Tải bản đầy đủ
- Một lớp học có nhiều học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) giao tiếp chưa tốt thì trong đó có trách nhiệm rất lớn thuộc về giáo viên chủ nhiệm. Người giáo viên phải luôn luôn bên cạnh các em, luôn là nguồn động viên, khuyến khích cổ vũ, hướng dẫn các em nói

- Một lớp học có nhiều học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) giao tiếp chưa tốt thì trong đó có trách nhiệm rất lớn thuộc về giáo viên chủ nhiệm. Người giáo viên phải luôn luôn bên cạnh các em, luôn là nguồn động viên, khuyến khích cổ vũ, hướng dẫn các em nói

Tải bản đầy đủ

- Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy khi các em gặp “vấn đề” trong giao tiếp thì phần
nhiều còn giáo viên chưa khéo léo, chưa tận tình hướng dẫn các em nói đúng
hơn về ngôn ngữ lẫn nội dung giao tiếp. Những em học TDTS ít nói, ngại giao
tiếp, khó khăn trong giao tiếp, trong giờ học không xây dựng bài… một số giáo
viên liền liệt kê các em đó vào loại học sinh “lầm lì”, “khó bảo”, “tự kỉ”… các
em dần bị lãng quên trong lớp, nhất là trong các cuộc giao tiếp, các hoạt động
tập thể. Như vậy cả giáo viên và học sinh trong lớp thường không quan tâm đến
sự tiến bộ của các em, vô tình đã đẩy em co mình lại, lạc lỏng trong hoạt động
học tập và vui chơi của lớp.
- Bên cạnh đó phụ huynh chỉ khuyến khích cho con học giỏi kiến thức mà quên
hướng cho con em mình phát triển kĩ năng thực hành xã hội, trong đó có kĩ năng
giao tiếp, rồi ngay cả cách xưng hô không chuẩn mực trong giao tiếp của các
thành viên trong gia đình cũng làm cho trẻ bắt chước xưng hô thiếu thiện cảm.
2. Thực trạng giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số lớp 2A
- Năm học 2016-2017, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 2A, tổng
số học sinh 28 em, có 18 học sinh nam và 10 học sinh nữ. Trong đó học sinh dân
tộc thiểu số là 21 em = 75%. (Chủ yếu là dân tộc Thái).
- Phần lớn các em đều ngoan ngoãn, chăm chỉ, thật thà. Các em hiểu được nỗi
vất vả của cha mẹ nên cũng sớm có ý thức tự lập và mong muốn học tập để
vươn lên. Tuy nhiên phần lớn học sinh DTTS là con gia đình gặp khó khăn về
kinh tế, trình độ dân trí còn hạn chế, cha mẹ đi làm nương rẫy cả ngày nên ít
được tiếp xúc với người Kinh, ít tham gia vào các hoạt động ngoại khóa nên sự
mạnh dạn khi hoạt động với bạn bè là chưa có.
- Đa phần các em học sinh DTTS lớp 2A còn sợ sệt, nhút nhát, ngại giao tiếp,
nói năng cộc lốc… Có một số em có lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy, tuy
nhiên, chưa thể hiện được lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét. Bên
cạnh đó có em lại hạn chế về phát âm như nói ngọng, hở hàm ếch bẩm sinh. Vì
vậy việc gặp khó khăn trong giao tiếp phần nào dẫn đến kết quả học tập của
không ít em chưa cao.

7

- Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt của học sinh DTTS nói chung, lớp 2A
nói riêng rất hạn hẹp và không thuần nhất: Trong khi học sinh bình thường
được học tập, giao tiếp trong môi trường thuần tiếng Việt thì môi trường
giao tiếp của các em DTTS hết sức hạn hẹp và thiếu tính tích cực. Ở trường,
khi học trên lớp, chủ yếu các em được nghe cô giáo giảng bài bằng tiếng
Việt, được luyện đọc nhưng không hiểu nội dung bài đọc; được luyện viết
nhưng chỉ luyện để viết đúng con chữ mà không thể viết thành bài văn hoàn
chỉnh được. Còn khi ra chơi, các em lại nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Về
với gia đình và cộng đồng, các em lại sống trong môi trường thuần tiếng dân
tộc, vốn tiếng Việt tạm thời bị chìm vào dạng tiềm năng, mỗi ngày các em
chỉ sử dụng tiếng Việt trong khoảng thời gian hạn hẹp trong môi trường học
tập. Đó chính là nguyên nhân, là rào cản lớn nhất của sự hình thành kỹ năng
sử dụng tiếng Việt của các em DTTS.
Thiết nghĩ để rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh DTTS đòi hỏi người giáo viên
phải áp dụng nhiều biện pháp, hình thức tổ chức, cần sự kiên trì tỉ mỉ bằng
những câu nói, hành động, việc làm của giáo viên, bạn bè, của tập thể lớp, của
cả cộng đồng. Quá trình đó cũng không phải diễn ra trong một hai ngày mà là
quá trình tác động lâu dài, thường xuyên, liên tục. Xuất phát từ điều đó tôi đưa
ra một số biện pháp sau để nhằm rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh DTTS lớp
tôi.

8

III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Giải pháp 1: Phân loại khả năng giao tiếp của sinh dân tộc thiểu số ở lớp 2A.
Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua tiếp cận, giảng dạy tôi đã bắt đầu
theo dõi và phân loại học sinh theo các nhóm sau:
- Nhóm học sinh DTTS có lời nói lưu loát, đọc trôi chảy mạch lạc, biết thể hiện
lời nói biểu cảm trong giao tiếp (Vi Việt Anh, Lương Thanh Phương, Hà Thu
Uyên).
- Nhóm học sinh DTTS có lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy. Tuy nhiên, chưa
thể hiện được lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét (Vi Hùng,
Lương Văn Khoa, Hà Châu, Hà Triệu Vy, Hà Hải Hoàn).
- Nhóm học sinh DTTS còn sợ sệt, nhút nhát, ngại giao tiếp, nói năng cộc
lốc… hầu như không biết sử dụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp (Hà Tuấn
Vũ, Lô Châu, Đinh Quyền, Lương Khánh, Hà Ngọc Uyên, Lò Thanh Phong,
Lương Tuấn, Đậu Tuấn ….)
- Nhóm học sinh DTTS có hạn chế về phát âm: Nói ngọng (Lương Văn Minh,
Hà Ngọc Vũ), hở hàm ếch bẩm sinh (Hà Minh Nhất), các em phát âm khó
khăn, nói chưa đúng chính tả.
Sau khi phân tích đặc điểm cũng như giao tiếp của từng học sinh, trong các tiết
học hoạt động nhóm tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân
bố đều khắp 4 đối tượng học sinh nêu trên trong các nhóm, học sinh người
dân tộc Kinh xếp lẫn cùng HSDTTS, các em tương trợ lẫn nhau trong quá
trình học tập là một việc làm hết sức bổ ích như câu tục ngữ “Học thầy
không tày học bạn”. Nghe thầy - đua bạn sẽ giúp các em mạnh dạn, năng
động hơn rất nhiều trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói. Sự giúp đỡ động
viên của các bạn trong lớp, trong nhóm sẽ khích lệ, hỗ trợ các em tự tin hơn
trước lời phát biểu của mình.
Giải pháp 2: Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện, lành mạnh:
1.2, Tạo sự gần gũi, thân thiện trong giao tiếp:
- Khi mà nơi: “Trường học thực sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em, các
thầy cô là những người thân trong gia đình”; hay “Mẹ của em ở trường là cô
giáo mến thương” thì khi đó trường học thật sự là nơi các em hàng ngày muốn
đến, để thực sự “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.

9

- Tôi luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh
mắng hoặc dùng lời lẽ thiếu tôn trọng với các em. Thông qua cử chỉ, lời nói,
ánh mắt, nụ cười mỗi buổi đến lớp tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn là nơi để
các em có thể bày tỏ những khó khăn trong giao tiếp, trong học tập, trong
cuộc sống của bản thân mình. Vì tôi hiểu “Chỉ có tấm lòng mới đánh thức
được tấm lòng”.

Cô trò cùng nhau vui vẻ trong học tập và vui chơi.

- Bản thân là người dân tộc Kinh, không biết giao tiếp bằng tiếng TDTS, nhưng
do công tác và chung sống ở địa phương lâu năm nên phần nào tôi hiểu cách
sinh hoạt, tập quán người DTTS ở địa phương.
- Tôi cố gắng đi sớm hơn để cô và trò thường xuyên hỏi han, cùng chơi các trò
chơi với các em, trao đổi, trò truyện, những vấn đề trong học tập cũng như trong
cuộc sống hằng ngày bằng tiếng Việt, từ đó đã tạo nên sự gần gũi giữa cô và trò
cũng như rèn thêm cho học sinh sự mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Cũng từ
10