến kết luận l giá món hng mình đa ra l phải chăng. Còn
ngời mua hng phải lập luận để hạ giá hng v biện hộ rằng cái giá mình trả mới l hợp lí,...
Đáng lu ý l trong lôgic, quan hệ lập luận chỉ có thể xuất hiện giữa các mệnh đề lôgic,
tức các câu xác tín. Còn trong lập luận thờng ngy, quan hệ lập luận có thể diễn ra giữa các
hnh động ở lời. Ví dụ :
Mẹ đi dạy về rồi. Đi nấu cơm đi !
Kết luận "đi nấu cơm đi" l một mệnh lệnh.
Bác đã mời, nhất định tôi sẽ đến.
Kết luận "nhất định tôi sẽ đến" l hnh động cam kết (hứa).
Trong truyện ngắn Những truyện buồn không muốn viết, Nam Cao viết (lời của b vợ nh
văn) :
Giời ơi l giời ! Có chồng con nh no thế không ? Chỉ vác cái mặt lên nh con trâu
nghênh suốt ngy. Chẳng nhìn rõi đến cái gì. Để cho con ăn đất ngoi sân kia kìa.
Lời của b vợ có hai lập luận, một lập luận ton bộ v một lập luận bộ phận. Lập luận ton
bộ có kết luận l hnh động biểu cảm : "Giời ơi l giời !" v luận cứ l một hnh động hỏi "Có
chồng con nh no thế không ?". Lập luận bộ phận thuyết minh cho kết luận cảm thán trên gồm
một kết luận l hnh động xác tín : "Chẳng nhìn rõi đến cái gì.". Kết luận ny nằm giữa hai luận
cứ "Chỉ vác cái mặt lên nh con trâu nghênh suốt ngy." v "Để cho con ăn đất ngoi sân kia
kìa.".
Chỉ có lập luận trong hội thoại đời thờng mới chấp nhận các hnh động ngôn ngữ, đặc
biệt l các hnh động không phải xác tín lm luận cứ hay kết luận.
2. Lập luận v miêu tả
ở trên chúng ta đã nói đến lõi miêu tả của một câu. Lõi miêu tả l nội dung phản ánh hiện
thực do hnh động xác tín đa vo câu.

24

Lõi miêu tả, nói đúng hơn l nội dung miêu tả có thể l luận cứ của lập luận. Tuy nhiên
không phải bao giờ cũng một lõi miêu tả thì cùng một quan hệ lập luận.
Trong các câu nói trong giao tiếp thờng ngy, ít khi ngời ta miêu tả chỉ để phục vụ cho
mục đích miêu tả, ít khi ngời ta miêu tả để m miêu tả. Thờng thì ngời ta đa ra một nội
dung miêu tả l để dùng nó nh một luận cứ để đi đến một kết luận no đó. Nói cách khác,
ngời ta đa miêu tả vo trong các quan hệ lập luận. ít khi bỗng nhiên, không có lí do no m
ngời nói đa ra một nội dung miêu tả nh :
Nh của thủ trởng năm tầng, nội thất trang bị cực kì lộng lẫy, hiện đại.
Đến gần chín mơi phần trăm ngời đa ra miêu tả đó nhằm vo một kết luận tờng minh
hoặc hm ẩn no đó.
Vì vậy, nh ngôn ngữ học nổi tiếng Pháp Oswald Ducrot cho rằng ý nghĩa đích thực của
một nội dung miêu tả l giá trị lập luận của nó. Có nghĩa l nội dung miêu tả đó hớng tới một
kết luận +r hoặc r no đó. Giá trị lập luận +r hoặc r của một nội dung miêu tả có thể tuỳ
từng ngữ cảnh, nhng cũng có những nội dung miêu tả tự nó đã chứa sẵn một hớng kết
luận nhất định.
Ví dụ các nội dung miêu tả sau đây :
Anh ấy thông minh.

Anh ấy thờng thức khuya dậy sớm.
Anh ấy đã hứa với ai điều gì l cố lm bằng đợc.
thờng dẫn tới kết luận đánh giá tốt về "anh ta". Giả định có kết luận cụ thể : "Nên lm quen v
kết bạn với anh ta." thì các nội dung miêu tả trên đều có thể lm luận cứ để đi đến kết luận đó.
Ngợc lại các nội dung miêu tả nh :
Anh ấy suy nghĩ chậm lắm.

Anh ấy thờng dậy rất muộn, đi ngủ rất sớm.
Anh ấy hay hứa suông.
sẽ dẫn tới các kết luận trái ngợc với kết luận trên.
Cũng nh vậy, các nội dung miêu tả :
Từng đám mây xanh úp chụp xuống cánh đồng vắng vẻ.
v
Từng đám mây bông trắng nõn nhẹ nhng bay trên cánh đồng tấp nập những ngời lm
cỏ, xới khoai, ngô, đậu.
chắc chắn sẽ hớng tới những kết luận trái ngợc nhau.
Vì ý nghĩa đích thực của các nội dung miêu tả l giá trị lập luận của chúng cho nên trong
những câu văn, đoạn văn miêu tả, tự sự (không kể những đoạn văn nghị luận) dù ngời viết
không đa ra kết luận tờng minh, nhng do cách lựa chọn chi tiết, cách dùng từ, đặt câu,...
ngời viết cố ý tìm cách dẫn ngời đọc đến một kết luận no đó (một hiệu quả cảm xúc no

25

đó) đã định sẵn. Cần chú ý điều ny để rút ra đợc ý định nghệ thuật đích thực của một văn
bản.
Trong văn bản, trong ngôn bản, chúng ta thờng nói đến chủ đề của văn bản (của đoạn
văn) của ngôn bản. Chủ đề thờng l kết luận tờng minh hoặc hm ẩn. Nói cách khác, một
văn bản (một đoạn văn) thờng l một lập luận đơn hay phức, bất kể l văn bản viết theo phong
cách chức năng no. Tính lập luận l sợi chỉ đỏ bảo đảm tính mạch lạc về nội dung của văn bản.

III Đặc tính của quan hệ lập luận
Chúng ta đã nói quan hệ lập luận l quan hệ giữa các luận cứ p, q,... với kết luận r.
Giữa các luận cứ có quan hệ định hớng lập luận, có nghĩa l p v q đợc đa ra để hớng
tới một r no đấy. p v q có thể đồng hớng lập luận khi cả hai đều nhằm vo một kết luận
chung, kí hiệu :
pr
qr
p v q có thể nghịch hớng lập luận khi p hớng tới r còn q hớng tới r nên chú ý r v r
phải cùng một phạm trù, nói khác đi r phải l phủ định của r. Nếu p hớng tới kết luận r, q
hớng tới kết luận s thì chúng khác biệt về định hớng tới lập luận). Kí hiệu :
pr
q r
các luận cứ đồng hớng lập luận có thể có quan hệ tơng hợp với nhau, có nghĩa l chúng
cùng một nhóm luận cứ thuộc cùng một phạm trù, ví dụ :
p : Chiếc xe ny rẻ
q : Chiếc xe mới chạy đợc 9.000 km.
Ta có một lập luận :
Chiếc xe ny rẻ, lại mới chạy có 9.000 km, mua đi.
Chúng có thể độc lập với nhau, ví dụ :
p : Chiếc xe ny rẻ.
q : Anh vừa nhận đợc tiền nhuận bút.
luận cứ "nhận đợc tiền nhuận bút" không cùng phạm trù với những đặc tính của chiếc xe,
chúng độc lập với nhau, tuy nhiên chúng có thể đồng hớng lập luận. Chúng ta có thể có lập
luận :
p : Chiếc xe ny rẻ +r (mua đi)
q : Chiếc xe ny quá cũ r (đừng mua nó)
Xét theo quan hệ định hớng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập luận khác nhau,
có nghĩa l p có sức mạnh đối với kết luận +r (hoặc r) lớn hơn q hoặc ngợc lại. Thờng
thờng luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn đợc đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu
hơn. So sánh hai lập luận :

Anh vừa nhận đợc tiền nhuận bút, chiếc xe ny rẻ, lại mới chạy đợc 9.000km, mua đi.

26

Chiếc xe ny rẻ, mới chạy đợc 9.000km, anh lại mới nhận đợc tiền nhuận bút, mua
(ngay) đi.
Sự thay đổi vị trí của các luận cứ dẫn tới sự khác nhau về hiệu lực của chúng đối với kết
luận "mua đi".
Sự thay đổi vị trí ny cng rõ hơn đối với các luận cứ nghịch hớng lập luận. So sánh :

Chiếc xe ny quá cũ nhng rẻ (mua đi).
Chiếc xe ny rẻ nhng quá cũ (đừng mua).
Có thể nói hớng lập luận (tức l kết luận) của cả lập luận l do luận cứ có hiệu lực lập
luận mạnh nhất trong các luận cứ quyết định.
Có thể biểu diễn hai đặc tính của các luận cứ nói trên, đặc tính có hiệu lực lập luận v đặc
tính nghịch đối về lập luận bằng hai sơ đồ sau :
Đặc tính hiệu lực lập luận
r
p
q
(đọc : q có hiệu lực lập luận cao hơn p đối với kết luận r)
Đặc tính nghịch đối với lập luận :
r

r

p

p'

(đọc : p hớng tới r, p' hớng tới r)
Dới đây chúng ta sẽ thấy có các chỉ dẫn lập luận đánh dấu các đặc tính nói trên của các
luận cứ trong một lập luận.
Hai sơ đồ ở trên giúp chúng ta thấy một tính chất nữa của các luận cứ, đó l đặc tính ở
những thang độ khác nhau trong một quan hệ lập luận do các luận cứ có những hiệu lực lập
luận khác nhau không chỉ do nội dung của luận cứ m còn do vị trí của chúng trong lập luận
quyết định. So sánh :
Chiếc xe ny rẻ nhng anh không có tiền. đừng mua
Anh không có tiền nhng chiếc xe ny rẻ. (cố) m mua
Một lần nữa chúng ta thấy sự cần thiết phải phân biệt nội dung miêu tả với các luận cứ
trong lập luận.

IV Tác tử lập luận v kết tử lập luận(1)
ở mục trên, chúng ta nói tới các chỉ dẫn lập luận. Chỉ dẫn lập luận l các dấu hiệu hình
thức nhờ chúng ngời nghe nhận ra đợc hớng lập luận v đặc tính lập luận của các luận cứ
trong một quan hệ lập luận. Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn : các tác tử (opérateurs) lập
luận v các kết tử (connecteurs) lập luận.

(1) Trớc đây chúng tôi dịch l kết tố lập luận

27

Tác tử lập luận l một yếu tố khi đợc đa vo một nội dung no đấy sẽ lm thay đổi tiềm
năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn có của nó. Ví dụ nh hai từ ngữ đã v
"mới... thôi" đã dẫn. Giả định ta có nội dung :

Bây giờ tám giờ.
Nếu đa vo các tác tử đã hoặc "mới... thôi" thnh :

Bây giờ đã tám giờ rồi.
v :
Bây giờ mới tám giờ thôi.
rõ rng l thông tin miêu tả trong hai câu sau không đổi nhng phát ngôn với "đã... rồi" hớng
về kết luận" khẩn trơng lên" v phát ngôn với " mới... thôi" hớng về kết luận cứ từ từ.
Những yếu tố nh chỉ, những, l ít, l nhiều,... l những tác tử đánh dấu những luận cứ đối
nghịch về lập luận. So sánh :

Chỉ có ba nghìn trong túi thôi.
v :
Có những ba nghìn trong túi (kia).

Túi gạo ba chục cân l ít.
v :

Túi gạo ba chục cân l nhiều.
chúng ta sẽ thấy chỉ, l nhiều chuyển những thông tin miêu tả tơng ứng thnh luận cứ hớng
về kết luận ít, nhẹ còn các tác tử những, l ít hớng luận cứ về phía nhiều, nặng.
Các kết tử lập luận l những yếu tố (nh các liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng
từ v các trạng ngữ,...) phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thnh một lập luận duy nhất. Nhờ
kết tử m các phát ngôn trở thnh luận cứ hay kết luận của một lập luận.
Ví dụ :

Trời đẹp nên tôi đi chơi.
Trời đẹp, vả lại chúng ta đã đọc sách quá lâu, đi chơi thôi.
Nên l kết quả nối phát ngôn luận cứ "trời đẹp" với kết luận "tôi đi chơi". Vả lại nối hai
phát ngôn luận cứ "trời đẹp", "chúng ta đọc sách quá lâu" đồng hớng lập luận, luận cứ sau
"mạnh" hơn luận cứ trớc, để dẫn tới kết luận "đi chơi thôi".
Các kết tử lập luận có thể chia thnh kết tử hai vị trí v kết tử ba vị trí.
a) Kết tử hai vị trí l những kết tử chỉ cần hai phát ngôn l đủ lập thnh một lập luận,
không nhất thiết phải có thêm một phát ngôn luận cứ thứ ba (mặc dầu vẫn có thể thêm vo
một hoặc một số phát ngôn bổ sung, đồng hớng). Ví dụ :
(vì) Tôi mệt nên tôi phải nghỉ ngơi.
nên l kết tử hai vị trí, chỉ cần một phát ngôn luận cứ (lí do với một phát ngôn kết luận l
đã thnh một lập luận. Dĩ nhiên có thể thêm vi phát ngôn luận cứ khác nhau nh có thì giờ,
lm xong bi,... vo lập luận trên nhng sự thêm vo ny không ảnh hởng đến kết tử nên.

28

b) Kết tử ba vị trí l kết tử đòi hỏi phải có ba phát ngôn mới có thể hình thnh nên một lập
luận. Ví dụ kết tử nhng.
Trời đẹp nhng tôi bận học nên không đi chơi đợc.
Đã dùng kết tử nhng, nhất thiết phải có ba phát ngôn "trời đẹp"," tôi bận học" v phát
ngôn kết luận "không đi chơi đợc". Các kết tử đồng hớng nh v, vả lại, hơn nữa, thêm vo
đó cũng l các kết tử ba vị trí.

Trời mát v có gió nhẹ, đi chơi thật tuyệt.
Tôi rất mệt, vả lại bi vở cũng lm xong rồi, tôi phải nghỉ thôi.
Chiếc xe ny rẻ, hơn nữa lại cha cũ lắm, mua đi.
Các kết tử lại đợc phân biệt thnh kết tử dẫn nhập luận cứ nh : vì, hơn nữa, nhng v
những kết tử dẫn nhập kết luận nh : vậy, nên, thì, dù sao thì, dù thế no cũng,...
Giới ngôn ngữ học Việt Nam đã viết rất nhiều về các từ h, các từ công cụ nhng giá trị
lập luận của chúng cha đợc tác giả no đề cập tới. Không phát hiện đợc bản chất lập luận
của các từ h sẽ không lí giải đợc đầy đủ chức năng của chúng trong tiếng Việt (v trong tất
cả các ngôn ngữ khác).

V Các "lẽ thờng" cơ sở của lập luận
ở trên chúng ta đã nói các tiên đề lôgic v các thao tác lôgic không phải l cơ sở của các
lập luận trong giao tiếp bình thờng. Vậy cái gì lm cơ sở cho lập luận, có nghĩa l cái gì lm
cơ sở để nối kết một nội dung với một nội dung khác thnh một lập luận, tức l thnh luận cứ
với kết luận. Ví dụ ta có nội dung đợc diễn đạt bằng phát ngôn : "Bây giờ l tám giờ." v nội
dung thứ hai đợc diễn đạt bằng phát ngôn : "nhanh lên", dựa vo cái gì để chúng ta tạo thnh
một lập luận nh :
Bây giờ l tám giờ, nhanh lên.
trong đó "Bây giờ l tám giờ" đóng vai trò luận cứ v "nhanh lên" đóng vai trò kết luận. O.
Ducrot cho rằng cái đó l cái "lẽ thờng" (tiếng Pháp topos, số nhiều topoi(1)). "Lẽ thờng" l
những chân lí thông thờng có tính chất kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc nh các
tiên đề lôgic, mang đặc thù địa phơng hay dân tộc, có tính khái quát, nhờ chúng m chúng ta
xây dựng đợc những lập luận riêng. Cái lẽ thờng lm cơ sở cho lập luận trên đợc diễn đạt
nh sau : "Cng còn thì giờ thì ngời ta cng không phải vội vã." v "Cng không có thì giờ
thì ngời ta cng phải vội vã.". "Bây giờ l tám giờ." l một phát ngôn miêu tả "trung tính",
không chứa các tác tử lập luận. Do đó, "tám giờ" có thể l "không có thời gian nữa" m cũng
có thể l "còn có thời gian". Bởi vậy, "Bây giờ l tám giờ." có thể l lẽ thờng cho lập luận :
"Bây giờ l tám giờ, khẩn trơng lên.", m cũng có thể l lẽ thờng cho lập luận : "Bây giờ l
tám giờ." Nếu chúng ta thêm tác tử "mới... thôi" hoặc tác tử "đã... rồi" thì giá trị lập luận của nó
sẽ nghiêng hẳn về phía không vội hoặc vội.
Các lẽ thờng còn có tính chất l (đợc xem nh l) đợc mọi ngời thừa nhận. Đợc mọi
ngời thừa nhận không có nghĩa chúng l những chân lí quốc tế, luôn luôn đúng v bao giờ
(1) Kết tử nhng có thể nối một luận cứ có hớng lập luận tích cực với một kết luận tiêu cực. Ví dụ: " Trời đẹp
nhng tôi không đi chơi. ".

29

cũng hợp quy luật khách quan, lôgic. Có những lẽ thờng của dân tộc ny nhng lại kì lạ đối
với dân tộc khác, địa phơng khác. Anh chng A.Q. của Lỗ Tấn cứ thấy con gái lng Mùi nói
chuyện với đn ông ngoi đờng thế no cũng ném cho vi hòn đá nếu vắng ngời, nếu đông
ngời thì nhổ nớc bọt chắc đã dựa trên lẽ thờng rất "Trung Hoa phong kiến", "Đn b nói
chuyện tay đôi với đn ông l đn b h.". Từ lẽ thờng khái quát ny, anh ta tạo nên một lập
luận riêng, cá thể : "Đn b lng Mùi nói chuyện với đn ông ngoi đờng l đn b h.". Dễ
dng thấy lẽ thờng ny l của một dân tộc nhất định.
Bởi vì lập luận dựa trên lẽ thờng, m lẽ thờng không phải bao giờ cũng l những chân lí
khách quan nên ngay trong một dân tộc, có những lẽ thờng trái ngợc nhau. Do đó, nếu vận
dụng lẽ thờng ny thì có lập luận ny, nếu vận dụng lẽ thờng kia thì có lập luận kia. Ví dụ :
Chiếc xe ny rẻ, mua đi.
v :

Chiếc xe ny rẻ thế, đừng mua.
Hai lập luận trái ngợc (đi đến kết luận trái ngợc) vì lập luận thứ nhất dựa vo lẽ thờng
"Hng hoá cng rẻ cng nên mua vì đỡ tốn kém." còn lập luận thứ hai dựa vo lẽ thờng "Của
rẻ l của ôi, của đầy nồi l của không ngon.".
Các lẽ thờng của từng dân tộc có thể tìm thấy trong tục ngữ. V chúng ta đã biết trong
kho tng tục ngữ Việt Nam không ít những câu rất ngợc nhau.
Cũng vì có các lẽ thờng trái ngợc nhau cho nên khi lập luận, đặc biệt l viết một bi văn
nghị luận, ngoi việc cân nhắc, tính toán cho hết các phơng diện để cho lập luận của mình
chặt chẽ, không sơ hở, cần chú ý đến các phản lập luận. Phản lập luận có thể do :
Ngời tranh luận với mình bác bỏ tính đúng đắn của ý kiến hoặc nội dung miêu tả m ta
dẫn ra lm luận cứ.
Ngời tranh luận với mình bác bỏ kết luận của mình, cho rằng luận cứ nh vậy không
thể đi đến kết luận m ta đã đa ra.
Ngời tranh luận dựa vo một lẽ thờng khác, lẽ thờng ny cũng có thể áp dụng vo
vấn đề đang xem xét đợc.
Bởi vậy khi lập luận cần dự đoán trớc các phản lập luận có thể có để biện luận, ginh
phần "thắng" cho bi viết của mình.
Với lí thuyết lập luận, chẳng những chúng ta có những hiểu biết mới về một lĩnh vực đã
rất quen thuộc m chúng ta còn có đợc một cơ sở lí thuyết để viết một bi văn có sức thuyết
phục.

30

Chơng IV: lí thuyết hội thoại

Hội thoại l hoạt động giao tiếp căn bản, thờng xuyên, phổ biến của sự hnh chức của
ngôn ngữ. Các hình thức hnh chức khác của ngôn ngữ đều đợc giải thích dựa vo hình thức
hoạt động căn bản ny.
Nên lu ý rằng, dạng cơ bản của hội thoại l dạng song thoại (dialogue) tức l dạng diễn
ra giữa hai nhân vật đối đáp. Tuy nhiên hội thoại có thể có dạng tam thoại (ba nhân vật) v nói
chung l đa thoại (nhiều nhân vật). Lí thuyết hội thoại thế giới đang bắt đầu nghiên cứu các
dạng đa thoại của hội thoại. ở đây chúng ta chỉ lm quen với dạng song thoại của hội thoại.

I các vận động hội thoại
Vận động giao tiếp của ngôn ngữ thông thờng bao gồm ba vận động : sự trao lời, sự trao
đáp v sự tơng tác.
1. Trao lời
L vận động ngời nói A nói ra v hớng lời nói của mình về phía ngời nhận B. Bình
thờng, A khác ngời nhận B trừ trờng hợp độc thoại. Tuy vậy, ngay cả trong trờng hợp độc
thoại, ở ngời nói có sự phân đôi nhân cách : anh ta vừa l A vừa l B v khi hoạt động theo
nhân cách A hay theo nhân cách B, anh ta vẫn l hai nhân vật khác nhau, tuân theo hai loại
quy tắc hoạt động khác nhau.
Có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hớng tới ngời nhận hoặc tự hớng
về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực,...) bổ sung cho lời của ngời nói.
Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng ngời nhận B tất yếu phải có mặt, "đi vo" trong
lời của A.
Ngay trớc khi B đáp lời, anh ta, ngôi thứ hai, đã đợc đa vo trong lời trao của ngôi thứ
nhất tôi v thờng xuyên kiểm tra, điều hnh lời nói của A. Cũng chính vì vậy, ở phía ngời
nói, ngời trao lời, nói năng có nghĩa l "lấn trớc" vo ngời nghe B, phải dự kiến trớc phản
ứng của ngời nghe để chọn lời cho thích hợp, để lm sao cho có thể "áp đặt" điều mình muốn
nói vo B.
2. Trao đáp
Lời sẽ trở thnh hội thoại khi ngời nghe B đáp lời. Sẽ có sự lần lợt thay đổi vai nói
nghe giữa các nhân vật giao tiếp.
Chúng ta đã biết lời l sản phẩm của các hnh động ngôn ngữ. Tất cả các hnh động ngôn
ngữ đều đòi hỏi một sự đáp ứng. Điều ny đúng không chỉ đối với các hnh động nh hỏi (trả
lời), cho (đáp lại), cầu khiến (nhận lệnh hay không),... m đúng cả cho hnh động xác tín
(khẳng định, miêu tả). Đa ra một xác tín ngầm ẩn l "hỏi" ngời nghe có ý kiến nh thế no
về lời khẳng định của mình, do đó đòi hỏi ngời nghe phải có phản ứng bằng lời nh thế no
đó đối với lời khẳng định của mình. Khi ngời nghe tỏ ra sao lãng hoặc không chú ý đến lời

31

khảo nghiệm của mình thì ngời nói thờng tìm cách để "kéo" anh ta trở lại với điều mình
đang khẳng định.
Tất nhiên có những lời loại trừ sự đáp lời nh ngôn bản viết (nhng không phải l hình
thức th tín) hoặc miệng (tuyên án, truyền thanh, truyền hình,...). Nhng, nh đã nói đây l sự
loại trừ sự đáp lời trực tiếp, tức thời. Trong chiều sâu những ngôn bản trên vẫn cần đến sự hồi
đáp no đó hoặc ở một hoặc ở những ngời nghe.
3. Tơng tác
Các nhân vật giao tiếp ảnh hởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng
ngời trong quá trình hội thoại.
Trớc khi hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp có sự khác biệt, đối lập, thậm chí trái
ngợc nhau về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm,...). Không có sự khác biệt ny thì sự giao
tiếp trở thnh thừa. Trong hội thoại v qua hội thoại khoảng giao nhau giữa các mặt của ngời
đối thoại mở rộng dần v một cuộc hội thoại thnh công l cuộc hội thoại m sau đó sự khác
biệt nói trên bị mất đi (dĩ nhiên có những cuộc hội thoại không thnh công, khoảng bất đồng
vẫn y nguyên, thậm chí còn mở rộng ra).
Trong hội thoại, một lời nói bị chấm dứt khi ngời kia tỏ ra không chú ý đến nội dung của
nó, tỏ ra lảng xa nó. Lúc ny ngời nói phải ho phối lại cuộc hội thoại bằng cách kéo đối
phơng trở lại với câu chuyện v khi thấy rằng đã kéo lại đợc rồi thì "khởi động lại" câu
chuyện. "Có thể xem những nhân vật tơng tác l những nhạc công trong một bản giao hởng
vô hình m phần nhạc họ chơi không đợc biên soạn từ trớc, mỗi ngời tự soạn ra trong diễn
biến của bản giao hởng, bản giao hởng không có nhạc trởng (tuy nhiên vẫn có thể có nhạc
trởng ví dụ trong một cuộc hội thảo có ngời điều khiển). Có thể dùng thêm một ẩn dụ nữa :
cách ứng xử kèm ngôn ngữ sẽ l một vũ điệu giữa những nhân vật tơng tác."(1)
Bởi tơng tác l tác động chủ yếu trong hội thoại cho nên dụng học hội thoại còn đợc gọi
l dụng học tơng tác bằng lời.
Tơng tác l một kiểu quan hệ xã hội giữa ngời với ngời. Hễ có một hoạt động xã hội
thì có sự tơng tác. Tơng tác bằng lời chỉ l một trong những dạng tơng tác giữa ngời với
ngời. Có tơng tác bằng lời m cũng có sự tơng tác không bằng lời. Vũ hội, thể thao, trò
chơi, đi lại trên đờng l những tơng tác không bằng lời. Thầy thuốc khám bệnh l sự tơng
tác có tính hỗn hợp vừa không bằng lời vừa bằng lời.
Tơng tác bằng lời chỉ l trờng hợp riêng của tơng tác nói chung. Giữa tơng tác bằng
lời v tơng tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất.
Trớc hết, giữa chúng có chung khái niệm lợt (tour). Điều quan trọng l những ngời
trong cuộc phải tuân theo những quy tắc nhất định thì mới có sự phân chia thnh "lợt". V
trong hội thoại có sự vi phạm "lợt lời" khi ngời ny nói tranh phần ngời kia (cớp lời ngời
khác) thì trong sự đi lại cũng có trờng hợp đèn đã đỏ rồi m vẫn có ngời vẫn cố vợt bằng
đợc. Lại cũng có những trờng hợp "trật khớp" về lợt, trong trờng hợp đi lại trên đờng

(1) C.K. Orecchioni, Dụng học phân tích hội thoại, chuyên đề trình by tại khoa Pháp, Trờng Đại học S phạm
Ngoại ngữ, H Nội, 1985.

32

phố sự "trật khớp" có thể xảy ra khi có tai nạn giao thông thì trong hội thoại sự "trật khớp" xảy
ra khi có sự ngắt quãng quá di giữa hai lợt lời hoặc có sự dẫm đạp lên nhau trong lợt lời, cả
hai ngời đối thoại cùng nói,...
Tiếp nữa, giữa tơng tác bằng lời v không bằng lời còn có sự đồng nhất về khái niệm cặp
kế cận. Trong hội thoại có cặp hỏi / trả lời thì trong hệ thống đèn đờng có đỏ / dừng lại, xanh
/ đi ; trong thi đấu điền kinh chạy đua có cặp tiếng súng hiệu / khởi đua,... Nói chung cặp kế
cận đợc điều khiển bởi quy tắc giữa sự cân bằng trong tơng tác.
Cuối cùng, trong tơng tác còn có những cặp trao đáp củng cố v sửa chữa. Trao đáp củng
cố nhằm thiết lập hay lm vững chắc quan hệ giữa ngời trong cuộc để cuộc tơng tác đạt hiệu
quả. Ví dụ khi ta vo một nh trọ, chủ trọ thờng hỏi han về sức khoẻ, về chuyến đi,... của
khách tạo lập quan hệ chủ trọ khách trọ. Những nụ cời, những ánh mắt,... những cử chỉ
vồn vã, việc lấy cho ngời bạn đến thăm cốc nớc, ngy xa "Miếng trầu l đầu câu chuyện"
đều l cặp trao đáp củng cố.
Khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm đến ngời cùng tham gia vo một
hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sửa chữa. Sự sửa chữa có thể bằng
lời : xin lỗi, tỏ ra ân hận, m cũng có thể không bằng lời : cời, đa qu tặng, tự tay mình sửa lại
cái mình lm hỏng,...
Ba vận động : trao lời, trao đáp v tơng tác l ba vận động đặc trng cho một cuộc hội
thoại. Những quy tắc, cấu trúc v chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên,
chủ yếu l vận động tơng tác.

II Các quy tắc hội thoại
Nh ngôn ngữ học Pháp, nữ giáo s C.K.Orecchioni chuyên gia về dụng học tơng tác cho
rằng các quy tắc hội thoại chia thnh ba nhóm.
1. Thứ nhất l nguyên tắc luân phiên lợt lời
Khi có hai ngời hội thoại, ngời ny phải nói khi ngời kia nhờng lời cho anh ta theo
cách lời ngời ny kế tiếp lời ngời kia không có sự dẫm đạp lên lời của nhau. Cho a l lời của
A v b l lời của B thì nguyên tắc ny cho ta a-b-a-b,... Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp
bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau.
Các lợt lời có thể đợc một ngời điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật hội thoại tự
thơng lợng một cách không tờng minh với nhau.
Khi no thì ngời ny nhờng lời cho ngời kia ? Rõ rng l có những dấu hiệu nhất định,
báo một cách tự động cho ngời kia biết rằng anh ta có thể nói. Đó l những dấu hiệu nh sự
trọn vẹn về ý, sự trọn vẹn cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các từ h nh nhé, nghen,... Rất tiếc
chúng ta cha chú ý nghiên cứu những dấu hiệu đánh dấu sự kết thúc lợt lời ny.
2. Nguyên tắc liên kết hội thoại
Một cuộc hội thoại không phải l sự lắp ghép ngẫu nhiên, tuỳ tiện các phát ngôn, các hnh
vi ngôn ngữ. Nguyên tắc liên kết không chỉ chi phối các ngôn bản đơn thoại m chi phối cả
các lời tạo thnh một cuộc hội thoại. Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có
liên kết thì một "cuộc hội thoại giữa những ngời điếc" sẽ xảy ra, trong đó "ông sẽ nói g
còn b sẽ nói vịt".
33