Tải bản đầy đủ
Trước khi dạy cho các em kĩ năng nhân (chia) với ( cho ) số có hai, ba chữ số thì giáo viên cần xem trong lớp những em nào còn chưa thuộc bảng cửu chương, chưa nhân ( chia ) thành thạo với ( cho ) số có một chữ số hay chưa trừ nhẩm thành thạo thì cần có b

Trước khi dạy cho các em kĩ năng nhân (chia) với ( cho ) số có hai, ba chữ số thì giáo viên cần xem trong lớp những em nào còn chưa thuộc bảng cửu chương, chưa nhân ( chia ) thành thạo với ( cho ) số có một chữ số hay chưa trừ nhẩm thành thạo thì cần có b

Tải bản đầy đủ

8 × 8 = ............
6 × 8 = ............
54 : 9 = ...............
56 : 7 = ............
42 : 7 = ...........
64 : 8 = ................
Bài 2: Đặt tính rồi tính
653 + 46
325 - 36
Bài 3: Đặt tính rồi tính:
123 × 5
762 : 6
Để thực hiện tốt kĩ năng tính ở chương trình Toán 4, học sinh cần
phải làm được các bài tập trên, bởi nếu không thuộc bảng cửu
chương, không trừ nhẩm được hay chưa có kĩ năng nhân ( chia ) với (
cho) số có một chữ số thì hậu quả kéo theo là các em sẽ không thể
nhân (chia) với ( cho ) số có hai, ba chữ số. Hay trước khi dạy các em
các dạng toán có lời văn, cần cho các em làm lại một số dạng toán có
lời văn đã học ở các lớp dưới, để học lại cách phân tích đề bài, cách
tóm tắt, nhớ lại cách giải, rèn kĩ năng tư duy với những bài toán đơn
giản, từ đó bắt vào những dạng Toán phức tạp hơn....
Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình
độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh chưa hoàn thành. Vì
vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh có kết quả học tập chưa tốt môn học
này, cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình. Riêng đối
với môn Toán của toàn bậc học nói chung và môn Toán lớp 4 nói riêng, ngoài
yêu cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng, còn yêu cầu học sinh phải hoàn thiện các
bài tập cụ thể trong mỗi tiết học. Mặc dù chương trình đã giảm tải để giảm áp
lực cho học sinh, để phù hợp với thời lượng một tiết học. Tuy nhiên, với học
sinh gặp khó khăn trong môn Toán lớp 4, số lượng bài bài đó vẫn còn rất nặng,
và nhiều bài, các em còn chưa thể giải quyết ngay được sau khi giáo viên giảng
xong bài mới. Để giải quyết những vướng mắc này, giáo viên cần chủ động,
nghiên cứu từng bài tập để định hướng, giúp đỡ các em từng bước phụ sao cho
các em hoàn thành được bài tập.
Ví dụ 2: Ở tiết Chia một tích cho một sô ( trang 79), học sinh phải thực hiện 3
bài tập, trong đó có bài tập sau:
Tính bằng cách thuận tiện nhất: (25 x 36) : 9 .
Với dạng toán này, học sinh phải áp dụng những tính chất đã học, đồng
thời cần quan sát, linh hoạt trong việc tìm thừa số chia hết cho số chia. Những
học sinh có tư duy tốt, các em sẽ làm rất nhanh dạng này. Nhưng với học sinh
chưa hoàn thành, học sinh sẽ vận dụng cách làm đơn thuần là: nhân hai thừa số
với nhau được kết quả chia cho số chia. Vì vậy giáo viên các em hoàn thành
được bài tập trên sự định hướng ban đầu của giáo viên như sau:
+ Yêu cầu học sinh nêu lại ghi nhớ khi chia một tích hai thừa số cho một số ta làm
thế nào?
+ Giúp học sinh nhận diện thừa số nào chia hết được cho 9.
+ HS lúc này sẽ làm hiểu và làm được :
(25 x 36) : 9 = 25 x (36 : 9) = 25 x 4 = 100

9

* Khi học về phép cộng phân số có vận dụng tính chất kết hợp vào cách tính
thuận tiện của bài 4 trang 132 phần luyện tập.
Bài 4: Tính bằng cách thuận tiện:
12
19
8
+
+
17
17
17
12
8
19
= (
+
)+
17 17
17
20
19
20 + 19
39
=
+
=
=
17
17
17
17

a,

Với học sinh chưa hoàn thành bước đầu còn khó khăn. Giáo viên cần giúp các
em biết khai thác và nhận diện để tìm cách làm nhanh nhất.
+ HS nhớ và nêu được đây là phép cộng các phân số cùng mẫu số.
+ Giúp học sinh nhớ được cách cộng các phân số cùng mẫu số.
+ GV định hướng giúp các em tìm được cách chọn kết hợp cộng hai phân số nào
với nhau để thực hiện nhanh nhất. Qua từng bước nhỏ như vậy các em sẽ nhớ
lâu và từng bước; làm tốt các bài tập tương tự.
* Hay như sau khi học xong cách thực hiện giải bài toán tìm hai số khi bết tổng
và tỉ số của hai số đó, theo yêu cầu, học sinh phải hoàn thành bài tập sau:
Bài 1: ( Trang 148) Tổng của hai số là 333, Tỉ số của hai số là

2
. Tìm hai số đó.
7

Đối với đa số học sinh, chỉ cần dựa vào bài giảng của giáo viên các em có
thể hoàn thành ngay được bài giải. Song thực tế, vì đây là bài thực hành đâu
tiên, nên để học sinh chưa hoàn thành hiểu rõ bản chất và giải luôn được các bài
tập này là việc làm rất khó khăn. Chính vì vậy, để giúp các em hoàn thành được,
giáo viên cần biến đổi thành các bài tập phù hợp vào phiếu như sau:
Bài 1: Tổng của hai số là 333, Tỉ số của hai số là

2
. Tìm hai số đó.
7

Hãy điền vào chỗ trống để hoàn thiện bài giải:
?
Bài giải
Ta có sơ đồ: Số bé:
Số lớn:

?
.......

Tổng số phần bằng nhau là:
..................................................
.................................................
.................................................
..................................................
.................................................
................................................
Những bài tập thực hành đầu tiên, qua các dạng bài tập cụ thể, dưới sự
hướng dẫn thêm của giáo viên, học sinh chưa hoàn thành sẽ dần dần hình thành
được kĩ năng giải toán.

10

Để làm được công việc này, đòi hỏi giáo viên phải thực sự đầu tư về thời
gian, trí tuệ, phải thực sự mong muốn học sinh của mình ngày càng tiến
bộ. Đối với học sinh yếu kém, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của
kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức.
Giáo viên cần dành thời gian để các em thực hành các bài tập vừa sức.
Đối với các tiết ôn luyện ở buổi 2, giáo viên có thể đưa hệ thống các bài
tập nhưng chia bài theo nhóm học sinh, chẳng hạn, nhóm chưa hoàn thành
làm bài 1, bài 2, nhóm hoàn thành làm bài 2, 3 và nhóm hoàn thành Tốt
làm bài 3, 4. Như vậy tất cả các học sinh trong trong đều có bài tập vừa
sức, tạo nên sự hứng thú cho học sinh.
5.2. Xây dựng các bài tập để phân biệt các kiến thức, kĩ năng dễ lẫn.
Học sinh Tiểu học, nhanh nhớ nhưng cũng rất dễ quên. Với học sinh chưa
hoàn thành lại càng nhanh quên. Trong chương trình Toán lớp 4, có một
số kiến thức mà học sinh rất dễ lẫn, như chia một tích cho một số hay chia
một tổng cho một số, hay các em hay lẫn lộn giữa các các dạng toán có lời
văn (Toán về tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu, Tổng và tỉ số, Hiệu và Tỉ
số ). Sau mỗi dạng Toán, các em làm có thể đã thành thạo, nhưng sau một
thời gian lại quên dạng và quên mất cách làm. Chính vì vậy, ở các tiết ôn
tập chung, giáo viên cần xây dựng các bài tập sao cho có thể phân biệt
nhiều dạng bài khác nhau để học sinh linh hoạt hơn trong việc xã định
dạng toán, tranh lẫn dạng này với dạng khác. Từ các bài tập đó các em
nhìn ra điểm chung, riêng của từng kiến thức, kĩ năng để ghi nhớ.
* Để phân biệt chia một tích cho một số và chia một tổng cho một số. Với hai kĩ
năng này, học sinh được học chia một tổng cho một số trước, với cách
tính được hướng dẫn như sau: Khi chia một tổng cho một số, nếu các số
hạng của tổng chia hết cho số chia thì ta có thể chia từng số hạng cho số
chia, rồi cộng các kết quả tìm được với nhau.
Ví dụ : Tính: ( 15 + 35 ) : 5
Ngoài cách tính thông thường là trong ngoặc trước, học sinh thực hiện cách thứ
hai như sau:
(15 + 35 ) : 5 = 15 : 5 + 35 : 5 = 3 + 7 = 10
Nhưng đến khi học bài Chia một tích cho một số, nếu học sinh gặp dạng toán :
Tính theo hai cách : ( 15 × 35 ) : 5 thì không chỉ học sinh chưa hoàn thành đã làm
cách thứ hai như sau:
( 15 × 35 ) : 5 = 15 : 5 × 35 : 5 = 3 × 7 = 35 ( sai)
Như vậy, học sinh đã nhầm lẫn hai kiến thức này với nhau, áp dụng sai
kiến thức này cho kiến thức kia. Chính vì vậy, giáo viên cần linh hoạt,
ngoài ôn tập riêng mỗi dạng, giáo viên còn nên ra thêm hai dạng này cùng
một lúc để các em nhận biết, phân biệt rõ hơn hai dạng kiến thức này. Để
giải quyết việc lẫn dạng ba dạng toán quan trọng của chương trình Toán 4
đó Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu, Tổng và tỉ số, Hiệu và Tỉ số, giáo
viên cũng nên đưa ra cả ba dạng bài trong một tiết học (ở các tiết ôn tập
chung, buổi 2). Yêu cầu các em đọc kĩ từng bài, phân biệt từng dạng rồi
mới cho các em giải.

11

5.3. Vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng trong chương trình để
học sinh chưa hoàn thành đạt được yêu cầu tối thiểu.
Trong chương trình Toán 4, các mạch kiến thức thức được mở rộng dần và
ngày càng nâng cao về độ khó. Chính vì vậy, đối với những học sinh chưa
hoàn thành, rất cần sự linh hoạt của giáo viên khi hình thành kiến thức và
kĩ năng cho các em nhất là khi dạy dạng toán có lời văn chính là kết hợp
kiến thức để hoàn thành bài giải vì vậy yêu cầu giáo viên cần quan tâm,
hướng dẫn ký từng bước từ khai thác dữ kiện bài toán đến nắm dạng toán
được học để vận dụng như Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó,
định hướng của SGK, các em thực hiện theo công thức tìm số lớn hoặc số
bé.
Số lớn = ( Tổng + Hiệu) : 2
Số bé = ( Tổng - Hiệu ) : 2.
Ví dụ 1: Tuổi bố và tuổi con công lại được 58 tuổi. Bố hơn con 38 tuổi. Hỏi bố
bao nhiêu tuổi, con bao nhiều tuổi? ((Bài tập 1. Trang 47- Toán lớp 4)
Đối với học sinh khá, giỏi, các em có thể làm ngay ( theo công thức)
Bài giải
Số tuổi của con là: (58 -38) : 2 = 10 ( tuổi)
Số tuổi của bố là: 58 - 10 = 48 ( tuổi )
Đáp số : Con: 10 tuổi
Bố: 48 tuổi
Song với học sinh chưa hoàn thành giáo viên cần giúp các em kỹ từng bước:
Bước 1: Học sinh đọc kĩ để toán và trả lời:
- Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì?
- Để tính được tuổi bố và tuổi con ta dựa vào dữ kiện nào của bài toán ?
Bước 2: Tìm các bước giải của bài toán:
Ngoài việc cho các em quan sát trực tiếp trên sơ đồ giáo viên hướng dẫn giúp
các em làm thêm bước " Tìm hai lần số bé " hoặc "hai lần số lớn".
Cụ thể như sau:
? tuổi
Tóm tắt:
Tuổi con:
38 tuổi
Tuổi bố:
58 tuổi.
...? tuổi
Bài giải
Hai lần tuổi con là: 58 - 38 = 20 ( tuổi)
Số tuổi của con là: 20: 2 = 10 ( tuổi)
Số tuổi của bố là: 58 - 10 = 48 ( tuổi )
Đáp số : Con: 10 tuổi
Bố: 48 tuổi
( Hoặc hs có thể tính 2 lần tuổi bố trước )
Như vậy, so với cách thông thường, ta đã thêm bước giải ( Tính hai lần số
bé hoặc 2 lần số lớn ) để học sinh chưa hoàn thành hình dung rõ ràng từng

12