Tải bản đầy đủ
II. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU

II. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU

Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
- GV ghi bảng:

Vận tốc của ô tô là: 170 : 4 = 42,5 (km/giờ)

- GV nhấn mạnh đơn vị của vận tốc (ở ví dụ này) là km/giờ.
+ Muốn tính vận tốc của một chuyển động ta làm như thế nào? (Lấy quãng đường
đi được chia cho thời gian)
+ Nếu quãng đường là S, thời gian là t, vận tốc là v. Em hãy viết biểu thức tính
vận tốc?
v=S:t
- GV gọi một số HS nhắc lại cách tìm vận tốc và biểu thức tính vận tốc.
+ Em hãy cho biết vận tốc người đi bộ, xe đạp, xe máy, ô tô?
- HS nêu - GV sửa lại cho đúng với thực tế.
* GV kết luận: Vận tốc là để xác định độ nhanh hay chậm của chuyển động.
b. Bài toán: GV nêu bài toán, HS suy nghĩ giải bài toán.
- 1 HS trình bày bảng lời giải bài toán - Lớp làm vở cá nhân
Bài giải: Vận tốc chạy của người đó là:
60 : 10 = 6 (m/giây)
Đáp số: 6 m/giây
+ Đơn vị của vận tốc trong bài toán này là gì? (m/giây)
* GV kết luận: Đơn vị của vận tốc là đơn vị của quãng đường trên đơn vị thời gian mà
chuyển động sử dụng như: km/ giờ; m/giây.
- GV gọi 2 HS nhắc lại cách tính vận tốc và biểu thức tính vận tốc.
Hoạt động 3 (18’): Luyện tập - Thực hành
Bài 1 (139): Rèn kỹ năng tính vận tốc.
+ Bài tập yêu cầu em làm gì ? (Tính vận tốc của người đi xe máy biết quãng
đường và thời gian.)
- HS làm bài cá nhân - Đọc kết quả - HS khác nhận xét - GV công nhận
Tóm tắt
Bài giải
S: 105 km
Vận tốc của người đi xe máy là:
t: 3 giờ
105 : 3 = 35 (km/giờ)
v: .... km/giờ?
Đáp số: 35 km/giờ
- GV lưu ý HS đơn vị của vận tốc và cách trình bày.
Bài 2 (139): Rèn kỹ năng tính vận tốc.
+ Muốn tìm vận tốc ta làm như thế nào?
- HS làm bài cá nhân - Đọc kết quả - HS khác nhận xét - GV công nhận
Tóm tắt
S: 1 800 km
t: 2,5 giờ
v: .... km/giờ?

Bài giải
Vận tốc của máy bay là:
1 800 : 2,5 = 720 (km/giờ)
Đáp số: 720 km/giờ

+ Đơn vị của vận tốc được tính như thế nào?
Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

17

phút

TIỂU
Một số biện pháp giúp học sinh giảiGtoán
có lời văn lớp 5
HỌC
Bài 3 (139): (HS hoàn thành) - HS nêu cách làm bài - HS nhận xét - HS làm cá nhân.
ĐÔNG
- GV gợi ý: Đổi thời gian về một đơn HƯƠN
vị tính
Bài giải:
Đổi: 1 phút 20 giây =G80 giây
Vận tốc của người đó là: ----400 : 80 = 5 (m/giây)
Đáp
số: ----5 m/giây.
Hoạt động nối tiếp (2’): - Nhắc HS phút
ghi nhớ công thức quy tắc tính vận tốc
- Hoàn thành bài tập còn thiếu.
Sau tiết dạy thứ 2, tôi có tổ chức điều tra kết quả tiếp thu bài của HS, đúc rút kinh
nghiệm và có biện pháp bổ sung điều chỉnh kịp thời. Cuối giai đoạn, tôi ra đề kiểm tra,
đánh giá. Cụ thể như sau:
Sau khi dạy bài “Vận tốc” tôi đã ra đề kiểm tra 20 phút để cả lớp cũng làm với đề
bài sau:
Bài 1: Bạn Hoa đi bộ từ nhà đến trường là 900m hết 36 phút. Tính vận tốc của bạn
Hoa? ( theo đơn vị km/giờ ).
Bài 2: Một ca nô đi từ 7 giờ 45 phút đến 9 giờ được quãng đường 30 km. Tính vận
tốc của ca nô?
+ Tôi chấm 10 học sinh được chọn khảo sát đầu năm của lớp 5A do tôi chủ nhiệm
và trực tiếp áp dụng phương pháp của đề tài và 10 học sinh lớp 5B Với thời gian kiểm
tra là 20 phút.
Kết quả thu được:
Hoàn thành tốt

Lớp

Số HS dự
kiểm tra

5A

10 em

4

40%

5B

10 em

2

20%

Số lượng Tỉ lệ

Hoàn thành
Số lượng

Chưa hoàn thành

Tỉ lệ Số lượng

Tỉ lệ

1

10%

5

50%

2

20%

6

60%

Ghi chú

+ Giữa kì 2: Tôi tiến hành các phương pháp kiểm tra sau đây:
Phương pháp vấn đáp kiểm tra:
Cách tiến hành: Ra đề bài chung cho hai lớp.
Đề bài: Ong mật có thể bay với vận tốc 8km/ giờ. Tính quãng đường bay được
của ong mật trong 18 phút?
+ Em hãy cho biết đây là dạng toán gì?
+ Em căn cứ vào những cơ sở nào để nhận ra dạng toán này?
Tôi nhận thấy: HS lớp 5A, 79,4 % trả lời các câu hỏi nêu trên nhanh, rõ, đúng.
Còn HS lớp 5B phần lớn chỉ trả lời được câu hỏi thứ nhất, chỉ có 58,6 % trả lời được 2
câu hỏi.
Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

18

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
Phương pháp kiểm tra viết trên giấy
Cách tiến hành:
* Đề bài chung cho cả hai lớp. Lấy 20 em theo thứ tự lẻ từ 1 đến 39 trong sổ gọi
tên và ghi điểm của lớp đó.
Đề kiểm tra toán giữa kì II
(Thời gian 30 phút)
Bài 1: Đặt và giải bài toán theo tóm tắt:
S: 135km; vA: 36km/ giờ; vB: 54km/ giờ.
a) tgặp: …. giờ ?
b) SA: ….. km ?;

SB: ….. km ?

Bài 2: Một bể cá dạng hình hộp chữ nhật, có chiều dài 1m, chiều rộng 0,6m và chiều
cao 0,9m. Người ta đổ nước vào

2
thể tích của bể. Tính số lít nước đổ vào bể? (biết
3

rằng 1 lít = 1 dm3)
CÁCH ĐÁNH GIÁ: Toàn bộ bài kiểm tra: 10 điểm
Bài 1: (6 điểm)
- Đặt đề bài đúng yêu cầu, gọn, rõ, có tính thực tế, lời văn trong sáng: 3 điểm.
(Nếu lời văn không phù hợp trừ đi:

1 điểm)

- Giải đúng, có lời giải phù hợp với phép tính:

3 điểm

- Các trường hợp làm sai không cho điểm.
Bài 2: (4 điểm)
- Đúng tóm tắt:

1 điểm

- Đúng câu giải và phép tính:

2,5 điểm

- Ghi đúng đáp số:

0,5 điểm

(Chú ý: Trừ 0,5 điểm chữ viết và cách trình bày cho những bài quá xấu.)
Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Lớp

Số HS dự
kiểm tra

5A

20 em

14

70%

6

30%

0

5B

20 em

8

40%

10

50%

2

Số lượng Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ Số lượng

Tỉ lệ

Ghi chú

10%

Ơ

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

19

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
* Đối chiếu, phân tích, so sánh kết quả:
Qua bảng thống kê kết quả trên đây, tôi thấy rõ ưu điểm hơn hẳn của phương pháp
dạy học giúp học sinh nhận dạng đúng, giải nhanh bài toán có lời văn trong đề tài đã chọn.
Lớp 5A có tỉ lệ HS Hoàn thành (mức 1, 2) cao hơn lớp 5B vì ở lớp 5B học sinh chưa
được mở rộng, củng cố, rèn luyện kĩ năng nhận dạng, đặt câu giải và giải bài toán.
Trong quá trình dạy học, xuất phát từ cơ sở lý luận và hiệu quả giảng dạy ở nhà
trường, tôi đã áp dụng phương pháp này vào quá trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp
5A trường tiểu học Đông Hương - Thành phố Thanh Hóa đã thu được kết quả như sau:
Xếp loại
Thời gian
Giữa kỳ I (39 em)

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

15

22

2

38,5 %

56,4%

5,1%

20

19

0

Tỷ lệ

51,3 %

48,7 %

Giữa kỳ II (39 em)

24

15

Tỷ lệ

61,6%

38,4 %

Tỷ lệ
Cuối kỳ I (39 em)

Ghi chú

0

Với kết quả trên cho thấy việc đưa phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung
tâm, vai trò giáo viên là người hướng dẫn đã mang lại kết quả khá tốt. Đa số học sinh của
lớp hiểu được cách giải toán và biết tự trình bày bài toán một cách hợp lý, đặc biệt
phương pháp này còn giúp khắc phục được việc hạ thấp chất lượng tỷ lệ học sinh chưa
hoàn thành.

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

20

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
C. KẾT LUẬN_KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Dạy học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, giải toán là một việc
làm quan trọng trong chương trình toán Tiểu học. Nó được kết hợp chặt chẽ với các nội
dung của kiến thức về số học, về số tự nhiên, là một trong những nội dung quan trọng làm
cơ sở cho việc tính toán, làm nền tảng kiến thức suốt quá trình học toán ở bậc tiểu học của
các em. Nội dung này khó và có liên quan nhiều đến các loại toán khác mà các em sẽ dần
học được ở các lớp sau này.
Giải toán là một hoạt động khó khăn, phức tạp đối với học sinh. Nó đòi hỏi học sinh
phải phát huy trí tuệ một cách tích cực, linh hoạt, chủ động và sáng tạo. Đồng thời, qua việc
giải toán của học sinh, giáo viên dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm giúp các em phát huy
và nhược điểm giúp các em khắc phục.
Dạy giải toán góp phần vào việc rèn luyện năng lực tư duy và những đức tính tốt
đẹp của người lao động mới.
Nhận dạng đúng, tìm phương pháp giải phù hợp và chính xác bài toán là một yêu
cầu không thể thiếu trong giải toán. Nếu giáo viên không tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo để
tìm ra những phương pháp và nội dung dạy học có tính chất đào sâu, mở rộng kiến thức
đã học phù hợp với học sinh thì bài dạy của giáo viên không phát huy được tác dụng
trong quá trình học tập của học sinh.
Qua nghiên cứu, tuy số lượng bài tập dành cho dạng toán này không nhiều nhưng
sự vận dụng lại rất lâu dài ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, nếu các em được hướng
dẫn cặn kẽ để nhận dạng nhanh, giải đúng sẽ thuận lợi cho các em sau này trong học tập
cũng như cuộc sống.
Tóm lại: Phân biệt và giải toán là rất cần thiết trong việc dạy học toán. Vì vậy mỗi
giáo viên phải trang bị cho mình kiến thức để phân biệt và giải toán một cách khoa học,
chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, từ đó có phương pháp truyền thụ kiến thức cho học
sinh tốt nhất.
II. Kiến nghị
1. Đối với giáo viên
- Giáo viên cần nắm vững kiến thức trọng tâm môn toán của khối, toàn bậc học.
Bởi tôi thiết nghĩ: Để dạy đủ, đúng trọng tâm kiến thức cho học sinh thì bản thân người
giáo viên phải nắm vững kiến thức đó.
- Giáo viên phải chuẩn bị bài thật kĩ trước khi đến lớp, tìm ra các phương pháp đổi
mới phù hợp với bài học, phù hợp với trình độ học sinh. Tạo sự thu hút lôi cuốn học sinh
tập trung nghe giảng, kích thích tư duy sáng tạo, không khí học tập sôi nổi.
- Đối với học sinh chưa hoàn thành, giáo viên cho các em đọc đề bài kết hợp với
luyện đọc từ đó các em hiểu và dễ dàng tóm tắt được bài toán, tìm được cách giải đúng
- Giáo viên cần chú ý nhiều đến kỹ năng nghe - đọc - nói - viết trong môn Tiếng
Việt, bởi chính nó giúp học sinh có kỹ năng giải toán thành thạo. Luyện kỹ năng hỏi - đáp
giúp các em có vốn ngôn ngữ phong phú để các em dễ dàng đặt câu lời giải cho bài toán.
Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

21

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
- Phải cố gắng khắc phục sai lầm của các em trong mỗi bài, mỗi phần, mỗi dạng
toán, tránh để các sai lầm dồn lại khó giải quyết.
- Điều rất quan trọng nữa là sự mềm mỏng kiên trì uốn nắn học sinh của giáo viên
trong mọi lúc của giờ học.
- Giáo viên rèn kĩ năng phân tích từ những bài toán cơ bản cho học sinh làm cơ sở
để giải các bài toán nâng cao.
2. Đối với nhà trường
- Thường xuyên có những cuộc trao đổi về phương pháp giảng dạy toán nói chung
và phương pháp dạy toán điển hình nói riêng ở cấp tiểu học (Lớp 1, 2, 3 là một nhóm; 4 5 là một nhóm), thông qua các cuộc trao đổi này, giáo viên có cơ hội, trao đổi với bạn bè
những điều vướng mắc, băn khoăn về nội dung kiến thức các bài giảng.
3. Đối với học sinh
Cần ý thức được nhiệm vụ học tập, học sinh phải tham gia vào các hoạt động học
tập một cách tích cực, hứng thú và tự tin. Trách nhiệm của học sinh là phát hiện, chiếm
lĩnh và vận dụng. Vì thế các em phải chủ động để đem lại kết quả cao trong học tập.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng và thấy có kết quả. Tuy nhiên đề
tài này cũng không tránh khỏi những sai sót. Với tinh thần thực sự cầu thị, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để đề tài này có tính khả
thi hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Đông Hương, ngày 06 tháng 4 năm 2017

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Hiệu trưởng

Người viết

Nguyễn Thị Hà

Trịnh Thị Phòng

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

22

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5

MỤC LỤC
A. Phần mở đầu

1

1. Lý do chọn đề tài ............................................................

1

2.Đối tượng nghiên cứu ........................................................

1

3. Mục đích nghiên cứu .............................................................

2

4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................

2

B. Phần nội dung

3

I. Cở sở lý luận ............................................................................

3

Mục đích dạy giải toán có lời văn ở lớp 5 …………………

3

Các dạng toán có lời văn lớp 5 ……………………………..

4

II. Thực trạng của vấn đề ....................................................................

5

1. Giáo viên dạy .................................................................

5

2. Học sinh học ..................................................................

5

3. Thực trạng của lớp ...........................................................

6

III. Biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5 .........................

7

Biện pháp 1: Hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc
phép tính, các thuật ngữ .................................................................

7

Biện pháp 2: Tổ chức thực hiện các bước giải toán ….....................

12

Biện pháp 3: Hoạt động hình thành và rèn kĩ năng giải toán .............

13

IV. Kết quả cụ thể .................................................................

14

C. Kết luận_Kiến nghị

20

I. Kết luận ................................................................................

20

II. Kiến nghị ............................................................................

20

1. Đối với giáo viên .........................................................

20

2. Đối với nhà trường .........................................................

21

3. Đối với học sinh .............................................................

21

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

23

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT,
CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên: Trịnh Thị Phòng
Chức vụ đơn vị công tác: Giáo viên_Trường Tiểu học Đông Hương
TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại ( phòng,
sở, Tỉnh ...)

Kết quả Đánh
giá xếp loai
( A,B hoặc C)

Năm học đánh
giá xếp loại

1

Một số biện pháp giúp học sinh
học tốt chương STP lớp 5.

Sở GD

C

2008 - 2009

2

Một số biện pháp giúp học sinh
giải toán lớp 5.

PGD_ĐTTP

A

2009 - 2010

3

Một số biện pháp giúp làm tốt
công tác CN lớp 5.

PGD_ĐTTP

A

2010 - 2011

4

Một số biện pháp giúp học sinh
giải toán lớp 5.

Sở GD

B

2011 - 2012

5

Một số biện pháp giúp học sinh
giải toán lớp 5.

Sở GD

C

2014 - 2015

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đọc và nghiên cứu các tập san giáo dục có liên quan đến đề tài.
2. Tìm hiểu kinh nghiệm dạy học giải toán của đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm
trong trường mình, trường bạn để rút kinh nghiệm.

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

24

Một số biện pháp giúp học sinh giải toán có lời văn lớp 5

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC THÀNH PHỐ

Trịnh Thị Phòng_Tiểu học Đông Hương

25