Tải bản đầy đủ
Bảng 3.5 Phân bố năng lượng 24h cuả nhóm trẻ từ 1 đến 2 tuổi theo thể liệt.

Bảng 3.5 Phân bố năng lượng 24h cuả nhóm trẻ từ 1 đến 2 tuổi theo thể liệt.

Tải bản đầy đủ

50

hiện khó nuốt (43%).
- Có mối tương quan giữa 2 biến khó nuốt và suy dinh dưỡng (p<0,05).
Nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở những trẻ có dấu hiệu khó nuốt cao
gấp 2,8 nguy cơ suy dinh dưỡng với trẻ không có dấu hiệu khó nuốt với 95%
CI là 1,61- 4,88.
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa TTDD và triệu chứng khó nhai
TTDD
Khó nhai

Không

SDD

Không SDD

n

(n=115)
55

(n=115)
39

%
n

47,8
60

33,9
76

40,9
136

%

52,2

66,1

59,1

Chung
94

OR
(95% CI)
1,79
1,04- 3,06

Nhận xét: Có 40,9% bệnh nhi có xuất hiện dấu hiệu khó nhai, tỉ lệ trẻ
suy dinh dưỡng có biểu hiện khó nhai là 47,8% cao hơn trẻ không suy dinh
dưỡng có biểu hiện khó nhai (33,9%).
Có mối tương quan giữa tình trạng khó nhai và tình trạng suy dinh
dưỡng (p<0,05). Trẻ có tình trạng khó nhai có nguy cơ suy dinh dưỡng gấp
1,79 lần những trẻ không có tình trạng khó nhai với 95% CI là 1,04- 3,06.
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa TTDD và triệu chứng táo bón
OR

TTDD

SDD

Không SDD

Táo bón
Có (đại tiện

n

(n=115)
73

(n=115)
7

≤ 3 lần/ tuần)

%

63,5

6,1

34,8

OR=26,8

n

42

108

150

9,2- 78,3

%

36,5

93,9

65,2

Không

Chung

(95% CI)

80

Nhận xét: Có 34,8% bệnh nhi có xuất hiện triệu chứng táo bón, tỉ lệ trẻ suy
dinh dưỡng có biểu hiện táo bón là 63,5% cao hơn trẻ không suy dinh dưỡng có
biểu hiện táo bón (6,1%).

51

Có mối tương quan rất chặt chẽ giữa tình trạng táo bón và tình trạng suy
dinh dưỡng (p<0,001). Nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ bị táo bón cao gấp 26,8 lần
so với trẻ không bị táo bón với 95% CI 9,2- 78,3
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa SDD và triệu chứng co cứng
TTDD

SDD

Không SDD

n

(n=115)
79

(n=115)
52

%
n

68,7
36

54,8
63

57
99

%

31,3

45,2

43

Co cứng

Không

Chung

OR
(95% CI)

131

2,66
(1,53- 4,63)

Nhận xét: Có 57 % bệnh nhi có xuất hiện triệu chứng co cứng, tỉ lệ trẻ
suy dinh dưỡng có triệu chứng co cứng là 68,7 % cao hơn trẻ không suy dinh
dưỡng có triệu chứng co cứng (54,8%).
Có mối tương quan giữa tình trạng co cứng và tình trạng suy dinh dưỡng
với mức ý nghĩa thống kê p<0,05 (p= 0.003) Nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ có
triệu chưng co cứng cao gấp 2,66 lần so với trẻ không có triệu chứng co cứng
với 95% CI 1,53- 4,63.
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa SDD và các thể lâm sàng
TTDD
Thể lâm sàng
Liệt toàn thân
Liệt hai chân
Liệt nửa người

n
%
n
%
n
%

SDD
(n=115)
64
55,7
24
20,9
27
23,4

Không SDD
(n=115)
66
57,5
25
21,4
24
20,9

Chung
130
56,5
49
21,3
51
22,2

p∗
>0,05

(*) Test χ2

Nhận xét: Trong nhóm SDD có 55,7% trẻ ở thể liệt toàn thân, 20,9%
trẻ ở thể liệt hai chân. Trong nhóm trẻ không SDD có 57,5%% trẻ liệt toàn

52

thân, 21,4% trẻ oẻ thể liệt hai chân, và 20,9% số trẻ ở thể liệt nửa người.
Không tìm thấy mối tương quan giữa thể liệt mắc phải và tình trạng suy dinh
dưỡng p>0,05.
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và
thời gian mỗi bữa ăn
TTDD

SDD

Không SDD

n

(n=115)
66

(n=115)
40

%
n

57,4
49

34,8
75

46,1
124

%

42,6

65,2

53,9

Thời gian cho ăn
> 30 phút
≤ 30 phút

Chung
106

OR
(95% CI)
2,52
(1,45- 4,37)

Nhận xét: Có 53,9% bệnh nhi có thời gian cho ăn nhỏ hơn 30 phút, tỉ lệ trẻ
suy dinh dưỡng có thời gian cho ăn hợp lý là 42,6% thấp hơn trẻ không suy
dinh dưỡng có thời gian ăn hợp lý (65,2%).
Có mối liên quan giữa thời gian cho ăn và suy dinh dưỡng (p<0,05).
Nguy cơ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở những trẻ có bữa ăn kéo dài hơn 30
phút cao gấp 2,52 so với trẻ có bữa ăn ≤ 30 phút với 95% CI là 1,45- 4,37.
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa TTDD và cân nặng lúc sinh
TTDD
Cân nặng sơ sinh
n
< 2500g
%
n
≥ 2500g
%

SDD
(n=115)
32
27,8
83
72,2

Không SDD
(n=115)
24
20,9
91
79,1

Chung
56
24,3
174
75,7

p*> 0,05

(*) Test χ2

Nhận xét: Có 75,7% trẻ có cân nặng sơ sinh bình thường, tỉ lệ trẻ suy
dinh dưỡng có cân nặng sơ sinh bình thường chiếm 72,2% tỉ lệ này nhỏ hơn tỉ
lệ trẻ không suy dinh dưỡng có cân nặng sơ sinh ở mức bình thường (79,1%).

53

Không tìm thấy mối tương quan giữa tình trạng cân nặng sơ sinh thấp và tình
trạng suy dinh dưỡng p>0,05.
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và trình độ
học vấn của mẹ.
TTDD
Trình độ văn hoá
Chưa tốt
nghiệp
THPT
Tốt nghiệp
THPT trở
lên

SDD

Không SDD

(n=115)

(n=115)

n

41

32

73

%

35,6

27,8

31,7

n

74

83

157

%

64,4

72,2

68,3

Chung

p*> 0,05

(*) Test χ2

Nhận xét: Có 68,3% mẹ của trẻ có trình độ THPT trở lên, trong nhóm
trẻ suy dinh dưỡng tỉ lệ mẹ đạt THPT trở lên chiếm 64,4% nhỏ hơn nhóm trẻ
không suy dinh dưỡng(72,2%). Chưa tìm thấy mối tương quan giữa trình độ
văn hoá của mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng với mức ý nghĩa thống kê
p>0,05 (p= 0,22)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và khu vực địa lý
TTDD

SDD

Không SDD

n

(n=115)
63

(n=115)
59

%
n

54,8
52

51,3
56

53
108

%

45,2

48,7

47

Địa lý
Nông thôn
Thành thị

(*) Test χ2

Chung
122

p*>0,05

54

Nhận xét: Có 47% trẻ sinh sống ở thành thị, trong nhóm trẻ suy dinh
dưỡng tỉ lệ trẻ sống ở thành thị là 45,2% nhỏ hơn tỉ lệ trẻ sống ở thành thị
trong nhóm không suy dinh dưỡng (48,7%). Chưa tìm thấy mối tương quan
giữa vùng địa lý sinh sống với tình trạng suy dinh dưỡng p>0,05 (p= 0,6).

Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và khu vực địa lý
theo chỉ số CN/T
TTDD

SDD

Không SDD

n

(n=40)
29

(n=190)
93

%
n

72,5
11

48,9
97

53
108

%

27,5

51,1

47

Địa lý
Nông thôn
Thành thị

Chung

OR
(95% CI)

122
2,74
1,28-5,9

Nhận xét: Trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng tỉ lệ trẻ sống ở thành thị là
27,5% thấp hơn khá nhiều so với tỉ lệ trẻ sống ơ thành thị trong nhóm không
suy dinh dưỡng (51,1%).
Có mối tương quan giữa 2 biến vùng địa lý và tình trạng dinh dưỡng nhẹ
cân(p<0,05). Nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở những trẻ sống ở nông
thôn cao gấp 2,74 so với trẻ sống ở thành thị với 95% CI là 1,28-5,9
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và sự thiếu hụt
dinh dưỡng khẩu phần.
TTDD
Mức đạt RDA

SDD

Không SDD

(n=29)

(n=34)

Chung

p*>0,05

55

Không đạt
Đạt
(*) Test χ

n

27

29

56

%
n

93,1
2

85,3
5

88,9
7

%

6,9

14,71

11,1

2

Xét theo nhóm trẻ từ 1 đến 2 tuổi
Nhận xét: Có 88,9% số trẻ trong nhóm tuổi từ 1 đến 2 không đạt RDA.
Trong nhóm SDD có 93,1% trẻ không đạt được RDA cao hơn tỉ lệ trẻ trong
nhóm không SDD không đạt RDA (85,3%). Chưa tìm thấy mối tương quan
giữa tình trạng năng lượng KPA thấp với tình trạng suy dinh dưỡng p>0,05
(p= 0,33).

Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
4.1.1. Phân bố bệnh nhân theo giới:
Theo nghiên cứu của chúng tôi đã chọn được 230 trẻ, trong có 155 trẻ
trai và 75 trẻ gái (67,4%/ 32,6%), tỉ lệ trẻ trai:gái = 2,07:1. Kết quả trên tương
đồng với kết quả của những nghiên cứu sau: Mã Hồng Lam tại bệnh viện
Nhi Trung ương năm 2008 trên 71 trẻ cho tỉ lệ nam/ nữ là 2,08/1 [59],
nghiên cứu của tác giả Troughton nhóm nghiên cứu có tỉ lệ trẻ trai là 62%
và trẻ gái là 38% [49]. Tác giả Trần Hồng Hạnh năm 2010 tại bệnh viên
Châm cứu TW tỉ lệ trẻ trai/ gái là 62,4%/ 37,6% [60]. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Ngọc Linh cũng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương trên 60
bệnh nhân có tỉ lệ trai/ gái của 2 nhóm đối chứng là 1,3/1 và 1,4/1 [61], tỉ
lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do cỡ mẫu của tác
giả nhỏ (30 trẻ/ nhóm). Tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ trai cao hơn trẻ gái [6].
Có nhiều cách lý giải cho tỉ lệ mắc bại não ở giới nam cao hơn giới nữ.
Tác giả Butler và Alberman, 1969, Rohodes 1965) thấy các biến chứng trong
giai đoạn thai của mẹ như tiền sản giật, chảy máu nhau thai ở thai nam cao

56

hơn thai nữ. Tỉ lệ trẻ nam chậm phát triển trong tử cung mẹ, đẻ non, có dấu
hiện bệnh lý thần kinh cao hơn ở trẻ gái (Neligan và cộng sự, 1976). Và nam
có tỉ lệ mắc bệnh sơ sinh cao hơn nữ (Fedrich và Butler, 1970: Stanley và
Alberman 1978) [62]
4.1.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 31,37± 13,2
(tháng). Kết quả này thấp hơn so với một số kết quả của các nghiên cứu khác
như: nghiên cứu ở Thuỵ Điển trên nhóm trẻ có độ tuổi trung bình là
10,1±3,1(năm) [63], tại Anh độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu 90 trẻ là
10,8 (năm) [49].
Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương với các bệnh nhi bại não điều trị
ở bệnh viện hầu như đều là đối tượng trẻ nhỏ dưới 8 tuổi. Và nhiều nhất vẫn
là độ tuổi dưới 5, 6 tuổi. Số lượng bệnh nhi bại não trên 8, 10 tuổi điều trị tại
bệnh viện ít, do các gia đình sẽ tự tập luyện cho trẻ ở tại nhà sau một thời
gian dài chạy chữa nếu không hiệu quả, hoặc tìm đến các phương pháp khác.
Các trẻ bại não ở lứa tuổi lớn hơn 5,6 tuổi đặc biệt là thể co cứng sau một
thời gian dài các khớp đã bị tổn thương, xuất hiện cứng khớp, biến dạng
chân tay nên điều trị châm cứu bấm huyệt ít có hiệu quả, gây đau đớn cho
bệnh nhi trong quá trình xoa bóp, vận động để làm mềm khớp. Do vậy đối
tượng nghiên cứu chúng tôi chọn lựa là trẻ bại não dưới 60 tháng tuổi.
4.1.3. Phân bố bại não theo thể lâm sàng.
Trong nghiên cứu này thể liệt tứ chi chiếm 56,5%, thể liệt nửa người
chiếm 22,2% và thể liệt 2 chân chiếm 21,3%. Nghiên cứu của Troughton 40%
liệt hai chân, 33% liệt tứ chi và 27% là liệtt nửa người [49]. Theo nghiên cứu
của nhóm các nhà khoa học Brazil trong nhóm nghiên cứu 90 trẻ bại não có
43,33% trẻ ở thể liệt tứ chi, có 53,33 % số trẻ ở thể liệt nửa người và có 3,3 %
số trẻ ở thể liệt 2 chân [53].

57

Tỉ lệ liệt tứ chi của chúng tôi là cao nhất trong các đối tượng, vì trẻ có
biểu hiện liệt tứ chi thì khả năng ngồi, đứng đi lại, khả năng tự phục vụ bản
thân của trẻ bị hạn chế hơn so với những thẻ khác. Đó là lý do mà các gia
đình thường đưa trẻ đến cơ sở y tế điều trị. Khi trẻ có tiến triển: biết ngồi, cầm
nắm đồ vật, hay chập chững đi thì các gia đình thường cho trẻ tập luyện tại
nhà. Hơn nữa bệnh viện chúng tôi là bệnh viện tuyến Trung ương nên những
trường hợp nặng liệt tứ chi kèm co cứng sẽ được tuyến dưới chuyển viện lên
nhiều hơn những thể liệt khác.
Phân loại theo định khu tổn thương là một trong các cách phân loại bại
não, phân loại này thường dùng trong các nghiên cứu về dinh dưỡng của trẻ
bại não. Ở Việt Nam những nghiên cứu về dinh dưỡng ở trẻ bại não ít, chưa
có nghiên cứu nào đề cập đến tình trạng dinh dưỡng theo các thể liệt. Các
nghiên cứu về trẻ bại não tại bệnh viện chúng tôi khá nhiều song các tác giả
tập trung vào bệnh học, các phương pháp điều trị nhằm làm giảm mức độ tàn
tật của trẻ với phân loại theo thể bệnh lâm sàng.
4.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ bại não.
4.2.1. Chiều dài nằm ước lượng theo công thức KH.
Công thức KH được áp dụng ở Việt Nam thường là đối tượng người
cao tuổi khi khả năng đứng thẳng gặp nhiều hạn chế do liệt do bệnh lý về
xương, khớp... việc áp dụng công thức KH với đối tượng trẻ em bại não là
điều mới của luận văn chúng tôi.
Ở trẻ bại não tình trạng tăng trương lực cơ, co cứng xảy ra khá phổ
biến. Trong nghiên cứu của nhóm đối tượng tại Bệnh viện Châm cứu TW của
Nguyễn Thị Ngọc Linh thể co cứng chiếm 95% [60], trẻ co cứng thì khả năng
đứng thẳng hay nằm duỗi thẳng là điều rất khó khăn, còn với những trường
hợp co cứng nặng gây biến dạng khớp thì việc đo chiều cao là rất nan giải với
người làm nghiên cứu.

58

Ngoài công thức KH thì còn các phương pháp ước lượng chiều cao
khác được áp dụng cho những trường hợp bệnh nhân gặp khó khăn trong khi
đo chiều cao/ chiều dài. Những phương pháp đo gián tiếp này cho phép các
nhà nghiên cứu ước lượng tầm vóc của đối tượng với sai số đã được nghiên
cứu chỉ ra cho từng phương pháp. Dưới đây( hình 4.1) là một số công thức
ước lượng chiều cao đứng/ chiều dài nằm [54].

Hình 4.1. Một số công thức ước lượng chiều cao đứng/ chiều dài nằm
Với nhóm trẻ bại não dưới 12 tuổi có nhiều cách ước lượng tầm vóc
như: ước lượng từ chiều dài cánh tay, chiều dài xương chày, tuy nhiên nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra là phương pháp ước lượng theo chiều cao gối KH có độ
sai số thấp nhất [64], phù hợp với nghiên cứu này.
Tác giả Chumlia WC, đã đưa ra các phương trình nhằm ước lượng tầm
vóc của người lớn, trẻ em và cả cho đối tượng người khuyết tật. Kết quả thu
được là chiều cao đầu gối dùng để ước lượng chiều cao nam giới da trắng và

59

da đen, chiều cao gối và tuổi để ước lượng chiều cao phụ nữ da trắng và da
đen. Để ước lượng tầm vóc ở trẻ em từ 6 đến 18 tuổi, chỉ số ước lượng là
chiều cao đầu gối [65]. Tại Canada vào năm 1999, Hogan S.E, cũng nghiên
cứu trên nhóm tuổi từ 6 đến 30 tuổi dùng cách ước lượng chiều cao gối cho
chiều dài nằm, và kết quả cho thấy chiều cao đầu gối có thể là một chỉ số ước
lượng đáng tin cậy cho chiều dài nằm trong dân số này [66].
Có rất nhiều các nghiên cứu về trẻ bại não áp dụng cách ước lượng tầm
vóc từ chiều cao gối [53] [52]. Chính vì mức độ sử dụng rộng rãi, độ chính
xác của phương pháp ước lượng chiều cao gối cho chiều dài nằm trong các
nghiên cứu về dinh dưỡng ở trẻ bại não, nên chúng tôi đã tiến hành áp dụng
vào trong nghiên cứu này. Việc áp dụng đo chiều cao gối thay cho việc đo
chiều dài nằm đã giảm đi được đáng kể khó khăn cho nhà nghiên cứu trong
quá trình lấy các chỉ số nhân trắc.
4.2.2 Suy dinh dưỡng nhẹ cân (cân nặng/ tuổi)
Theo nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi là
17,4% thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (29,6%). Sự khác
biệt này có thể là do nghiên cứu của tác giả được thực hiện cách đây hơn 15
năm và khi đó tiêu chuẩn của nghiên cứu là (WHO 1997) cũng khác so với
nghiên cứu của chúng tôi (WHO 2007). Tỉ lệ nghiên cứu của chúng tôi khá
tương đồng với một nghiên cứu mới được công bố năm 2017 của tác giả
Dương Thị Châm với tỉ lệ suy dinh dưỡng CN/T của nhóm bại não nghiên
cứu là 17,1% [67].
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân mức
độ vừa chiếm 77,6% và mức độ nặng là 22,4%. Nghiên cứu của Mã Hồng
Lam năm 2008 trên khoảng 71 bệnh nhi bại não có ngạt sau sinh thì tỉ lệ suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân là 25,3% [59] trong đó tỉ lệ suy dinh dưỡng mức độ
vừa là 66,8% và mức độ nặng là 33,2%. Tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân mức độ

60

nặng của tác giả cao hơn nghiên cứu của chúng tôi có thể do đối tượng bệnh
nhân bại não có tiêu chuẩn khác so với nghiên cứu của chúng tôi, tác giả chọn
đối tượng bệnh nhi bại não có ngạt sau sinh.
Một nghiên cứu được thực hiện tại Uganda một nước ở châu Phi vào
năm 2015 cho kết quả tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân là 48% [68]. Tỉ lệ này khá
cao so với nghiên cứu của chúng tôi vì có thể vào giai đoạn năm 2014, 2015
Uganda vẫn đang đứng ở vị trí số 14 các quốc gia nghèo nhất thế giới còn tại
thời điểm đó Việt Nam đứng thứ 57 [69]. Kinh tế khó khăn kéo theo điều kiện
về y tế, lương thực thực phẩm bất lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em nói
chung và trẻ bại não nói riêng.
Tại quốc gia Thổ Nhĩ Kì- một nước phát triển, nghiên cứu của Tüzün
E.H và cộng sự vào năm 2013 cho kết quả nhóm trẻ trai bại não (n=242) tỉ lệ
suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 8,3%, trong nhóm trẻ gái bại não (n=205) tỉ lệ
suy dinh dưỡng là 19% [63]. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chung cuả
nhóm nghiên cứu này là 13,2%, so với nhóm nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ
suy dinh dưỡng của chúng tôi có cao hơn. Sự khác biệt này cũng phù hợp với
sự khác nhau về điều kiện kinh tế của hai nước, nước ta là nước đang phát
triển nền kinh tế còn nghèo so với nước bạn, sự hỗ trợ cả về dinh dưỡng và
chăm sóc y tế tuy đã nhiều cải thiện xong vẫn còn phải tiếp tục cố gắng, nên tỉ
lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam nói chung và đối tượng trẻ bại não nói
riêng lớn hơn so với nước bạn.
Theo nghiên cứu của Dahlseng M.O tại Nauy vào năm 2011 trên 661
trẻ bại não cho biết có khoảng 20% số trẻ có tình trạng cân nặng thấp ( SDD
thể nhẹ cân) [70] cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi có thể vì cỡ mẫu
của nghiên cứu khá lớn so với nghiên cứu của chúng tôi, và độ tuổi của nhóm
đối tượng nghiên cứu cũng lớn hơn so với nhóm nghiên cứu của chúng tôi.