Tải bản đầy đủ
NĂNG LựC GIảI QUYếT VấN Đề CủA HọC SINH TRONG DạY HọC CHƯƠNG CHấT RắN Và CHấT LỏNG. Sự CHUYểN THể-VậT Lí 10

NĂNG LựC GIảI QUYếT VấN Đề CủA HọC SINH TRONG DạY HọC CHƯƠNG CHấT RắN Và CHấT LỏNG. Sự CHUYểN THể-VậT Lí 10

Tải bản đầy đủ

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè, các em học sinh và những người thân trong gia
đình. Không biết nói gì hơn những gì mình cảm kích, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến:
PGS.TS Trần Huy Hoàng, người hướng dẫn đề tài đã tận tình hướng dẫn,
động viêngiúp đỡ, chỉnh sửa chi tiết cho từng trang luận văn.
Các thầy cô trong khoa Vật lí trường đại học Sư phạm Hà Nội đã trực tiếp
giảng dạy cho tôi trong khoá đào tạo thạc sĩ chuyên ngành LL & PPDH vật lí khoá
24, giúp tôi có cơ hội học tập và nâng cao trình độ về lĩnh vực vật lí mà tôi yêu
thích.
Các thầy cô giáo, các bạn học viên cao học K24 trường đại học Sư phạm Hà
Nội, các em học sinh trường THPT Nguyễn Tất Thành, Uông Bí, Quảng Ninh đã
giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm.
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, các anh chị
em và các bạn bè đã luôn giúp đỡ động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 06 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Nhung

22

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
ĐC
DHPH&GQVĐ
GD&ĐT
GQVĐ

HS
HĐNT
TNg
TN
THCS
THPT
TNSP
PP
PPDH
SGK

Viết đầy đủ
Đối chứng
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Giáo dục và đào tạo
Giải quyết vấn đề
Hoạt động
Học sinh
Hoạt động nhận thức
Thực nghiệm
Thí nghiệm
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thực nghiệm sư phạm
Phương pháp
Phương pháp dạy học
Sách giáo khoa

33

MỤC LỤC

44

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề
Bảng 3.1. Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu thực nghiệm
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá của GV về sự phát triển năng lực GQVĐ của HS qua
BKQS
Bảng 3.3. Kết quả tự đánh giá của HS về sự phát triển năng lực GQVĐ
Bảng 3.4. Bảng thống kê điểm bài kiểm tra của các lớp
Bảng 3.5. Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra
Bảng 3.6. Bảng phân phối tần suất
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần suất tích luỹ
Bảng 3.8. Bảng phân loại học lực của HS
Bảng 3.9. Bảng tổng hợp các tham số

55

DANH MỤC CÁC HÌNH

66

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nhân loại bước vào thế kỉ 21, xu hướng toàn cầu hoá và cách mạng công
nghiệp với nhiều sự căng thẳng phổ biến, thì một trong những chìa khoá để vượt
qua những thách thức của thế kỉ mới là tri thức. Điều đó đòi hỏi nền giáo dục phải
đào tạo ra những con người có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập
cũng như trong thực tiễn cuộc sống. Hình thành và bồi dưỡng năng lực phát hiện và
giải quyết vấn đề trở thành yêu cầu cấp bách của tất cả các quốc gia, các tổ chức
giáo dục và các doanh nghiệp.
Trong đổi mới giáo dục, ở hầu khắp các nước trên thế giới, người ta rất quan
tâm đến bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua
các môn học, thể hiện đặc biệt rõ nét ở trong quan điểm trình bày kiến thức và
phương pháp dạy học thông qua chương trình sách giáo khoa.
Tiến sĩ Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng ở Ấn Độ, chuyên gia giáo dục
nhiều năm ở UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Để đáp
ứng được những đòi hỏi mới được đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo ra
kiến thức mới, cần thiết phải phát triển năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề một cách sáng tạo…Các năng lực này có thể qui gọn là “năng lực phát
hiện và giải quyết vấn đề”.
Ở Việt Nam, các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư khóa VII (1993), lần thứ hai
khóa VIII (1997) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Luật
Giáo dục đã nêu rõ: “Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục hướng vào người
học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách
năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông.
Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng năng lực tư duy sáng
tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Năng lực đầu tiên trong bốn năng lực cơ bản mà
“mẫu người” tương lai cần có chính là “năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề nảy
sinh trong cuộc sống, khoa học công nghệ…”. GS-TSKH Thái Duy Tuyên khi bàn
về mục tiêu và phương pháp bồi dưỡng con người Việt Nam trong điều kiện mới đã

7

chỉ ra: “Giáo dục không chỉ đào tạo con người có năng lực tuân thủ, mà chủ yếu là
những con người có năng lực sáng tạo,… biết cách đặt vấn đề, nghiên cứu và giải
quyết vấn đề…”. Các dự án phát triển Giáo dục tiểu học, THCS và THPT ở nước ta
hiện nay đang được thực hiện đổi mới Giáo dục theo định hướng trên.
Trong đổi mới nội dung, đổi mới chương trình đang thực hiện ở nhà trường
phổ thông, có rất nhiều vấn đề phát sinh, những đòi hỏi cấp bách trong những hoàn
cảnh mới. Những nội dung kiến thức, bài tập của hôm nay, ngày mai sẽ có thể
không phù hợp nữa. Khối lượng kiến thức thì phong phú, nội dung, chương trình
liên tục thay đổi, làm sao có thể nhồi nhét hết vào trong đầu học sinh. Hơn nữa, xét
thực trạng dạy học ở trường phổ thông hiện nay, GS. Nguyễn Cảnh Toàn viết: “...
Kiến thức, tư duy, tính cách con ngườichính là mục tiêu của giáo dục. Thế nhưng,
hiện nay trong nhà trường, tư duy và tính cách bị chìm đi trong kiến thức...”, nhà
Toán học Hoàng Tuỵ cho rằng: “...Ta còn chuộng cách nhồi nhét, luyện trí nhớ, dạy
mẹo vặt để giảicác bài toán oái oăm, giả tạo, chẳng giúp ích gì mấy cho việc phát
triển trí tuệ mà còn làm cho học sinh xa rời thực tế, mệt mỏi và chán nản...”. Do đó,
thay vì việc dạy nhồi nhét, luyện nhớ, chúng ta hãy góp phần phát triển cho học sinh
cách phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy cho học sinh cách học. Môn Vật lý cũng
nằm trong xu hướng đó. Mà dạy học Vật lý vừa tạo ra cơ hội thuận lợi, vừa đòi hỏi
phát triển những biện pháp sư phạm thích hợp để hình thành và phát triển năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh.
Trong quá trình dạy học vật lí bài tập vật lý (BTVL) một giữ một vị trí quan
trọng bởi vì có thể sử dụng BTVL như một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến
thức, lí thuyết đã học một cách sinh động và có hiệu quả. BTVL còn giúp rèn luyện
cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn, rèn luyện cho HS tinh
thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt khó…Ngoài ra ta còn có thể
dùng nó như một phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh,
phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS. Tuy nhiên các nghiên cứu thực tiễn về
bài tập trong dạy học đã rút ra những hạn chế của văn hoá bài tập truyền thống như
sau: Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường là các bài

8

tập đóng; thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang các vấn đề
chưa biết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống; kiểm tra thành tích, chú
trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn; quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự
kết nối giữa cái đã biết và cái mới; thành tích kém ở các nội dung học ở thời gian
trước; tính tích luỹ của việc học không được lưu ý đến đầy đủ. Bởi vậy, rất cần có
một sự lựa chọn, phân loại, sắp xếp lại các bài tập theo một hệ thống tối ưu nhằm
phát triển năng lực của HS.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Xây dựng và sử dụng bài tập vật
lí theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học
chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” -Vật lí 10.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập vật lí theo hướng bồi dưỡng năng lực
giải quyết vấn đề trong dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” –
Vật lí 10.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông Việt Nam.
3.2. Đôi tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực GQVĐ của học sinh chương
“Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể”- Vật lí 10.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình sử dụng hệ thống bài tập vật lí theo hướng bồi
dưỡng năng lực GQVĐ và vận dụng quy trình đó vào dạy học chương “Chất rắn và
chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT thì sẽ phát triển năng lực giải quyết vấn
đề cho học sinh qua đó nâng cao chất lượng dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

9

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng BTVL theo hướng phát
triển năng lực học sinh, bồi dưỡng năng lực GQVĐ của HS.
- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể”
-Vật lí 10 nhằm bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho học sinh.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của đề tài.
- Xử lí số liệu để đánh giá tính khả thi của đề tài.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Chỉ nghiên cứu về cách xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng bồi
dưỡng năng lực GQVĐ của học sinh trong chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự
chuyển thể” – Vật lí 10 THPT.
- Về địa bàn: Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Nguyễn Tất Thành – tỉnh
Quảng Ninh.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Nghiên cứu các tài liệu giáo dục, tâm lí học, phương pháp dạy học môn Vật
lí có liên quan đến đề tài.
+ Tìm hiểu, phân tích nội dung chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, sách
tham khảo dành cho giáo viên Vật lí 10.
- Phương pháp điều tra, quan sát:
+ Tìm hiểu thực trạng về việc dạy học, giải bài tập theo hướng bồi dưỡng năng
lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chương “Chất rắnvà chất
lỏng. Sự chuyển thể”-Vật lí 10.
+ Dự giờ quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trước và sau
khi thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm giảng dạy một số giáo án
biên soạn theo hướng của đề tài nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê và phân tích kết quả thực nghiệm
sư phạm.
8. Cấu trúc của luận văn
10

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập vật
lí theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề.
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương “Chất rắn và chất
lỏng. Sự chuyển thể” - Vật lí 10 THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết
vấn đề của học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Góp phần làm rõ các thành tố của năng lực giải quyết vấn đề
của HS trong dạy học chương: Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể - Vật lí 10.
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng hệ thống các bài tập vật lí hỗ trợ bồi dưỡng cho
học sinh năng lực GQVĐ trong dạy học chương: Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển
thể - Vật lí 10.

11

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP VẬT LÍ THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ
1.1. Khái niệm về năng lực và vấn đề phát triển năng lực của học sinh
1.1.1. Khái niệm về năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là
tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc
trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt
trong lĩnh vực hoạt động ấy” [15, tr.11].
Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động
có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [17, tr.11].
F.E.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được
hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn
sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách
có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [18, tr.12].
“Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh
nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá
nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,….Năng lực của cá nhân được đánh giá qua
phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của
cuộc sống” [2, tr.5].
Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm: “Năng lực là sự tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý
chí,…để thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong bôi cảnh nhất định”.
Một cách cụ thể hơn, năng lực là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và
có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…để
thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
12