Tải bản đầy đủ
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY CHUYỂN ĐỔI ĐƠN VỊ ĐO CÁC ĐẠI LƯỢNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG VỆ 2.

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY CHUYỂN ĐỔI ĐƠN VỊ ĐO CÁC ĐẠI LƯỢNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG VỆ 2.

Tải bản đầy đủ

giáo viên đều nắm được nội dung, mục đích của tiết dạy và vận dụng tương
đối linh hoạt các phương pháp dạy học.
b. Tồn tại:
Bên cạnh những ưu điểm của giáo viên như tôi trình bày ở trên. Khi dạy học chuyển đổi đơn vị đo các đại lượng một số giáo viên còn lúng túng,
hướng dẫn học sinh viết các số đo dưới dạng số thập phân chưa rành mạch, cụ
thể, chưa rèn cho học sinh kĩ năng khi chuyển đổi đơn vị đo….. Chính vậy,
hiệu quả giáo dục còn chưa đảm bảo, chưa phát huy hết khả năng sáng tạo
của học sinh.
2.2. Về phía học sinh :
a. Ưu điểm:
Trong quá trình giảng dạy trên lớp, kiểm tra bài tập học sinh làm kết hợp
với bài kiểm tra tôi thấy đa số học sinh nắm vững:
- Thứ tự đơn vị đo các đại lượng trong bảng.
- Mối quan hệ giữa hai đơn vị đo kề liền.
- Cách chuyển đổi đơn vị đo độ dài, khối lượng, diện tích ở mức độ đơn
giản.
b. Tồn tại:
Khi làm các bài tập về đổi đơn vị đo lường, đặc biệt là đơn vị đo diện tích,
thể tích, thời gian học sinh còn lúng túng, thường thiếu chữ số ở phần thập
phân hàng liền với phần nguyên hoặc chưa chuyển dịch dấu phẩy đủ các chữ
số tương ứng, hay sai khi chuyển đổi các đơn vị đo không kề liền.
Một số học sinh học tập một cách thụ động, ghi nhớ một cách máy móc.
Giờ lên lớp, chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ và làm theo mẫu cho nên việc học
tập ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn.
2.3. Kết quả điều tra và khảo sát thực tế
Cuối năm học 2015- 2016, sau khi học sinh lớp 5 học xong mạch nội
dung về “ Đại lượng và đo đại lượng’’ tôi đã cho các em làm một bài kiểm tra
để kiểm tra thực tế chất lượng khi học xong phần toán này. Đề bài là những
dạng bài trong sách giáo khoa mà các em đã được học, tuy vậy nhiều em học
sinh bài làm không đạt điểm cao, làm sai, lầm lẫn giữa đơn vị nọ với đơn vị
kia, viết số đo dưới dạng số thập phân nhiều câu chưa chính xác.
6

Đây là kết quả khảo sát chất lượng cuối năm học 2015 –2016
Tổng số
25 bài

Điểm 9 - 10
SL
6 bài

Điểm 7 - 8

Tỉ lệ SL
24 %

6 bài

Điểm 5 - 6

Điểm 3 - 4

Tỉ lệ

SL

SL

Tỉ lệ

24 %

11bài 44 %

2 bài

8%

Tỉ lệ

Phân tích kết quả : Nhìn vào bảng trên, ta thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm 910 chưa nhiều, học sinh đạt điểm 3 - 4 vẫn còn. Thống kê các lỗi sai mà học
sinh thường mắc phải trong nhiều năm học và năm học vừa qua tôi thấy:
Những khó khăn và sai lầm mà học sinh hay mắc phải khi chuyển đổi
đơn vị đo các đại lượng trong chương trình toán 5 :
Thực tế trong khi hướng dẫn học sinh chuyển đổi đơn vị đo các đại lượng
học sinh còn lúng túng, dễ quên cách chuyển đổi, lẫn đơn vị nọ với đơn vị kia,
giữa dạng này với dạng khác.
- Học sinh không nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị đo của một đại
lượng, đặc biệt là đơn vị đo diện tích, thể tích và thời gian.
Ví dụ : Học sinh thường mắc sai lầm khi viết : 37 m2 5 dm2 = 375 dm2
15m2 9cm2 = 1509 cm2 ; 2 phút 15 giây = 215 giây,…
-Học sinh dễ mắc sai lầm khi coi mối liên hệ giữa các đơn vị đo thời gian
giống như trong hệ thập phân.
Ví dụ: 5 giờ 30 phút + 2,5 giờ, học sinh có thể làm như sau :
5 giờ 30 phút = 5,3 giờ và tính : 5,3 giờ + 2,5 giờ = 7,8 giờ .
-Không hiểu thế nào là 2,5 giờ và 2,5 giờ bằng bao nhiêu giờ và bao
nhiêu phút, do đó không tính đúng kết quả.
- Một số học sinh quên mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian nên trong
các phép tính đối với số đo thời gian làm sai. Ví dụ : 1 ngày = 60 giờ
- Trong khi thực hiện đổi đơn vị đo các đại lượng do việc xác định mối
quan hệ giữa các đơn vị đo đại lượng không chính xác dẫn đến sai sót trong
các trường hợp phải thêm – bớt chữ số 0 hoặc dịch chuyển dấu phẩy trong các
số đo.
Ví dụ : Viết số thích hợp vào chỗ chấm :
2kg 6g = … g ; 3m2 29cm2 =…cm2

; 25cm2 = ...,… dm2
7

Học sinh có thể viết thành :
2kg 6g = 26 g ;

3m2 29 cm2 = 329 cm2 ; 25cm2 = 2,5dm2

-Học sinh nhầm lẫn khi chuyển đổi : 7 tạ 5 kg = …kg với 7,5 tạ =…kg
Học sinh có thể viết: 7 tạ 5 kg = 75 kg
7,5 tạ =75kg
Hay : 5 km2 25 m2 =….m2 với 5,25 km2 =…….m2
- Khi chuyển đổi các đơn vị đo diện tích và thể tích học sinh thường thiếu
chữ số ở phần thập phân hàng liền với phần nguyên hoặc chưa chuyển
dịch dấu phẩy đủ các chữ số tương ứng.
Ví dụ: 17m2 345cm2 = ………m2
Nhiều học sinh làm : 17m2 345cm2 =17,345m2
hoặc 17m2 345cm2 = 173,45m2
Với những khó khăn học sinh gặp phải trong quá trình chuyển đổi đơn vị
đo các đại lượng, tôi băn khoăn và tự đặt ra cho mình phải tìm ra những giải
pháp để giúp học sinh nắm vững các đơn vị đo đại lượng, cách chuyển đổi
đơn vị đo một cách thành thạo. Bắt đầu từ năm học 2016 –2017 tôi đi nghiên
cứu về mạch kiến thức Đại lượng và các đơn vị đo đại lượng, đi sâu về chuyển
đổi các đơn vị đo. Vừa nghiên cứu, vừa áp dụng trong giảng dạy thực tế, dạy
học theo hướng đổi mới, đi sâu vào phần toán chuyển đổi đơn vị đo các đại
lượng. Chính vì vậy, chất lượng đã có chuyển biến rõ rệt, học sinh nắm vững
kiến thức hơn, ham học hơn.
3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN KHI DẠY CHO HỌC SINH
CÁCH CHUYỂN ĐỔI ĐƠN VỊ ĐO CÁC ĐẠI LƯỢNG Ở LỚP 5
Nghiên cứu các kiến thức trong nội dung đo lường ở tiểu học từ lớp 1
đến lớp 5 cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, tôi đã phân loại
được các bài tập về đổi đơn vị đo.
3.1. Phân loại các dạng bài chuyển đổi đơn vị đo các đại lượng ở lớp 5:
Dạng 1 : Đổi số đo đại lượng có một tên đơn vị đo sang số đo có một
tên đơn vị khác .
-Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé.
Ví dụ : 3 tạ =…..kg ; 2m2 = ……cm2
-Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn.
8

Ví dụ: 2345kg = ……tấn ; 34dm3 = ……m3
Dạng 2 : Đổi số đo đại lượng có hai tên đơn vị sang số đo có một tên
đơn vị và ngược lại.
Ví dụ:

4km 35m = ……km

90 phút= …..giờ…phút

3.2. Cách hướng dẫn học sinh chuyển đổi đơn vị đo các đại lượng cụ thể
như sau:
Ở mỗi dạng toán, tôi phải hướng dẫn kĩ cho học sinh các kiến thức cần
nhớ. Đối với từng đối tượng học sinh cần ra các bài tập phù hợp, ngoài các bài
tập trong sách giáo khoa tôi đưa thêm một số bài tập nâng cao để bồi dưỡng
học sinh có năng khiếu. Tôi lấy thêm các ví dụ để phân tích cho học sinh hiểu
rõ vấn đề. Nhiều bài khó cho học sinh thảo luận với nhau để tìm ra đáp số
đúng. Điều cần thiết là giáo viên phải chấm chữa bài thường xuyên để kiểm
tra kiến thức của các em, bổ sung những phần thiếu sót và sai lầm đúng lúc,
đúng chỗ. Dành thời gian ôn luyện cho các em vào các buổi tăng tiết, trong
các giờ luyện tập .
Ở các lớp trước, các số đo đại lượng thường là số tự nhiên. Đến lớp 5,
các số đo đại lượng thường là số thập phân. Do đó việc chuyển đổi các đơn vị
đo đại lượng có khó khăn hơn. Vì vậy trước khi học “chuyển đổi’’ đơn vị đo
cần cho học sinh cách viết số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời
gian dưới dạng số thập phân.
Đặc biệt là phải nắm vững các “bảng đơn vị đo đại lượng’’ trước khi
thực hiện việc chuyển đổi các đơn vị đo .

a. Dạng 1 : Đổi số đo đại lượng có một tên đơn vị đo sang số đo có
một tên đơn vị khác.
Cơ sở của việc đổi đơn vị đo là mối tương quan tỉ lệ nghịch giữa số đo và
đơn vị đo : “ Với cùng một giá trị của đại lượng, khi đơn vị đo tăng lên ( hoặc
giảm đi) bao nhiêu lần thì số đo sẽ giảm đi ( hoặc tăng lên ) bấy nhiêu lần’’
Khi dạy dạng bài tập này trước tiên tôi yêu cầu học sinh phải nắm chắc
mối quan hệ giữa các đơn vị đo, mỗi khi đổi cần nhắc lại mối quan hệ các đơn
vị và tập chuyển theo hai chiều ( từ đơn vị lớn ra đơn vị bé và ngược lại ).
Ví dụ 1 : 7 tạ = ….kg
Với ví dụ này, tôi để học sinh tự làm nêu mối quan hệ của hai đơn vị đo
sau đó chốt kiến thức bằng cách học sinh nêu cách làm:
9