Tải bản đầy đủ
III - Tiền giả định và hàm ngôn

III - Tiền giả định và hàm ngôn

Tải bản đầy đủ

b) Hm ngôn l những hiểu biết hm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tờng minh v tiền giả định
của ý nghĩa tờng minh. Nếu không có ý nghĩa tờng minh v tiền giả định của nó, không thể suy
ra đợc hm ngôn thích hợp.Ví dụ :

Sáng hôm nay lại ma !
pp' : Hôm qua (v các hôm trớc) có ma.
ý nghĩa tờng minh : Sáng hôm nay ma.
từ pp' v ý nghĩa tờng minh trên, ngời nói muốn dẫn tới hm ngôn, ví dụ : "Tôi lại không thể
đi chơi đợc." hoặc "Lại không thể phơi thóc đợc.",...
Việc từ pp' v tờng minh m nhận biết hm ngôn no l thích hợp trong số những hm
ngôn có thể suy ra phụ thuộc rất nhiều vo ngữ cảnh, vo ngôn cảnh. Điều ny cho thấy thêm
một đặc điểm nữa phân biệt tiền giả định v hm ngôn : tiền giả định nói chung ít lệ thuộc vo
hon ảnh giao tiếp còn hm ngôn lệ thuộc sâu sắc vo hon cảnh giao tiếp.
Dựa vo cơ sở no để suy ra hm ngôn từ ý nghĩa tờng minh ? Cơ sở đó có thể l quan hệ
lôgic, nhng thông thờng l các "lẽ thờng" m chúng ta đã nói ở lí thuyết lập luận. Nói cách
khác, hm ngôn có thể l r, còn ý nghĩa tờng minh l các luận cứ, hoặc ý nghĩa tờng minh l
r m hm ngôn l luận cứ.Ví dụ :
Một giáo s đến tìm một cô nghiên cứu sinh cha chồng vo tối thứ bảy, không gặp, hỏi
cô bạn cùng phòng :

Vân đi đâu rồi nhỉ ?
Ngời bạn cùng phòng đáp :
Tha thầy, hôm nay l thứ bảy m.
Câu trả lời của ngời bạn có hm ngôn : "Vân đi chơi với ngời yêu.". Đấy l kết luận từ
một "lẽ thờng" (rất sinh viên ở kí túc xá v rất Việt Nam, thậm chí rất H Nội hoặc các đô thị
lớn) : "Tối thứ bảy các cô sinh viên thờng đi chơi với ngời yêu.".
Cũng hon cảnh giao tiếp nh trên nhng nếu thầy giáo phn nn :
Tối no nó cũng đi chơi với ngời yêu, chẳng lo học hnh gì cả !
v cô bạn "đỡ đòn" hộ cho bạn :
Đâu có ạ, tuần lễ bảy tối thì sáu tối tối no bạn ấy cũng đọc sách đến khuya m.
Câu trả lời ny có hm ngôn "Vân chỉ vắng mặt có tối nay, tối thứ bảy hng tuần thôi.".
Hm ngôn ny l luận cứ của kết luận r trong lẽ thờng nói trên.
Tính chất ny cũng có giá trị phân biệt tiền giả định v hm ngôn. Hm ngôn chẳng những
lệ thuộc vo hon cảnh giao tiếp m còn phải dựa vo các lẽ thờng, còn tiền giả định thì
không dựa vo lẽ thờng no cả. Nói nh thế không có nghĩa l muốn đặt đợc một tiền giả
định, ngời nói không chú ý đến hon cảnh, cũng không dựa vo lẽ thờng no. Trong một
văn bản, có sự "chuyển giao" tiền giả định từ tiền ngôn cho phát ngôn sau, có nghĩa l điều
đợc nói đến trong tiền ngôn có thể lm tiền giả định cho phát ngôn sau.
Ví dụ có phát ngôn nh sau :

Đứa thứ nhất thì lm công nhân, đứa thứ hai đã có chồng v có con rồi, đứa thứ ba l
lu học sinh ở Pháp.

50

Phát ngôn ny bao giờ cũng l một phát ngôn đi sau một tiền ngôn, ví dụ nh : "Ông Phát
có ba ngời con đều đã trởng thnh...". Nội dung ny lm thnh tiền giả định cho phát ngôn
"đứa thì... đứa thì... đứa thì..." (cả về nội dung v cả về hnh động tạo lời, tức hnh động sử
dụng kiểu câu no ở phát ngôn sau cho thích hợp với tiền ngôn). Có điều, khi đã l tiền giả
định, cơ chế lập luận đối với nội dung của tiền giả định đó theo các lẽ thờng không hoạt động
nữa.
2. Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn
Nh chúng ta đã biết, một phát ngôn có thể có nhiều tiền giả định nhng chỉ có một hoặc
một số có dính líu đến (quan yếu với) ý nghĩa tờng minh của phát ngôn. C.Kerbrat
Orecchionni đa ra định nghĩa về tiền giả định nh sau : "Chúng tôi xem l tiền giả định tất cả
những thông tin mặc dầu không đợc truyền báo một cách tờng minh (tức không cấu thnh
đối tợng truyền báo chân chính một thông điệp) nhng phải đợc tự động diễn đạt bởi tổ
chức hình thức của phát ngôn, nằm sẵn trong tổ chức của phát ngôn bất kể hon cảnh phát
ngôn nh thế no."(1). Định nghĩa ny nhấn mạnh một đặc điểm : tiền giả định do tính chất
"bất tất phải bn cãi của nó", phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ cấu thnh phát ngôn,
phải có những dấu hiệu ngôn ngữ đánh dấu nó. Ví dụ các phát ngôn :
<1> Anh ta đang lo đám tang cho b mẹ vợ khó tính của anh ta.
<2> Đời trớc lm quan cũng thế a ?
<3> Anh ta đã cai thuốc lá rồi.
<1> có các pp' :
pp'1 : Anh ta có mẹ vợ.
pp'2 : Mẹ vợ anh ta khó tính.
pp'3 : Mẹ vợ anh ta mới chết (độ một hai ngy nếu l hiện nay ; có thể lâu hơn nếu l thời
trớc).
pp'4 : Anh ta đã có vợ.
Các tiền giả định 1, 2, 3 đều quan yếu với phát ngôn trên v đợc đánh dấu bằng các yếu
tố ngôn ngữ b mẹ vợ, khó tính, đang, đám tang. Tiền giả định 4 không quan yếu mặc dầu vẫn
đợc đánh dấu bằng từ mẹ vợ.
<2> Có tiền giả định "đời nay lm quan nh thế" (tham ô). Dấu hiệu ngôn ngữ của pp' ny
l lm quan (nh) thế, đời trớc, cũng.
<3> Có tiền giả định "Trớc đây anh ta nghiện thuốc lá.", đợc đánh dấu bằng "nghiện
thuốc lá" v từ cai.
Do đặc điểm ny m tiền giả định tơng đối ít lệ thuộc vo ngữ cảnh.
Hm ngôn, trái lại không tất yếu phải đợc đánh dấu bởi các dấu hiệu ngôn ngữ. Nh đã
nói, quan hệ giữa ý nghĩa tờng minh v hm ngôn l quan hệ giữa luận cứ v kết luận hoặc
giữa kết luận v luận cứ trong một "lẽ thờng". M luận cứ v kết luận thờng khác nhau về
hình thức ngôn ngữ diễn đạt cho nên trong phát ngôn diễn đạt ý nghĩa tờng minh không chứa

(1) C.Kerbrat Orecchioni, L,Implicite, Armand Colin, P., 1986.

51

sẵn những dấu hiệu ngôn ngữ báo hiệu hm ngôn. Ví dụ phát ngôn <1> nói trên có thể có hm
ngôn : "không gặp anh ta đợc đâu", hoặc "anh ta đang gặp khó khăn về tiền nong" thậm chí
"anh ta đang mừng thầm". Phát ngôn <3> có thể có hm ngôn "nên anh ta khoẻ ra" hoặc "hiện
nay anh ta không lúng túng về tiền nong nữa",... Những hm ngôn trên không đợc báo trớc
bằng một dấu hiệu ngôn ngữ no trong phát ngôn tờng minh. Nói nh vậy không có nghĩa l
hon ton không có dấu hiệu ngôn ngữ no. Nếu xem các "lẽ thờng" l những quy tắc nói
năng thì chính kiểu quan hệ giữa luận cứ v kết luận, chính cả cái lẽ thờng đó l dấu hiệu
hình thức định hớng (hớng lập luận cho chúng ta rút ra đợc hm ngôn cần thiết). Một dấu
hiệu nữa, tuy không trực tiếp nằm trong phát ngôn tờng minh v nằm trong ngôn cảnh l chủ
đề, hớng lập luận, các hnh động ở lời (chủ hớng dẫn nhập v hồi đáp),... cũng cần thiết để
chúng ta xác định hm ngôn no l hm ngôn dính líu, quan yếu nằm trong ý định truyền báo
của ngời nói. Nh thế cũng có nghĩa l hm ngôn lệ thuộc sâu sắc vo ngữ cảnh nh chúng ta
đã nêu ra ở mục trớc.
3. Lợng tin v tính năng động hội thoại
Nhiều tác giả cho rằng bởi tiền giả định l những điều "bất tất phải bn cãi" cho nên
không có tính thông tin. Quả vậy, bởi tiền giả định l những hiểu biết m ngời nói v ngời
nghe đã có chung, dựa vo đó m tạo nên ý nghĩa tờng minh v hm ngôn, cho nên nó không
phải l cái mới, do đó có lợng tin thấp. Trong một văn bản, nh đã biết, những điều đã nói ở
tiền ngôn đợc xem l tiền giả định cho những phát ngôn sau, bởi vậy thông tin m tiền giả
định cung cấp đã l quan yếu ở tiền ngôn, không còn có thể quan yếu đối với phát ngôn đang
xem xét.
Tuy nhiên, cần phân biệt khái niệm hiệu quả thông tin v lợng tin. Xét trong một phát
ngôn, tiền giả định không có hiệu quả thông tin nhng vẫn có lợng tin. Lợng tin ny tuy
không quan yếu đối với hiệu quả thông tin của phát ngôn đang xem xét nhng vẫn l cần thiết
để lí giải hiệu quả thông tin của phát ngôn. Mặt khác tiền giả định không phải bao giờ cũng
không có hiệu quả thông tin. Chúng ta đã nói tới các ý nghĩa hm ẩn cố ý, các ý nghĩa hm ẩn
nằm trong ý định truyền báo của phát ngôn. Trong trờng hợp ý nghĩa hm ẩn cố ý rơi vo
tiền giả định thì chính tiền giả định lại có hiệu quả thông tin cao hơn l ý nghĩa tờng minh v
hm ngôn.
Có lẽ điều quan trọng đối với giao tiếp l ở tính năng động hội thoại của tiền giả định, ý
nghĩa tờng minh v hm ngôn. Nói chung, ý nghĩa tờng minh v hm ngôn có tính năng
động hội thoại cao hơn l tiền giả định, có nghĩa l ý nghĩa tờng minh v hm ngôn (nằm
trong ý định truyền báo của phát ngôn) l một giai đoạn trong hội thoại (nhớ lại các nguyên
tắc cộng tác của Grice), từ giai đoạn ny m hội thoại tiến lên bớc mới. Trở lại với ví dụ :

Anh ta đã cai thuốc lá.
giả định đây l tham thoại của A. Cuộc hội thoại có thể tiếp tục nh sau :
B Thế ? Anh ta cai có vất vả lắm không ?
A Cũng khá vất vả. Dằn vặt, thẫn thờ hng tháng mới trở lại bình thờng đợc.
Nh thế cuộc thoại tiến lên dựa vo ý nghĩa tờng minh của phát ngôn đó.
Cuộc thoại cũng có thể diễn biến nh sau :
B Thế ? Bây giờ hẳn anh ta không phải đi vay từng đồng nh trớc nữa nhỉ ?

52

A Cũng chẳng khá lên đợc, bỏ đợc thuốc lá thì lại nghiện c phê. Ba đấm bằng một
đạp.
Nh thế cuộc thoại tiến lên dựa vo hm ngôn "Anh ta có thể tiết kiệm đợc tiền.".
Tiền giả định thì khác. Tiền giả định, kể cả trờng hợp tiền giả định l ý nghĩa cố ý, có thể
l một bớc để tiếp tục hội thoại. Nhng nếu tiếp tục hội thoại dựa vo tiền giả định thì cuộc
thoại sẽ "giật lùi", đôi khi luẩn quẩn, thậm chí gây ra cuộc "cãi nhau to" lm hỏng cả cuộc
thoại, hớng phát triển chung của cuộc thoại sẽ không tiến lên đợc (trừ những cuộc thoại có
tính "đấu hót", không có chủ đề, không có đích nhất định). Trở lại phát ngôn "Anh ta đi lấy
thuốc cho vợ.". Giả định phát ngôn ny l tham thoại của A hồi đáp câu hỏi của B về việc
nhân vật Thắng vắng mặt ở cơ quan. Cuộc thoại diễn biến nh sau :
B Thắng đi đâu rồi nhỉ, việc thì cần m lại vắng mặt, ai lm thay bây giờ.
A Báo cáo anh, anh ta đi lấy thuốc cho vợ.
B Lấy thuốc cho vợ ? Thắng lấy vợ khi no nhỉ ? Có ai nói cho tôi biết đâu ?
A Mới lấy thôi, nhng cô vợ yếu lắm...
Cuộc thoại diễn biến trên tiền giả định của phát ngôn "Thắng đã có vợ." v chúng ta thấy
rằng câu chuyện về lí do tại sao anh ta không có mặt v về công việc đình trệ do sự vắng mặt
đó bị "chặn" lại, không tiến lên đợc nữa (tất nhiên cuộc thoại có thể chuyển sang hớng
khác). Nói tóm lại, đối với một hớng hội thoại đã cho, hm ngôn có tính năng động hội thoại
cao, nó l một bớc thúc đẩy cuộc thoại tiến lên đạt đến đích, còn tiền giả định có tính năng
động hội thoại thấp, thậm chí cản trở cuộc hội thoại tiến lên theo đích đã cho.
4. Phản ứng đối với các dạng phát ngôn
Trừ những tiền giả định đóng vai trò ý nghĩa hm ẩn cố ý (đối tợng truyền báo chính của
phát ngôn), các tiền giả định thông thờng có những đặc điểm sau đây khi phát ngôn biến đổi
sang :
a) Tính chất kháng phủ định
Tiền giả định giữ nguyên khi phát ngôn chuyển từ dạng khẳng định sang dạng phủ định.
Nó chống lại phủ định (kháng phủ định). Ví dụ, tiền giả định "Thắng đã có vợ." l tiền giả
định của câu khẳng định :
Thắng đi lấy thuốc cho vợ.
Tiền giả định ny vẫn giữ nguyên khi phát ngôn trên bị phủ định :
Anh ta không đi lấy thuốc cho vợ.
Cũng nh vậy, tiền giả định : "Trớc đây anh ta nghiện thuốc." của phát ngôn khẳng định
: "Anh ta đã cai thuốc." vẫn không thay đổi nếu nói : "Anh ta không cai thuốc.". Tính chất
kháng phủ định đợc xem l một phép thử tiền giả định.
b) Tính chất bất biến khi phát ngôn thay đổi về hnh động ngôn ngữ tạo ra nó
Tiền giả định của phát ngôn xác tín vẫn giữ nguyên khi phát ngôn ny chuyển thnh phát
ngôn hỏi, mệnh lệnh,... Ví dụ, tiền giả định "Thắng đã có vợ." của phát ngôn xác tín khẳng
định (hoặc phủ định) "Thắng không đi lấy thuốc cho vợ.") không đổi nếu nói :
Thắng đi lấy thuốc cho vợ phải không ?
Đi lấy thuốc cho vợ đi. Thắng !
c) Tính chất không thể khử bỏ
Bởi tiền giả định l điều đã đợc xem l "bất tất phải bn cãi" cho nên nó không thể loại
bỏ ngay trong cùng một phát ngôn bởi cùng một ngời nói ra : Không thể khử tiền giả định :

53

"Thắng đã có vợ." trong cùng phát ngôn. Ví dụ : "Thắng đi lấy thuốc cho vợ nhng Thắng
không có vợ.". Cũng nh vậy không thể khử tiền giả định "Trớc đây anh ta nghiện thuốc lá."
bằng phát ngôn : "Anh ta cai thuốc lá nhng anh ta không nghiện thuốc lá.",... Việc khử tiền
giả định bằng những kết tử lập luận nghịch hớng sẽ dẫn tới sự vô nghĩa hoặc mâu thuẫn.
Gắn bó với tính chất ny l tính chất không thể nối kết phát ngôn có ý nghĩa tờng minh
với tiền giả định của nó. Ví dụ không thể nói :
Anh ta đi lấy thuốc cho vợ v anh ta đã có vợ.
Anh ta đã cai thuốc lá vì trớc đây anh ta nghiện thuốc.
Sự kết nối nh vậy sẽ cho ta những phát ngôn trùng lặp, luẩn quẩn về ý nghĩa. Tính chất
ny có nghĩa l không thể tờng minh hoá tiền giả định ngay trong cùng một phát ngôn do
cùng một ngời nói ra. Cần nhắc lại, tính chất ny chỉ xuất hiện ở tiền giả định thông thờng,
không phải l nằm trong ý định truyền báo một cách hm ẩn của ngời nói.
Đối chiếu với tiền giả định, các hm ngôn không có những đặc điểm nói trên. Cụ thể l :
a) Hm ngôn không giữ nguyên khi phát ngôn chuyển từ khẳng định sang phủ định.
Ví dụ hm ngôn "Anh ta khoẻ ra." của phát ngôn khẳng định "Anh ta đã cai thuốc lá."
không còn giữ nguyên khi nói "Anh ta không cai thuốc lá.". Dùng cách nói của lôgic đúng
sai, ta nói tiền giả định vẫn đúng bất kể ý nghĩa tờng minh đúng hoặc sai (khẳng định hoặc
phủ định, nếu khẳng định đúng thì phủ định của nó sẽ sai, nếu khẳng định sai thì phủ định của
nó đúng) còn hm ngôn có thể đúng m cũng có thể sai khi ý nghĩa tờng minh chuyển từ sai
sang đúng (hoặc ngợc lại). Hm ngôn "Anh ta khoẻ ra." có thể sai khi nói "Anh ta không cai
thuốc lá." m có thể vẫn đúng : tuy anh ta không cai thuốc lá nhng anh ta vẫn khoẻ ra.
b) Hm ngôn cũng không giữ nguyên khi hnh động ngôn ngữ thay đổi đối với ý nghĩa
tờng minh.
Ví dụ hm ngôn nói trên tồn tại trong câu khẳng định : "Anh ta đã cai thuốc lá." nhng sẽ
mất đi đối với câu hỏi "Anh ta có cai thuốc lá không ?" hoặc đối với câu mệnh lệnh "Hãy cai
thuốc lá đi !".
c) Hm ngôn có thể khử một cách dễ dng nhờ kết tử đối nghịch.
Ví dụ ta nói một cách hon ton tự nhiên : "Anh ta đã cai thuốc lá nhng anh ta không
khoẻ ra.". Cũng nh hm ngôn "Anh ta phải nghỉ việc." của phát ngôn "Anh ta đi mua thuốc
cho vợ." có thể bị khử trong phát ngôn : "Anh ta đi mua thuốc cho vợ nhng anh ta không nghỉ
việc.". Các tác tử v kết tử "tuy... nhng..."; "mặc dầu... nhng..." chủ yếu l để khử các hm
ngôn của một luận cứ (hay kết luận) đợc đa vo phát ngôn thnh ý nghĩa tờng minh. Tính
chất ny cũng dẫn tới tính chất có thể tờng minh hoá hm ngôn cùng với ý nghĩa tờng minh
ngay trong cùng một phát ngôn do cùng một ngời nói ra. Ví dụ : "Anh ta cai thuốc lá nên
anh ta khoẻ ra.". Việc tờng minh hoá hm ngôn giúp chúng ta hon thnh một lập luận, đồng
thời hạn chế những hm ngôn không quan yếu thậm chí có hại cho hớng lập luận chung của
cuộc thoại.

IV cơ chế tạo ra các ý nghĩa hm ẩn cố ý
Các ý nghĩa hm ẩn đợc tạo ra dựa vo những cơ chế no ? Có thể trả lời một cách khái
quát : dựa vo tất cả các quy tắc ngữ dụng từ quy tắc chiếu vật v chỉ xuất, quy tắc chi phối
các hnh động ngôn ngữ, quy tắc lập luận cho đến các quy tắc hội thoại. Muốn tạo ra đợc ý
nghĩa hm ẩn cố ý, ngời nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc ny v giả định rằng ngời
nghe cũng biết v tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng v giả định rằng ngời

54

nghe cũng ý thức đợc chỗ vi phạm đó của mình. ý nghĩa hm ẩn cố ý xuất hiện v đợc lí
giải chính ở chỗ vi phạm đó. Dới đây l một số trờng hợp.
1. Sự vi phạm quy tắc chiếu vật v chỉ xuất
Trong tiếng Việt hệ thống các từ xng hô trong hội thoại hết sức phức tạp, tế nhị. Mỗi cặp
từ xng hô (ngôi thứ nhất v ngôi thứ hai) đều tiền giả định những kiểu quan hệ vị thế hội
thoại nhất định v việc sử dụng cặp từ xng hô no sẽ quy định quan hệ giao tiếp cần phải giữ
trong suốt cuộc hội thoại. Không thể miêu tả hết đợc các tiền giả định của tất cả các cặp từ
xng hô của tiếng Việt. Dới đây chỉ l một vi ví dụ:
Cặp từ xng hô bố /con có tiền giả định : giữa A v B có quan hệ gia đình (cùng huyết hệ
hay khác huyết hệ nh giữa bố mẹ vợ, chồng với con rể, con dâu). Hiện nay, trong giao tiếp,
giữa hai ngời xa lạ, chẳng có quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình, cũng không có gì l
thân mật, cặp từ xng hô lúc bắt đầu cuộc thoại l bác / tôi, bác / cháu, cụ / cháu,... bỗng
nhiên đợc nhân vật A thay bằng cặp bố /con. Với sự thay đổi cố ý ny (do đó vi phạm cố ý
quy tắc sử dụng chúng) A ngầm tỏ ra rằng quan hệ xa lạ trớc kia nay đã đến lúc phải thay đổi
hoặc tỏ ra một cách hm ẩn rằng tôi xem quan hệ giữa ông v tôi l quan hệ bố / con (Nếu ông
gi kia lại có con gái xinh đẹp, cha chồng thì sự thay đổi từ xng hô ny còn tỏ ý "Tôi muốn
l con rể của ông"). Chúng ta bỏ qua không phân tích ở đây tính chất hơi "cợt nhả" của cách xng
hô đó.
Trong các cuộc cãi lộn giữa vợ chồng không ít trờng hợp ngời vợ (hoặc chồng) đột ngột
chuyển từ xng hô anh /em sang anh / tôi, cuối cùng l my / tao. Sự thay đổi cách xng hô
nh vậy tỏ ra rằng có sự thay đổi trong quan hệ giữa hai ngời m không cần tuyên bố "tờng
minh" nó ra.
2. Các hnh động ngôn ngữ gián tiếp
ở trên chúng ta đã biết về các hnh động ngôn ngữ gián tiếp. Sử dụng các hnh động ngôn
ngữ theo lối gián tiếp l biện pháp rất có hiệu lực, để truyền báo các ý nghĩa hm ẩn, đặc biệt
l các ý nghĩa cố ý dụng học. Lấy lại ví dụ : thầy giáo hỏi một học sinh vo lớp muộn :
Bây giờ l mấy giờ rồi ?
Đặt câu hỏi ny, thầy giáo rõ rng đã vi phạm điều kiện chuẩn bị v điều kiện chân thnh
của hnh động hỏi bởi vì thầy giáo đã biết giờ vo học của trờng. Trong tình thế của mình,
học sinh biết ngay ý định cảnh cáo của thầy về sự đi muộn của mình nhờ tính "không đúng
chỗ" của câu hỏi. Hỏi đáp lại những câu hỏi kiểu nh vậy, không phải l những câu trả lời
"nhơn nhơn" nh "Tha thầy tám giờ rỡi rồi ạ." m l những phát ngôn xin lỗi, thanh minh... nh
: "Em xin thầy thứ lỗi cho. Xe của em xịt lốp trên đờng đi ạ.",...
3. Sự vi phạm các quy tắc lập luận
Nh đã phân tích ở mục III, trong một quan hệ lập luận, có khi ngời nói chỉ đa ra luận
cứ, để ngời nghe suy ra kết luận hoặc đa ra kết luận để ngời nghe suy ra luận cứ. Không
hon tất các bớc lập luận l cách thờng đợc dùng để tạo ra các hm ngôn.

55