Tải bản đầy đủ
học vấn của mẹ.

học vấn của mẹ.

Tải bản đầy đủ

54

Nhận xét: Có 47% trẻ sinh sống ở thành thị, trong nhóm trẻ suy dinh
dưỡng tỉ lệ trẻ sống ở thành thị là 45,2% nhỏ hơn tỉ lệ trẻ sống ở thành thị
trong nhóm không suy dinh dưỡng (48,7%). Chưa tìm thấy mối tương quan
giữa vùng địa lý sinh sống với tình trạng suy dinh dưỡng p>0,05 (p= 0,6).

Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và khu vực địa lý
theo chỉ số CN/T
TTDD

SDD

Không SDD

n

(n=40)
29

(n=190)
93

%
n

72,5
11

48,9
97

53
108

%

27,5

51,1

47

Địa lý
Nông thôn
Thành thị

Chung

OR
(95% CI)

122
2,74
1,28-5,9

Nhận xét: Trong nhóm trẻ suy dinh dưỡng tỉ lệ trẻ sống ở thành thị là
27,5% thấp hơn khá nhiều so với tỉ lệ trẻ sống ơ thành thị trong nhóm không
suy dinh dưỡng (51,1%).
Có mối tương quan giữa 2 biến vùng địa lý và tình trạng dinh dưỡng nhẹ
cân(p<0,05). Nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở những trẻ sống ở nông
thôn cao gấp 2,74 so với trẻ sống ở thành thị với 95% CI là 1,28-5,9
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và sự thiếu hụt
dinh dưỡng khẩu phần.
TTDD
Mức đạt RDA

SDD

Không SDD

(n=29)

(n=34)

Chung

p*>0,05

55

Không đạt
Đạt
(*) Test χ

n

27

29

56

%
n

93,1
2

85,3
5

88,9
7

%

6,9

14,71

11,1

2

Xét theo nhóm trẻ từ 1 đến 2 tuổi
Nhận xét: Có 88,9% số trẻ trong nhóm tuổi từ 1 đến 2 không đạt RDA.
Trong nhóm SDD có 93,1% trẻ không đạt được RDA cao hơn tỉ lệ trẻ trong
nhóm không SDD không đạt RDA (85,3%). Chưa tìm thấy mối tương quan
giữa tình trạng năng lượng KPA thấp với tình trạng suy dinh dưỡng p>0,05
(p= 0,33).

Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
4.1.1. Phân bố bệnh nhân theo giới:
Theo nghiên cứu của chúng tôi đã chọn được 230 trẻ, trong có 155 trẻ
trai và 75 trẻ gái (67,4%/ 32,6%), tỉ lệ trẻ trai:gái = 2,07:1. Kết quả trên tương
đồng với kết quả của những nghiên cứu sau: Mã Hồng Lam tại bệnh viện
Nhi Trung ương năm 2008 trên 71 trẻ cho tỉ lệ nam/ nữ là 2,08/1 [59],
nghiên cứu của tác giả Troughton nhóm nghiên cứu có tỉ lệ trẻ trai là 62%
và trẻ gái là 38% [49]. Tác giả Trần Hồng Hạnh năm 2010 tại bệnh viên
Châm cứu TW tỉ lệ trẻ trai/ gái là 62,4%/ 37,6% [60]. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Ngọc Linh cũng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương trên 60
bệnh nhân có tỉ lệ trai/ gái của 2 nhóm đối chứng là 1,3/1 và 1,4/1 [61], tỉ
lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do cỡ mẫu của tác
giả nhỏ (30 trẻ/ nhóm). Tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ trai cao hơn trẻ gái [6].
Có nhiều cách lý giải cho tỉ lệ mắc bại não ở giới nam cao hơn giới nữ.
Tác giả Butler và Alberman, 1969, Rohodes 1965) thấy các biến chứng trong
giai đoạn thai của mẹ như tiền sản giật, chảy máu nhau thai ở thai nam cao

56

hơn thai nữ. Tỉ lệ trẻ nam chậm phát triển trong tử cung mẹ, đẻ non, có dấu
hiện bệnh lý thần kinh cao hơn ở trẻ gái (Neligan và cộng sự, 1976). Và nam
có tỉ lệ mắc bệnh sơ sinh cao hơn nữ (Fedrich và Butler, 1970: Stanley và
Alberman 1978) [62]
4.1.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 31,37± 13,2
(tháng). Kết quả này thấp hơn so với một số kết quả của các nghiên cứu khác
như: nghiên cứu ở Thuỵ Điển trên nhóm trẻ có độ tuổi trung bình là
10,1±3,1(năm) [63], tại Anh độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu 90 trẻ là
10,8 (năm) [49].
Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương với các bệnh nhi bại não điều trị
ở bệnh viện hầu như đều là đối tượng trẻ nhỏ dưới 8 tuổi. Và nhiều nhất vẫn
là độ tuổi dưới 5, 6 tuổi. Số lượng bệnh nhi bại não trên 8, 10 tuổi điều trị tại
bệnh viện ít, do các gia đình sẽ tự tập luyện cho trẻ ở tại nhà sau một thời
gian dài chạy chữa nếu không hiệu quả, hoặc tìm đến các phương pháp khác.
Các trẻ bại não ở lứa tuổi lớn hơn 5,6 tuổi đặc biệt là thể co cứng sau một
thời gian dài các khớp đã bị tổn thương, xuất hiện cứng khớp, biến dạng
chân tay nên điều trị châm cứu bấm huyệt ít có hiệu quả, gây đau đớn cho
bệnh nhi trong quá trình xoa bóp, vận động để làm mềm khớp. Do vậy đối
tượng nghiên cứu chúng tôi chọn lựa là trẻ bại não dưới 60 tháng tuổi.
4.1.3. Phân bố bại não theo thể lâm sàng.
Trong nghiên cứu này thể liệt tứ chi chiếm 56,5%, thể liệt nửa người
chiếm 22,2% và thể liệt 2 chân chiếm 21,3%. Nghiên cứu của Troughton 40%
liệt hai chân, 33% liệt tứ chi và 27% là liệtt nửa người [49]. Theo nghiên cứu
của nhóm các nhà khoa học Brazil trong nhóm nghiên cứu 90 trẻ bại não có
43,33% trẻ ở thể liệt tứ chi, có 53,33 % số trẻ ở thể liệt nửa người và có 3,3 %
số trẻ ở thể liệt 2 chân [53].

57

Tỉ lệ liệt tứ chi của chúng tôi là cao nhất trong các đối tượng, vì trẻ có
biểu hiện liệt tứ chi thì khả năng ngồi, đứng đi lại, khả năng tự phục vụ bản
thân của trẻ bị hạn chế hơn so với những thẻ khác. Đó là lý do mà các gia
đình thường đưa trẻ đến cơ sở y tế điều trị. Khi trẻ có tiến triển: biết ngồi, cầm
nắm đồ vật, hay chập chững đi thì các gia đình thường cho trẻ tập luyện tại
nhà. Hơn nữa bệnh viện chúng tôi là bệnh viện tuyến Trung ương nên những
trường hợp nặng liệt tứ chi kèm co cứng sẽ được tuyến dưới chuyển viện lên
nhiều hơn những thể liệt khác.
Phân loại theo định khu tổn thương là một trong các cách phân loại bại
não, phân loại này thường dùng trong các nghiên cứu về dinh dưỡng của trẻ
bại não. Ở Việt Nam những nghiên cứu về dinh dưỡng ở trẻ bại não ít, chưa
có nghiên cứu nào đề cập đến tình trạng dinh dưỡng theo các thể liệt. Các
nghiên cứu về trẻ bại não tại bệnh viện chúng tôi khá nhiều song các tác giả
tập trung vào bệnh học, các phương pháp điều trị nhằm làm giảm mức độ tàn
tật của trẻ với phân loại theo thể bệnh lâm sàng.
4.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ bại não.
4.2.1. Chiều dài nằm ước lượng theo công thức KH.
Công thức KH được áp dụng ở Việt Nam thường là đối tượng người
cao tuổi khi khả năng đứng thẳng gặp nhiều hạn chế do liệt do bệnh lý về
xương, khớp... việc áp dụng công thức KH với đối tượng trẻ em bại não là
điều mới của luận văn chúng tôi.
Ở trẻ bại não tình trạng tăng trương lực cơ, co cứng xảy ra khá phổ
biến. Trong nghiên cứu của nhóm đối tượng tại Bệnh viện Châm cứu TW của
Nguyễn Thị Ngọc Linh thể co cứng chiếm 95% [60], trẻ co cứng thì khả năng
đứng thẳng hay nằm duỗi thẳng là điều rất khó khăn, còn với những trường
hợp co cứng nặng gây biến dạng khớp thì việc đo chiều cao là rất nan giải với
người làm nghiên cứu.

58

Ngoài công thức KH thì còn các phương pháp ước lượng chiều cao
khác được áp dụng cho những trường hợp bệnh nhân gặp khó khăn trong khi
đo chiều cao/ chiều dài. Những phương pháp đo gián tiếp này cho phép các
nhà nghiên cứu ước lượng tầm vóc của đối tượng với sai số đã được nghiên
cứu chỉ ra cho từng phương pháp. Dưới đây( hình 4.1) là một số công thức
ước lượng chiều cao đứng/ chiều dài nằm [54].

Hình 4.1. Một số công thức ước lượng chiều cao đứng/ chiều dài nằm
Với nhóm trẻ bại não dưới 12 tuổi có nhiều cách ước lượng tầm vóc
như: ước lượng từ chiều dài cánh tay, chiều dài xương chày, tuy nhiên nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra là phương pháp ước lượng theo chiều cao gối KH có độ
sai số thấp nhất [64], phù hợp với nghiên cứu này.
Tác giả Chumlia WC, đã đưa ra các phương trình nhằm ước lượng tầm
vóc của người lớn, trẻ em và cả cho đối tượng người khuyết tật. Kết quả thu
được là chiều cao đầu gối dùng để ước lượng chiều cao nam giới da trắng và

59

da đen, chiều cao gối và tuổi để ước lượng chiều cao phụ nữ da trắng và da
đen. Để ước lượng tầm vóc ở trẻ em từ 6 đến 18 tuổi, chỉ số ước lượng là
chiều cao đầu gối [65]. Tại Canada vào năm 1999, Hogan S.E, cũng nghiên
cứu trên nhóm tuổi từ 6 đến 30 tuổi dùng cách ước lượng chiều cao gối cho
chiều dài nằm, và kết quả cho thấy chiều cao đầu gối có thể là một chỉ số ước
lượng đáng tin cậy cho chiều dài nằm trong dân số này [66].
Có rất nhiều các nghiên cứu về trẻ bại não áp dụng cách ước lượng tầm
vóc từ chiều cao gối [53] [52]. Chính vì mức độ sử dụng rộng rãi, độ chính
xác của phương pháp ước lượng chiều cao gối cho chiều dài nằm trong các
nghiên cứu về dinh dưỡng ở trẻ bại não, nên chúng tôi đã tiến hành áp dụng
vào trong nghiên cứu này. Việc áp dụng đo chiều cao gối thay cho việc đo
chiều dài nằm đã giảm đi được đáng kể khó khăn cho nhà nghiên cứu trong
quá trình lấy các chỉ số nhân trắc.
4.2.2 Suy dinh dưỡng nhẹ cân (cân nặng/ tuổi)
Theo nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi là
17,4% thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (29,6%). Sự khác
biệt này có thể là do nghiên cứu của tác giả được thực hiện cách đây hơn 15
năm và khi đó tiêu chuẩn của nghiên cứu là (WHO 1997) cũng khác so với
nghiên cứu của chúng tôi (WHO 2007). Tỉ lệ nghiên cứu của chúng tôi khá
tương đồng với một nghiên cứu mới được công bố năm 2017 của tác giả
Dương Thị Châm với tỉ lệ suy dinh dưỡng CN/T của nhóm bại não nghiên
cứu là 17,1% [67].
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân mức
độ vừa chiếm 77,6% và mức độ nặng là 22,4%. Nghiên cứu của Mã Hồng
Lam năm 2008 trên khoảng 71 bệnh nhi bại não có ngạt sau sinh thì tỉ lệ suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân là 25,3% [59] trong đó tỉ lệ suy dinh dưỡng mức độ
vừa là 66,8% và mức độ nặng là 33,2%. Tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân mức độ

60

nặng của tác giả cao hơn nghiên cứu của chúng tôi có thể do đối tượng bệnh
nhân bại não có tiêu chuẩn khác so với nghiên cứu của chúng tôi, tác giả chọn
đối tượng bệnh nhi bại não có ngạt sau sinh.
Một nghiên cứu được thực hiện tại Uganda một nước ở châu Phi vào
năm 2015 cho kết quả tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân là 48% [68]. Tỉ lệ này khá
cao so với nghiên cứu của chúng tôi vì có thể vào giai đoạn năm 2014, 2015
Uganda vẫn đang đứng ở vị trí số 14 các quốc gia nghèo nhất thế giới còn tại
thời điểm đó Việt Nam đứng thứ 57 [69]. Kinh tế khó khăn kéo theo điều kiện
về y tế, lương thực thực phẩm bất lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em nói
chung và trẻ bại não nói riêng.
Tại quốc gia Thổ Nhĩ Kì- một nước phát triển, nghiên cứu của Tüzün
E.H và cộng sự vào năm 2013 cho kết quả nhóm trẻ trai bại não (n=242) tỉ lệ
suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 8,3%, trong nhóm trẻ gái bại não (n=205) tỉ lệ
suy dinh dưỡng là 19% [63]. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chung cuả
nhóm nghiên cứu này là 13,2%, so với nhóm nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ
suy dinh dưỡng của chúng tôi có cao hơn. Sự khác biệt này cũng phù hợp với
sự khác nhau về điều kiện kinh tế của hai nước, nước ta là nước đang phát
triển nền kinh tế còn nghèo so với nước bạn, sự hỗ trợ cả về dinh dưỡng và
chăm sóc y tế tuy đã nhiều cải thiện xong vẫn còn phải tiếp tục cố gắng, nên tỉ
lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam nói chung và đối tượng trẻ bại não nói
riêng lớn hơn so với nước bạn.
Theo nghiên cứu của Dahlseng M.O tại Nauy vào năm 2011 trên 661
trẻ bại não cho biết có khoảng 20% số trẻ có tình trạng cân nặng thấp ( SDD
thể nhẹ cân) [70] cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi có thể vì cỡ mẫu
của nghiên cứu khá lớn so với nghiên cứu của chúng tôi, và độ tuổi của nhóm
đối tượng nghiên cứu cũng lớn hơn so với nhóm nghiên cứu của chúng tôi.

61

Báo cáo của Viện Dinh Dưỡng về tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em Việt
Nam vào năm 2015 cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng toàn quốc thể nhẹ cân là
14,1% [71]. Trong đó tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em miền núi phía
Bắc là 19,1%. Như vậy, tỉ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở đối tượng trẻ bại não
trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tuy cao hơn so với tỉ lệ suy dinh dưỡng
chung nhưng thấp hơn so với em trẻ em bình thường sinh sống tại vùng núi
phía Bắc. Vậy đối với trẻ bại não tình trạng cân nặng có thực sự là yếu tố bị
ảnh hưởng nghiêm trọng?
Một trong những giả thuyết được đưa ra là trẻ bại não do khả năng đi
lại và hoạt động kém nên năng lượng để tiêu hao sẽ giảm đi, và chuyển hoá cơ
bản của trẻ bại não cũng thấp hơn so với trẻ bình thường cùng lứa tuổi.
Nhưng cũng có giả thuyết khác được đưa ra là trẻ bại não cũng có tình
trạng tăng trương lực cơ, co cứng nên dù trẻ hoạt động ít nhưng năng lượng
cũng sẽ mất khá nhiều. Trong nghiên cứu này, mặt hạn chế của chúng tôi là
không đánh giá mức độ co cứng nhiều hay ít mà chỉ đánh giá định tính là có
hay không. Hai giả thuyết trên giúp các nhà nghiên cứu giải thích ở đối tượng
trẻ bại não vừa có nguy cơ suy dinh dưỡng vừa tiềm ẩn khả năng mắc thừa
cân béo phì.
Nhận thức được tầm quan trọng của dinh dưỡng nên tại bệnh viện
chúng tôi có hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ, hoạt động được triển khai rất tốt, tích
cực, được thực hiện một cách đều đặn. Các suất cháo dinh dưỡng miễn phí
đến từng cháu nhỏ vào các buổi sáng và chiều ít nhất là 5/7 ngày vừa chia sẻ một
phần nào gánh nặng với gia đình và đồng thời giúp cải thiện dinh dưỡng cho các
cháu. Các mẹ cũng được hướng dẫn dặn dò cho bé ăn nhiều bữa, cho trẻ ăn thêm
hoa quả trái cây. Ở bệnh viện các mẹ, các bà có nhiều thời gian để chăm cho các
cháu ăn, số bữa phụ số các cháu được ăn từ 4 đến 6 bữa là 100%. Đây cũng có

62

thể là một trong những lý do giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ bại não
đang được điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung Uơng.
4.2.3. Suy dinh dưỡng thấp còi (chiều cao/tuổi).
Trong nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ suy dinh
dưỡng thấp còi chiếm 45,3%. Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Trần
Thị Thu Hà [13]. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Châm tỉ lệ suy dinh
dưỡng CC/T của nhóm trẻ bại não được nghiên cứu là 28,6%. Tỉ lệ này thấp
hơn nhiều so với tỉ lệ của chúng tôi, có thể là do phương pháp đo chiều cao
của 2 nghiên cứu khác nhau. Trong nghiên cứu của tác giả tác giả không đề
cập rõ dùng phương pháp gì để đo chiều cao, còn trong nghiên cứu của chúng
tôi sử dụng là phương pháp ước lượng chiều dài nằm từ chiều cao gối.
Nghiên cứu ở Nauy của Dahlseng M.O tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi là
20% [70]. Tỉ lệ của chúng tôi có cao hơn là do sự khác biệt về điều kiện kinh
tế giữa 2 quốc gia và sự khác biệt về tầm vóc của người châu Á và châu Âu.
Tại Brazil vào năm 2008 với cỡ mẫu nghiên cứu là 114 trẻ từ 2 đến 12 tuổi, tác
giả Caram A.L.A đưa ra kết luận tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trong nhóm
nghiên cứu là 38,6% [72]. Cũng khá tương đồng với kết quả của chúng tôi. Một
nghiên cứu của Hung J.-W và cộng sự ở Đài Loan trên 75 trẻ bại não với độ
tuổi từ 5 tháng đến 10 tuổi cho kết quả tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi là 36%
[47]. Tỉ lệ này khác so với tỉ lệ của chúng tôi do sự khác biệt giữa quần thể
tham chiếu ở hai nghiên cứu, tác giả so sánh chỉ số CC/T với biểu đồ tăng
trưởng của trẻ em Đài Loan do Cục y tế quốc gia Đài Loan đưa ra năm 1983,
chỉ riêng có CN/CC được so sánh với quần thể chuẩn NCHS do không có dữ
liệu tham khảo ở Đài Loan cho trẻ nhỏ hơn 3 tuổi. Samson-Fang tiến hành
nghiên cứu ở 6 địa điểm thuộc Bắc Mỹ trên 235 đối tượng là trẻ bại não từ 2
đến 18 tuổi, kết quả của nghiên cứu ghi nhận có hơn 68% số trẻ có tình trạng
suy dinh dưỡng thấp còi [73]. Kết quả này là một trong những tỉ lệ cao nhất

63

chúng tôi tham khảo được, có thể do độ tuổi của đối tượng cũng lớn hơn
nhiều so với các nghiên cứu khác, cộng theo đó là tình trạng suy dinh dưỡng ở
trẻ bại não và tuổi tác còn có thể có sự trầm trọng thêm về tình trạng nội tiết
trong cơ thể.
Stevenson và các đồng nghiệp đã hoàn thành một nghiên cứu để tìm ra
nguyên nhân của trẻ bại não và tăng trưởng chậm. Trong nghiên cứu cắt
ngang với 171 trẻ có 38% số trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi [74]. Kết quả
phân tích cho rằng sự tăng trưởng của trẻ bại não tỉ lệ nghịch với độ tuổi và
độc lập với tình trạng dinh dưỡng, gợi ý rằng có sự ảnh hưởng của nội tiết tố
trong cơ thể.
Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ bại não cao gấp hai lần so với trẻ em nói
chung (24,6%) [71]. Vấn đề chiều cao của trẻ bại não trầm trọng hơn do cấu
trúc xương ở trẻ bại não cũng có những điểm khác biệt so với trẻ bình thường,
và kèm theo đó là sự biến dạng của xương, khớp nên khiến xương cũng không
được phát triển bình thường. Ở trẻ bại não, mật độ xương giảm nên thường
gặp tình trạng gẫy xương bệnh lý. Hendison và cộng sự thấy rằng 26% trẻ
trên 10 tuổi trong nhóm nghiên cứu của mình có ít nhất một vết nứt trên
xương [75]. Nguyên nhân góp phần gây giảm mất độ xương ở trẻ bại não là:
tuổi, suy giảm vận động, tình trạng dinh dưỡng kém…
4.2.4. Chỉ số BMI.
Nghiên cứu của chúng tôi cho tỉ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ số BMI/T
là 5,6% và tỉ lệ thừa cân béo phì là 14,8%. Tỉ lệ này tương đồng với nghiên
cứu của tác giả J Pascoe tại Australian được công bố năm 2016 trên 587 trẻ
bại não có 7% số trẻ bị suy dinh dưỡng và 19,4% số trẻ bị thừa cân, béo phì
[76] và nghiên cứu của Dahlseng M.O tại Nauy trên 661 trẻ bại não thỉ lệ thừa
cân béo phì trong nhóm đối tượng là 16% [70]. Một nghiên cứu khác trên 73
trẻ bị bại não các thể tại Bosnia vào năm 2014, Delalic A đánh giá tình trạng

64

dinh dưỡng của trẻ dựa vào chỉ số BMI và cho kết quả có 21,9% trẻ bị suy
dinh dưỡng (<5th percentile) , và 20,6%( 85th percentile) số trẻ là thừa cân béo
phì [77], tỉ lệ này so với tỉ lệ của chúng tôi cũng có sự chênh lệch. Với nhiều
lý do có thể giải thích về sự khác nhau này như về đặc điểm về tầm vóc giữa
hai quốc gia, lứa tuổi của 2 nghiên cứu không tương ứng nhau, và đặc biệt là
tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của hai nghiên cứu là
khác nhau.
BMI là một trong những công cụ phổ biến nhất để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng của cơ thể, và là tiêu chí để chẩn đoán thừa cân béo phì ở cả
người lớn và trẻ em. Ngoài ra chỉ số BMI còn là một chỉ số quan trọng giúp
tiên đoán những yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. BMI thời thơ ấu đã được
chứng minh là có liên quan với BMI ở tuổi trưởng thành và có tương quan tỉ
lệ nghịch với sự nhạy cảm của insulin [78].
Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ bại não nói riêng phải đối mặt với một
vấn đề liên quan đến hoạt động thể chất của cơ thể. Những trẻ khuyết tật
muốn tăng khả năng vận động hàng ngày của mình sẽ gặp rất nhiều khó khăn:
có thể do bài tập vận động được tập không đúng với khả năng của họ, hoặc
luyện tập sai cách…Vì vậy nhiều loại khuyết tật có tỉ lệ thừa cân béo phì cao
hơn so với người bình thường [79].
Với trẻ bại não mặc dù được cho là tỉ lệ suy dinh dưỡng và kém ăn vẫn
xảy ra phổ biến hơn nhưng trẻ bại não vẫn có rất nhiều nguy cơ để có thể dẫn
đến tình trạng béo phì.
+ (1): Trẻ bại não thường đẻ non và có cân nặng sơ sinh thấp, và hai yếu tố
này đều có mối quan liên quan với tình trạng béo phì [80] [81].
+ (2): Chuyển hoá lúc nghỉ và tổng năng lượng tiêu thụ của nhóm trẻ bại não
đều nhỏ hơn đáng kể so với nhóm đối chứng cùng lứa tuổi và không mắc