Tải bản đầy đủ
IV - Cơ chế tạo ra các ý nghĩa hàm ẩn cố ý

IV - Cơ chế tạo ra các ý nghĩa hàm ẩn cố ý

Tải bản đầy đủ

nghe cũng ý thức đợc chỗ vi phạm đó của mình. ý nghĩa hm ẩn cố ý xuất hiện v đợc lí
giải chính ở chỗ vi phạm đó. Dới đây l một số trờng hợp.
1. Sự vi phạm quy tắc chiếu vật v chỉ xuất
Trong tiếng Việt hệ thống các từ xng hô trong hội thoại hết sức phức tạp, tế nhị. Mỗi cặp
từ xng hô (ngôi thứ nhất v ngôi thứ hai) đều tiền giả định những kiểu quan hệ vị thế hội
thoại nhất định v việc sử dụng cặp từ xng hô no sẽ quy định quan hệ giao tiếp cần phải giữ
trong suốt cuộc hội thoại. Không thể miêu tả hết đợc các tiền giả định của tất cả các cặp từ
xng hô của tiếng Việt. Dới đây chỉ l một vi ví dụ:
Cặp từ xng hô bố /con có tiền giả định : giữa A v B có quan hệ gia đình (cùng huyết hệ
hay khác huyết hệ nh giữa bố mẹ vợ, chồng với con rể, con dâu). Hiện nay, trong giao tiếp,
giữa hai ngời xa lạ, chẳng có quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình, cũng không có gì l
thân mật, cặp từ xng hô lúc bắt đầu cuộc thoại l bác / tôi, bác / cháu, cụ / cháu,... bỗng
nhiên đợc nhân vật A thay bằng cặp bố /con. Với sự thay đổi cố ý ny (do đó vi phạm cố ý
quy tắc sử dụng chúng) A ngầm tỏ ra rằng quan hệ xa lạ trớc kia nay đã đến lúc phải thay đổi
hoặc tỏ ra một cách hm ẩn rằng tôi xem quan hệ giữa ông v tôi l quan hệ bố / con (Nếu ông
gi kia lại có con gái xinh đẹp, cha chồng thì sự thay đổi từ xng hô ny còn tỏ ý "Tôi muốn
l con rể của ông"). Chúng ta bỏ qua không phân tích ở đây tính chất hơi "cợt nhả" của cách xng
hô đó.
Trong các cuộc cãi lộn giữa vợ chồng không ít trờng hợp ngời vợ (hoặc chồng) đột ngột
chuyển từ xng hô anh /em sang anh / tôi, cuối cùng l my / tao. Sự thay đổi cách xng hô
nh vậy tỏ ra rằng có sự thay đổi trong quan hệ giữa hai ngời m không cần tuyên bố "tờng
minh" nó ra.
2. Các hnh động ngôn ngữ gián tiếp
ở trên chúng ta đã biết về các hnh động ngôn ngữ gián tiếp. Sử dụng các hnh động ngôn
ngữ theo lối gián tiếp l biện pháp rất có hiệu lực, để truyền báo các ý nghĩa hm ẩn, đặc biệt
l các ý nghĩa cố ý dụng học. Lấy lại ví dụ : thầy giáo hỏi một học sinh vo lớp muộn :
Bây giờ l mấy giờ rồi ?
Đặt câu hỏi ny, thầy giáo rõ rng đã vi phạm điều kiện chuẩn bị v điều kiện chân thnh
của hnh động hỏi bởi vì thầy giáo đã biết giờ vo học của trờng. Trong tình thế của mình,
học sinh biết ngay ý định cảnh cáo của thầy về sự đi muộn của mình nhờ tính "không đúng
chỗ" của câu hỏi. Hỏi đáp lại những câu hỏi kiểu nh vậy, không phải l những câu trả lời
"nhơn nhơn" nh "Tha thầy tám giờ rỡi rồi ạ." m l những phát ngôn xin lỗi, thanh minh... nh
: "Em xin thầy thứ lỗi cho. Xe của em xịt lốp trên đờng đi ạ.",...
3. Sự vi phạm các quy tắc lập luận
Nh đã phân tích ở mục III, trong một quan hệ lập luận, có khi ngời nói chỉ đa ra luận
cứ, để ngời nghe suy ra kết luận hoặc đa ra kết luận để ngời nghe suy ra luận cứ. Không
hon tất các bớc lập luận l cách thờng đợc dùng để tạo ra các hm ngôn.

55

4. Sự vi phạm các quy tắc hội thoại
Dới đây l một vi ví dụ :
<1> A Cậu có biết Thắng hiện giờ ở đâu không ?
B Có chiếc xe DD dựng trớc phòng cái Thuỷ đấy.
<2> A , ông thanh tra đấy ạ ! Tôi đang chờ ông gọi đây. Tôi sốt ruột muốn bố trí...
B Không biết b có vui lòng dùng bữa tối với tôi hôm nay không ?
ở ví dụ <1> thay vì dùng hnh động hỏi đáp trả lời cho câu hỏi, B lại dùng một câu xác
tín (miêu tả). B đã vi phạm một cách cố ý quy tắc hội thoại chi phối chức năng ở lời của các
hnh động trong cặp thoại. Phát ngôn xác tín của B ngầm trả lời cho A biết rằng, Thắng hiện
nay đang có mặt ở phòng của Thuỷ bởi vì cả B, cả A đều biết Thắng có một chiếc xe DD. Có
thể có nhiều lí do dẫn tới việc B phải dùng lối nói hm ẩn ny m không trả lời một cách tờng
minh, đại loại nh : "Nó đang ở trong phòng cái Thuỷ ấy.".
ở ví dụ <2> B đã vi phạm hai quy tắc hội thoại, thứ nhất anh ta đã vi phạm quy tắc tôn
trọng thể diện ở chỗ đã vi phạm lãnh địa hội thoại của A bằng sự "cớp lời", ngắt lời A khi A
cha nói xong. Thứ hai, anh ta đã hỏi đáp hnh động dẫn nhập của A bằng một hnh động
không tơng ứng : hnh động mời với nội dung không ăn nhập gì với nội dung trong lợt lời
của A. Vì A biết rằng B l ngời lịch sự, biết các quy tắc hội thoại (dù các quy tắc ny không
thnh văn) cho nên không kết luận rằng B l ngời thô lỗ m buộc phải tìm nghĩa hm ẩn
trong sự vi phạm đó của B. A rút ra kết luận : "B muốn cảnh cáo mình phải cảnh giác. Có thể
có ngời nghe trộm điện thoại. Chỉ có thể thảo luận công việc với nhau trực tiếp, tay đôi với
nhau m thôi."
Qua hai ví dụ trên chúng ta thấy sự vi phạm cố ý các quy tắc điều khiển cấu trúc chức
năng hội thoại... cũng l biện pháp để truyền đạt các ý nghĩa hm ẩn cố ý.
5. Phơng châm cộng tác hội thoại của Grice v ý nghĩa hm ẩn
Trong trờng hợp đợc vận dụng một cách chân thực, trực tiếp, bình thờng, phơng châm
cộng tác hội thoại của Grice m chúng ta đã biết ở chơng IV, mục III dờng nh l quá "tầm
thờng", "chẳng có gì lạ". Thế nhng, chỉ khi no trong hội thoại xuất hiện những lời "có vẻ
không bình thờng nhng lại rất bình thờng", những lời m ngời nghe phải dùng đến thao
tác suy ý thì mới nắm đợc ý nghĩa thực sự của chúng, từ đó m hồi đáp một cách thoả đáng
với chúng thì các phơng châm v nguyên tắc của Grice mới tỏ ra có giá trị. Dựa vo phơng
châm cộng tác hội thoại của mình m Grice đã vạch ra những nét đầu tiên cho lí thuyết về ý
nghĩa hm ẩn. Những nét đầu tiên nhng vô cùng quan trọng. Đến nay, bất kì tác giả no nói
đến ý nghĩa hm ẩn đều không thể không nói đến Grice.
Grice cho rằng, ngời nói cố tình "xúc phạm" (flout) một hoặc một số nguyên tắc (hay
những yêu cầu cụ thể trong từng nguyên tắc) để khai thác chúng. Grice đặt tên cho cách dùng
ny l sự xúc phạm hay l sự khai thác các nguyên tắc cộng tác hội thoại. Các ý nghĩa hm ẩn
ny dựa vo tính vững chắc của phơng châm cộng tác hội thoại v hoạt động theo cơ chế nh
sau : khi một phát ngôn trệch ra khỏi một nguyên tắc no đó thì ngời nghe vẫn tiếp tục lí giải

56

nó sao cho phù hợp với sự cộng tác trong hội thoại cng nhiều cng tốt. Nh vậy, bằng cách cố
tình vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại, ngời nói buộc ngời nghe phải vận dụng thao tác
suy ý một cách căng thẳng để đạt tới một ý nghĩa no đó. V, chỉ với những ý nghĩa đợc suy
ra ny, ngời nói mới đợc xem l vẫn tôn trọng phơng châm cộng tác. Những hm ẩn hội
thoại đặc thù l cơ sở của một số những "biện pháp tu từ" đã đợc nói tới từ lâu trong tu từ học
của Aristote. Sau đây l một số ví dụ :
a) Nguyên tắc về chất
Nguyên tắc ny bị xúc phạm trong phát ngôn sau :
A Nếu Liên Xô phong toả vùng Vịnh v dầu mỏ thì thế no ?
B ồ ! Nớc Anh ngự trị mặt biển m !
(Ví dụ rút từ S.C.Levinson , Pragmatics , Cambridge, 1987)

S.C.Levinson phân tích ví dụ ny nh sau : bất cứ ngời nghe có hiểu biết no cũng biết
rằng lời hồi đáp của B hon ton sai, trong khi không thể nghĩ rằng B đã lừa dối A. Chỉ duy
nhất có một cách để vẫn giữ đợc tiền ớc theo đó thì B vẫn cộng tác trong hội thoại (với A) l
cho rằng B muốn nói cái gì đó khác hẳn với điều anh ta nói ra. Tìm tòi cái mệnh đề có liên
quan tới câu hỏi của A m phát ngôn của B có thể gợi ra m vẫn bảo đảm đợc sự cộng tác,
ngời nghe đi đến mệnh đề trái ngợc với điều m B nói ra một cách tờng minh tức l mệnh
đề "Nớc Anh không (còn) ngự trị biển cả (nh thế kỉ trớc đây nữa).". Từ đó, theo nguyên tắc
quan hệ với phát ngôn của A, ngời nghe đi đến kết luận l "Nớc Anh đnh bất lực.". Nh
vậy, theo Grice, lời châm biếm đã đợc giải mã.
Một vi ẩn dụ cũng có thể đợc giải thích tơng tự nh trên.
Ví dụ ẩn dụ :
Cái Thuỷ ấy ? Một tảng bê tông, đụng vo nó chỉ có sứt đầu mẻ trán.
Chắc chắn không ai lại nghĩ rằng cô gái đợc gọi tên l Thuỷ lại đợc đúc bằng xi măng,
đá, cát v sắt. Ngời nghe phải tìm cách lí giải ẩn dụ ny, đi từ những tính chất vật lí của bê
tông đến tính cứng cỏi, không dễ xúc động trớc những lời "đờng mật" của các chng... của
Thuỷ. Có nh thế ngời nói mới đợc xem l vẫn cộng tác trong hội thoại dù lời nói bề mặt
của anh ta vi phạm một cách trắng trợn nguyên tắc về chất.
Lối nói năng nh :
A Cậu có cho rằng nó sẽ vo đợc đại học không ?
B Cậu đã thấy chó có váy lĩnh bao giờ cha ?
cũng thuộc cơ chế ny.
b) Nguyên tắc về lợng
Nguyên tắc ny bị vi phạm theo hai hớng hoặc lợng tin nhiều hơn cần thiết, hoặc lợng
tin ít hơn cần thiết. Ví dụ về hớng thứ nhất l lời đối đáp giữa hai nhân vật :

Bác có thấy con lợn cới của tôi chạy qua đây không ?
Từ khi mặc cái áo mới đứng đây đến giờ, tôi chả thấy con lợn no cả.
trong chuyện Lợn cới, áo mới. Không khó khăn tìm ra ý nghĩa hm ẩn của sự vi phạm ny.
57

Ví dụ về hớng thứ hai l các cách nói nh :

Chiến tranh l chiến tranh.
Trẻ con l trẻ con.
Đi thì đi.
Lính m ! Em...
Những lối nói ny, mặc dầu có vẻ "luẩn quẩn" về lôgic, quá ngắn gọn về số lợng yếu tố
ngôn ngữ v quá súc tích về ý nghĩa tờng minh nhng lại rất phong phú về ý nghĩa hm ẩn.
Chính vì phải giữ vững tiền ớc cộng tác hội thoại m ngời nghe phải giải thích lại các từ
chiến tranh, trẻ con, đi thứ hai v từ lính. Giải thích lại có nghĩa l :
Tìm ra những nét nghĩa không nằm trong cấu trúc ngữ nghĩa tờng minh (đợc ghi trong
từ điển) của các từ.
Những nét nghĩa ny phải thích hợp với ton bộ ý nghĩa của phát ngôn.
Phải bảo đảm rằng một khi các từ đợc hiểu theo những nét nghĩa đợc giải thích lại nh
vậy thì phơng châm cộng tác hội thoại mới đợc giữ vững.
Nói chung, giải thích lại l tìm đợc sự khác nhau về nghĩa giữa những từ đợc dùng trùng
lặp một cách cố tình trong phát ngôn (trờng hợp từ chiến tranh, trẻ con, đi (thứ hai) hoặc giữa
từ đợc dùng trong phát ngôn với cái từ mang nghĩa tờng minh thông thờng quen dùng đối
với mọi ngời. Cơ chế giải thích lại không phải l tuỳ tiện m tuân theo những quy tắc ngữ
nghĩa nhất định. Ví dụ, từ chiến tranh thứ hai đợc dùng theo nghĩa biểu niệm v nghĩa liên
hội (chiến tranh l tn phá, l phải tn nhẫn,...) không đợc dùng theo nghĩa biểu vật v biểu
niệm thông thờng nh từ chiến tranh thứ nhất. Từ đi thứ hai biểu thị hnh động "đi" m
ngời nghe phải thực hiện với ít nhiều miễn cỡng khác với từ đi thứ nhất chỉ sự phát ngôn ra
từ ny do chính ngời nghe đã nói ra hoặc do một nhân vật khác nói ra (đi thì đi hiểu l "Anh
đã nói phải đi thì tôi sẽ đi. "; hoặc" Tôi đã nói đi thì tôi sẽ thực hiện thực sự việc đó.") còn từ
lính phải đợc hiểu theo những ý nghĩa liên hội m nhân dân ta (đặc biệt l giới thanh niên)
thờng có đối với "anh bộ đội Cụ Hồ thời chống Mĩ".
c) Nguyên tắc quan hệ
Ví dụ về sự vi phạm có tính nguyên tắc ny l :
A . Ông thanh tra đấy ! Tôi đang chờ ông gọi đây. Tôi muốn bố trí...
B Không biết b có vui lòng dùng bữa tối với tôi không ?
Lời đáp của B xét ở ý nghĩa bề mặt, tờng minh l không "dính líu" đến lời dẫn của A v
hớng thoại chung m A định đặt ra. Chỉ có những nghĩa hm ẩn suy ra từ sự vi phạm ny mới
đảm bảo cho tính cộng tác của B trong cuộc thoại (nghe câu hồi đáp của B, A có thể suy ra
rằng B muốn nói : "Tôi đã biết giữa chúng ta có chuyện cần phải bn nhng việc đó cần giữ bí
mật, kẻ thù đang tìm cách theo dõi chúng ta. Điện thoại có thể bị nghe trộm vậy m b lại
định nói chuyện đó qua điện thoại, cho nên buộc lòng tôi phải ngắt lời b, tôi muốn mời b ăn
tối với tôi, trong bữa ăn, chúng ta có thể bn bạc kĩ m không sợ bị nghe trộm.").
d) Nguyên tắc cách thức:
Sau đây l ví dụ m chính Grice đã dẫn ra :
58

So sánh phát ngôn :
Cô Singer tuôn ra một trng âm thanh gần nh một khúc đoạn trong nhạc kịch
Rigoletto.
với phát ngôn :

Cô Singer hát một khúc đoạn trong nhạc kịch Rigoletto.
Ngời nói chọn cách nói di dòng thay vì cách nói ngắn gọn đúng nguyên tắc cách thức l
nhằm mỉa mai một cách hm ẩn rằng điều m cô Singer lm nh đang đợc gọi l "hát" theo
nghĩa chân chính của từ ny.
Cũng thuộc sự vi phạm nguyên tắc cách thức l lối nói sau đây thờng gặp :
Chồng Bé Tr Mi hôm nay rất ngoan. Phải thởng cho bé ăn cái gì chứ ?
Vợ Kờ E Mờ (K - E - M) nhá !
Với lối ny dùng một "mật ngữ" để bé Tr Mi không biết, bé Tr Mi m biết sẽ đòi đợc
ăn ngay, trong khi đó họ cha chuẩn bị để đa bé đi chơi.
Từ sự khai thác các nguyên tắc cộng tác hội thoại nói trên, có thể rút ra kết luận rằng hiệu
lực giao tiếp của một ngôn ngữ không thể quy về chỉ một số những quy ớc về cách dùng của
ngôn ngữ đó. Những quy ớc về cách dùng của một ngôn ngữ dù có đợc phát hiện ra chi tiết
đến đâu cũng không bao giờ đầy đủ bởi vì sự tuân thủ quy ớc trong giao tiếp luôn luôn đi
kèm với sự phá vỡ quy ớc nh hình với bóng. Sức mạnh của một lí thuyết ngôn ngữ không
chỉ ở chỗ tìm ra cấu trúc, quy ớc m còn ở chỗ tìm ra đợc sự vợt khỏi cấu trúc, vợt khỏi
quy ớc của ngôn ngữ trong sự hnh chức bình thờng của nó.

V Phân loại tiền giả định
1. Tiền giả định bách khoa v tiền giả định ngôn ngữ
1.1. Tiền giả định bách khoa bao gồm tất cả những hiểu biết về hiện thực bên trong v
bên ngoi tinh thần con ngời m các nhân vật giao tiếp cùng có chung, trên nền tảng đó m
nội dung giao tiếp hình thnh v diễn tiến. Ví dụ :
Trong truyện ngắn Nớc mắt, Nam Cao viết :
Ông đội trạm... sửng sốt... khi thấy ông Lê C Điền... đội một chiếc mũ trắng cũ kĩ đến
mấy năm cha đánh phấn.
Từ sửng sốt đợc dùng với tiền giả định : sự việc đợc kể ra sau đó l sự việc hết sức bất
thờng. Trong số những điều lnh lm cho ông đội trạm bu điện thời thuộc Pháp sửng sốt có
chi tiết chiếc mũ trắng của ông Lê C Điền mấy năm cha đánh phấn. Độc giả thời nay sẽ
không hiểu đợc tại sao chi tiết ny lại gây sửng sốt, thậm chí còn không biết đến cả việc mũ
phải đánh phấn. Đối với độc giả lớn tuổi dùng từ sửng sốt nh tác giả đã viết l lời bình
thờng, vì họ biết rằng, ngy trớc học sinh thờng hay đội mũ cát mu trắng, thỉnh thoảng
phải dùng phấn đánh để xoá các vết bẩn. Chiếc mũ trắng đã quá cũ kĩ, nhem nhuốc, giá tiền
phấn đánh mũ lại quá rẻ, thế m ông Lê C Điền không đánh phấn lại, chứng tỏ ông ta quá
nghèo, trái ngợc với cách ông đội trạm hình dung về ông ta trớc khi gặp ông ta tận mặt.
Hiểu biết ny l tiền giả định bách khoa của câu văn trên của Nam Cao.

59

Tiền giả định bách khoa có thể chi phối đến kết cấu phát ngôn, ví dụ phát ngôn :
1 Anh ta khen cô ta xinh v bị cô ta mắng cho.
2 Tuy l em nhng nó học giỏi hơn anh nó.
Ngời châu Âu có thể ngỡ ngng vì không hiểu tại sao khen một cô gái xinh lại bị cô ta
mắng. Phát ngôn trên chỉ có thể hiểu đợc trong nền văn hoá Việt Nam truyền thống : nói
chung ngời Việt Nam thờng tránh đả động tới nhan sắc của phụ nữ ngay trớc mặt mọi
ngời. Bởi vậy khen cô gái đẹp trớc mặt cô ta dễ bị xem l cợt nhả, không tôn trọng cô ta.
Trong phát ngôn 2, cặp từ tuy... nhng đợc dùng với tiền giả định bách khoa "Anh phải
hơn em". "Anh phải hơn em" l một "lẽ thờng". Thế m trong trờng hợp giữa hai anh em
nh ny lại có sự đối nghịch với "lẽ thờng" đó cho nên phát ngôn mới cần đến cặp tuy...
nhng... Trật tự với các từ anh, em nếu đảo ngợc ta sẽ có một phát ngôn không bình thờng
"Tuy l anh nhng nó học giỏi hơn em nó.".
ở mục II chơng ny, chúng ta đẽ nêu ra tiền giả định "12 giờ đêm l khuya đối với ngời
Việt Nam" cũng nh tiền giả định : "đã khuya thì phải ngừng mọi sinh hoạt để nghỉ ngơi".
Đây cũng l hai tiền giả định bách khoa. Nguyễn Đức Dân(1) dẫn một ví dụ về tiền giả định
bách khoa. Phát ngôn : "Trời lạnh, chúng ta cần phải nhanh tay lên." có tiền giả định : "Trong
mùa lạnh lm việc lâu ngoi trời sẽ gặp nhiều trở ngại.".
Từ lại trong phát ngôn :
Nó lại đi H Nội rồi !
ngoi pp' : trớc đó nó đi H Nội, còn có tiền giả định : "khoảng cách thời gian giữa lần đi
trớc với lần đi ny l quá ngắn so với bình thờng hoặc việc đi H Nội không nằm trong các
hoạt động bình thờng của nó". Chính vì tiền giả định ny m ít khi chúng ta dùng phát ngôn
trên khi lần đi H Nội trớc xảy ra cách lần ny đã một tháng (tất nhiên còn nhiều nhân tố
nữa, ví dụ : khoảng cách không gian giữa địa điểm sống địa điểm phát ngôn của nó với H
Nội ; tính chất cần thiết của việc đi H Nội đối với nó, nếu việc đi H Nội không nằm trong
yêu cầu công việc của nó v nó sống ở xa H Nội, thì dù việc đi H Nội lần trớc v lần ny
cách nhau một tháng, ta vẫn có thể nói nh trên). Tiền giả định về thời gian (v tiền giả định
không gian, tiền giả định về tính chất cần yếu của sự "đi",...) cũng l tiền giả định bách khoa.
1.2. Theo định nghĩa tiền giả định, chúng ta xem tiền giả định ngôn ngữ l những tiền giả
định "đợc diễn đạt bởi các tổ chc hình thức của phát ngôn".
Tiền giả định ngôn ngữ lại có thể đợc phân thnh hai nhóm, l tiền giả định từ vựng v
tiền giả định phát ngôn (tiền giả định mệnh đề).
Đây l những tiền giả định có quan hệ đến các yếu tố ngôn ngữ tổ chức nên một nội dung
mệnh đề (nội dung xác tín, miêu tả).
a) Tiền giả định từ vựng : ý nghĩa v chức năng của các từ quy định những điều kiện sử dụng
chúng, chỉ khi no ngời nói tôn trọng các điều kiện đó thì mới có thể kết hợp chúng để tạo ra
một phát ngôn bình thờng. Khi từ đã xuất hiện trong phát ngôn, những ý nghĩa, chức năng
quy định điều kiện sử dụng nói trên đợc hiện thức hoá, trở thnh tiền giả định từ vựng của
(1) Nguyễn Đức Dân , Lôgich ngữ nghĩa cú pháp, NXB Đại học v Trung học chuyên nghiệp, H Nội, 1987.

60