Tải bản đầy đủ
Bố cục bài nghiên cứu khoa học

Bố cục bài nghiên cứu khoa học

Tải bản đầy đủ

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
CHƯƠNG 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về cây chùm ruột

Hình 1.1. Thân, lá và trái chùm ruột.
(Nguồn: https://www.google.com)
1.1.1. Tên gọi
• Tên tiếng việt: Cây tầm ruột, cây tùm ruột, cây chùm ruột.
• Tên tiếng anh: Otaheite gooseberry, Malay gooseberry, Tahitian

gooseberry, country gooseberry, star gooseberry, West
India gooseberry, simply gooseberry tree.
• Tên khoa học: Phyllanthus acidus L.Skeels.
• Tên đồng nghĩa: Ph. distichus, Cicca acida, C. disticha, Averrhoa
acida.
Phân loại khoa học: (Theo hệ thống APG III- 2009).
Giới (regnum)

Thực vật (Plant)

Ngành (phylum)

Thực vật có hoa (Angiospermae)

Lớp (class)

Hai lá mầm thật (Eudicots)

Phân lớp (subclass)

Hoa hồng (Rosids)

Bộ (ordo)

Sơ ri (Malpighiales)

Họ (familia)

Diệp hạ châu (Phyllanthaceae)

Tông (tribus)

Diệp hạ châu (Phyllantheae)

Phân tông (subtribus)

Flueggeinae

Chi (genus)

Diệp hạ châu (Phyllanthus)

Loài (species)

Phyllanthus acidus
13

Trong hệ thống Cronquist cũ thì Cây chùm ruột được đặt trong bộ Hoa
hồng (Rosales). Họ Oxalidaceae (Họ Chua me đất): Họ này có 6 chi với 770 loài.
Hệ thống APG III-2009 sắp xết lại nhiều loài thuộc các Bộ, Họ khác nhau có
liên quan đến di truyền phân tử để lập thành Họ Điệp hạ châu mới (Phyllanthaceae)
mở rộng hơn với 8 Tông, 55-58 Chi và khoảng 2000 loài.
Trong đó Chi Diệp Hạ châu mới (Phyllanthus) là một Chi lớn nhất trong
thực vật có hoa, chứa trên 1.200 loài, hay trên một nửa số loài trong họ Diệp hạ
châu (quả mọc ngay dưới nách lá kép).
Do đó muốn tra cứu về cây chùm ruột (Phyllanthus acidus) nên tham khảo
các tên đồng nghĩa của nó trong các hệ thống phân loại cũ hơn. [18]
1.1.2. Nguồn gốc và phân bố

Chùm ruột, còn gọi là tầm ruột (Phyllanthus acidus) là loài cây duy nhất có
quả ăn được trong họ Phyllanthaceae. Cây chùm ruột vừa được trồng làm cây cảnh
vừa lấy quả. Cây chùm ruột có nguồn gốc từ Madagascar (đảo quốc ở Ấn Độ
dương). Chùm ruột phân bố chủ yếu ở khu vực Châu Á nhiệt đới từ Madagascar đến
Ấn Độ sang tận Đông Nam Á.
Hiện nay trên thế giới cây chùm ruột được trồng ở các nước: Đảo Guam (tên
ceremai) , Indonesia (tên ceremai hoặc cerama), Miền Nam Việt Nam (chùm ruột),
Cambodia (kantuet), Thái Lan (mayom), Lào (cerme), Bắc Mã Lai (chermai), Ấn
Độ (chalmeri và harpharoi), Philippines (iba ở Tagalog và karmay ở Ilokano), Ở
Mỹ được trồng tại đảo Hawaii và phía Nam của bang Florida (country gooseberry).
Ngoài ra cây chùm ruột còn được trồng ở Ecuador, El Salvador, Mexico, Colombia,
Venezuela, Surinam, Peru và Brazil.
Ở Việt Nam, cây chùm ruột trồng phổ biến ở miền Nam vừa làm cây cảnh
trước sân, trong vườn vừa được dùng làm rau, lấy quả..Ở Việt Nam có hai giống
chùm ruột, đó là:
- Chùm ruột ngọt (ít chua): được dùng để ăn chơi, làm mứt.
- Chùm ruột chua: được dùng để làm mứt và lấy chất chua nấu canh. [18]
1.1.3. Điều kiện sinh trưởng, phát triển
Cây chùm ruột thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Là loài cây
có sức chịu đựng cao, cây có thể sống ở vùng lạnh và độ cao trên 1000m. Cây chùm

14

ruột được trồng trên loài đất khác nhau, trừ đất sét trộn ít hay nhiều cát. Cây chỉ
thích hợp ở những nơi có nhiều ánh nắng, trừ những vùng đất nóng. Trong qua trình
trồng cần phải thường xuyên làm cỏ, tưới nước đều đặn. Nếu đất quá khô cây sẽ
kém phát triển, quả bị tông teo và rụng sớm. Sau mỗi đợt hái trái và tỉa cây cần bón
thêm phân nhằm tạo điều kiện cho cây nhanh chóng phục hồi, bù đắp dinh dưỡng,
đảm bảo cho đợt ra cành và ra hoa mới.
Chùm ruột thường ra hoa vào tháng 3-5 và cho quả vào tháng 6-8 là vụ
chính. Ngoài ra còn có những vụ trái mùa, tuỳ theo mà có thời điểm thu hoạch khác
nhau. Ở Ấn Độ cho quả vào hai vụ chính xác vào từ tháng 4-5 và 8-9. Lúc trái chùm
ruột còn non thì có màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng-xanh nhạt hoặc trắng.
Lúc này các rãnh quả cạn hơn có múi to hơn, đây là thời điểm thu hoạch tốt nhất.
Trái chùm ruột thường được thu hoạch thủ công.
Trái chùm ruột được bảo quản ở nhiệt độ 20- 25 0C với độ ẩm tương đối là
85-90%. Nếu bảo quản ở nhiệt độ cao hơn thì chất lượng trái sẽ giảm nhanh chóng.
Đựng trái trong túi polyethylene kín, không có lỗ ở nhiệt độ 23 0C sẽ giữ được trong
hai tuần. [19]
1.1.4. Đặc điểm hình thái thực vật
 Thân cây chùm ruột
Thân chùm ruột là loại thân gỗ lớn, đạt chiều cao trung bình 4-6m, cây cao
nhất có thể đạt đến 10m. Có tán rộng và hoa màu hồng rất đẹp, thường được trồng
như một loại cây cảnh ở sân hay trong vườn.
Thân cây có gỗ bở, nhiều cành mọc từ thân chính, cành dòn dễ gãy.
Nhánh cây sần sùi vì vết sẹo của những cuống lá cũ. Ở cuối mỗi cành chính có
nhiều cành nhỏ màu xanh, dài từ 15 -30cm, mọc thành chùm dày đặc.[17]

Hình 1.2. Thân cây chùm ruột.
 Lá cây chùm ruột

15

Lá kép, mọc so le, có cuống dài mang nhiều lá chét mỏng, dài 4-5cm, rộng
1.5-2cm, góc lá tròn nhọn về phía đầu. [18]

Hình 1.3. Lá chùm ruột. (Nguồn: https://www.google.com)
 Rễ cây chùm ruột

Rễ mọc khoẻ, ăn sâu và lan rộng. [18]

Hình: 1.4. Rễ chùm ruột.
 Hoa chùm ruột

Hoa chùm ruột màu hồng, nở từng chùm. Cây chùm ruột nở hoa vào tháng 35, kết quả vào tháng 6-8. [18]

16

Hình 1.5. Hoa chùm ruột. (Nguồn: https://www.google.com)
 Quả chùm ruột
Hình tròn, chia thành 6 múi, màu xanh nhạt, có đường kính khoảng 22,5 cm. Quả mọc từng chùm theo các cành non và kể cả ở cành già hay ngay trên
thân, có vỏ từ màu xanh non đến vàng nhạt và mờ đục như sáp. Hình dáng và hương
vị của trái tùy thuộc vào giống. Vị chùm ruột giòn và rất chua, do đó thường được
tiêu thụ dưới dạng mứt. [18]

.
Hình 1.6. Quả chùm ruột. (Nguồn: https://www.google.com)
 Nhân chùm ruột
Nhân, 1 hột, có 3-6 khía tròn và rất cứng như đá ở trung tâm, mỗi hột chứa 4
đến 6 hạt. [20]
 Hạt chùm ruột
Hạt cứng, to, nằm ở trung tâm của quả. Mỗi quả chỉ có 1 hạt. [18]
1.2. Thành phần hoá học
 Vỏ thân cây chùm ruột Phyllanthus acidus [ L.] Skeels và lá cây có

chứa: Saponine, Flavonoide, tannin, polyphenol.[20]
Saponine là một glycoside phân bố khá phổ biến trong thực vật, có một sô
tính chất đặc trưng, khi hoà tan vào nước sẽ có tác dụng giảm sức căng bề mặt của
dung dịch và tạo nhiều bọt, saponine làm vở hồng cầu còn được gọi là tính phá

17

huyết. Nó thường ở dạng vô định hình, có vị đắng. Chất này rất khó tinh chế, có
điểm nóng chảy thường cao từ 2000C trở lên và có thể cao hơn 300 0C. Người ta chia
saponine thành hai nhóm lớn là saponine triterpenoid và saponine sterol.
Flavonoid là những hợp chất màu phenol thực vật, tạo nên màu cho rất nhiều
rau, củ, quả, hoa,… Phần lớn các flavonoid có màu vàng (do từ flavus là màu vàng),
tuy vậy một số săc tố có màu xanh, tím , đỏ, không màu cũng được xếp vào nhóm
này vì về mặt hoá học chúng có chung khung cơ bản.
Tanin là nhóm hợp chất polyphenol phân bố rộng rãi trong họ thực vật. Các
tannin có trọng lượng phân tử khoảng 500-3000 đvC. Nó mang nhiều nhóm OH nên
ít nhiều hoà tan trong nước tạo dịch nhớt.
 Quả chùm ruột chứa 0,73- 0,90% Protid, 0,6-0,76% Lipid, 5,89
-7,29% Glucid, lượng vitamin C đạt tới 40 mg %. Acid -4hydroxybenzoic, acid cafeic, adenosine, acid hypogallic, dextrose
0.33%, levulose 1%, đường saccharose, kaempferol, adenosine…[18,20]

Dextrose

Saccharose

Vitamin C
Acid 4- hydroxybenzoic
Hình 1.7. Cấu trúc hoá học của một số chất trong quả chùm ruột.
Vitamin C là kết tinh không không màu hoặc hơi vàng, rất dễ tan trong nước.
Đu công trức không có nhóm -COOH nhưng vẫn có tính acid.
Saccharose là loại đường phổ biến trong tự nhiên, có nhiều trong mía và ở lá,
thân, rễ nhiều loại thực vật.
 Vỏ rễ chứa Saponin, Acide Galic và Tanin. Một số hợp chất Triterpen
(Philanthol, B-Amiryn), Acide Phenol và hợp chất kết tinh (có thể
Lupeol)…[20]

18

Bata. Amyrin

Acid galic

Lupeol

Ngoài ra, từ cao hexan của rễ cây chùm ruột tại Bình Thuận đã cô lập được
hai hợp chất.[24]

Hình 1.8. Cấu trúc hoá học của một số chất trong rễ và vỏ rễ chùm ruôt.
1.3. Một số ứng dụng của cây chùm ruột.
 Trong đời sống

Quả chùm ruột có vị chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu. [21]
Quả dùng trong các món gỏi, làm nước uống, nước xốt hay làm mứt hay
ngâm rượu. Khi nấu ở nhiệt độ cao sẽ chuyển sang màu đỏ rất đẹp. [20]
Quả chùm ruột (ngọt hoặc chua) đượng ngâm vói đường cát, trong và tuần
nó tự lên men thành loại rượu chùm ruột dùng để khai vị rất tốt, có tác dụng bổ
dưỡng và vị thuốc kích thích tiêu hóa. Các làm cụ thể như sau:
Nguyên liệu:
1. Chùm ruột: 0.5 kg, lựa quả to không bị dập.
2. Đường cát trắng: khoảng 1 kg (chuẩn bị dư ra 1 chút cũng không sao).
3. Muối: 1 muỗng
4. 1 cái hủ (nhựa hoặc thủy tinh) dùng để ngâm
Chuẩn bị:
Chùm ruột rửa sạch để ráo nước, rửa sạch hủ dùng để ngâm, lau khô.
Thực hiện:
1. Cho 1 lớp đường khoảng 0.5 cm dưới đáy hủ.
2. Cho chùm ruột vào, xếp theo lớp.
3. Cứ như vậy lần lượt 1 lớp đường xen kẽ 1 lớp chùm ruột đến khi đầy bình.
4. Cho 1 muỗng muối vào
5. Đậy chặt bình, để khoảng 1 tuần là có thể uống được.
19

6. Khi uống, ta có thể uống với đá, sẽ có cảm giác mát lạnh nồng nồng của men.
Cách làm mứt chùm ruột rất đơn giản, rẻ tiền và có sản phẩm hấp dẫn:
Nguyên liệu: 1kg chùm ruột (ngọt hoặc chua càng tốt), 700g đường cát.
Các bước thực hiện:
1. Chỉ cần cho chùm ruột tươi vào ngăn đá tủ lạnh khoảng 2 ngày cho nó đông
cứng lại, sau đó đem ra ngoài rã đông là tự nhiên trái chùm ruột nó mềm xèo. Sau
đó chỉ cần đem vắt cho nó ra bớt nước chua là xong.
2.Tiếp theo là cho đường vào, 1 kg chùm ruột cho vào khoảng 700g đường là vừa
ăn, trộn đều lên rồi đem ra nắng phơi cho đường tan hết.
3. Trùm lại cho vệ sinh, an toàn thực phẩm.
4. Sau khi thấy đường tan hết rồi thì cho hết lên chảo, sên đều tay.
5. Đậy nắp lại để cho có màu, nhớ canh chừng lửa để tránh cháy khét.
Mở vung kiểm tra, thấy màu hơi đậm và nước cạn thì nhắc xuống. Cho ra
mâm phơi 1 buổi là được. [18]
Lá chùm ruột non dùng làm rau sống ăn chung với rau tập tàng của người Nam Bộ.
Được sử dụng để gói nem chua và để trên mặt hũ mắm vì có tính sát khuẩn mạnh.
Ngoài ra, có tác dụng kích hoạt quá trình lên men chua của nem và mắm chua
nhanh hơn.[20]
Vỏ của rễ có một sự sử dụng giới hạn trong thuộc da ở Ấn Độ.[20]
 Trong Y học
Trong y học cổ truyền dân tộc, có sử dụng chùm ruột làm vị thuốc chữa bệnh:
Chữa đau nhức (đau lưng, chân, háng): Lá chùm ruột tươi giã nát cùng hồ
tiêu, đắp vào chỗ đau. (Theo BS CKI YHCT -CKDD Phạm Hồng Nga - Bác sĩ gia
đình).
Chữa suy yếu tim: Vỏ thân chùm ruột 1 phần, vỏ thân vông đồng 2 phần.
Sắc lên, cô lại thành cao đặc. Khi dùng hòa vào rượu trắng, uống ngày 2 muỗng
café, chia làm 2 lần. (Theo BS CKI YHCT -CKDD Phạm Hồng Nga - Bác sĩ gia
đình).
Chữa lở ngứa, mề đay, ghẻ loét, vết thương ngoài da: Vỏ thân cây phơi
khô, tán bột, chưng với dầu dừa, dùng để bôi. (Theo BS CKI YHCT -CKDD Phạm
Hồng Nga - Bác sĩ gia đình).
Dưỡng da bạn gái và phụ nữ: Ăn khoảng 200 gr quả chùm ruột mỗi ngày,
nhất là khi trời nắng nóng. (Theo BS CKI YHCT -CKDD Phạm Hồng Nga - Bác sĩ
gia đình). [22]

20

-Các vị thuốc từ lá cây chùm ruột:
Lá chùm ruột có tính nóng, rễ độc, có tác dụng làm tan ứ huyết, tiêu độc, tiêu
đờm, sát trùng, đặc biệt chống độc đối với nọc độc rắn.
Lá cây chùm ruột dùng để đun nước tắm chữa lở, nổi mề đay và các bệnh
ngoài da khác.
Lá chùm ruột tươi giã nát cùng hồ tiêu rồi đắp vào chỗ đau chữa đau nhức.
Lá cây chùm ruột dùng để đun nước tắm chữa lở, nổi mề đay và các bệnh
ngoài da khác.
-Các vị thuốc từ quả, hạt cây chùm ruột:
Quả chùm ruột có vị chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu.
Hạt chùm ruột chữa trị: Chứng táo bón và buồn nôn với nguyên nhân dạ dày
dơ bẩn nhiều tạp chất.
-Các vị thuốc từ vỏ thân cây chùm ruột:
Vỏ thân cây có khả năng tiêu hạch độc, ung nhọt, tiêu độc, sát trùng, trừ tích
ở phế, đặc biệt là chống độc đối với nọc rắn.
Rượu ngâm vỏ thân cây nhỏ vào tai chữa thối tai tiêu mủ, bôi chữa ghẻ, loét,
vết thương chảy máu ngoài da, ngậm chữa đau răng, đau họng. Ngoài ra, bột vỏ
thân ngâm dấm còn chữa được bệnh trĩ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.
Cách làm rượu vỏ chùm ruột như sau: Phơi khô vỏ thân cây, tán thành bột
mịn. Rượu trắng nồng độ cao, cứ 200gr bột ngâm với 1lít rượu để trong 10 ngày là
sử dụng được.
-Các vị thuốc từ rể cây chùm ruột:
Rễ cây chùm ruột có tính nóng, độc, có tác dụng làm tan ứ huyết, tiêu độc,
tiêu đờm, sát trùng, đặc biệt chống độc đối với nọc độc rắn. Rễ và hạt có tác dụng
tẩy.
Rễ và vỏ rễ có độc, vì thế cần đun sôi vỏ rễ, xông hít chữa ho, giảm bệnh
suyễn và nhức đầu.
Nước sắc vỏ cây chùm ruột (được cô lại cho đặc) và rượu rễ cây chùm ruột
chữa bệnh vảy nến.

21

Lưu ý: cấm không được uống nước sắc cũng như rượu ngâm vỏ rễ cây chùm
ruột vì rất độc. Có khả năng gây chết người, nhẹ thì cũng váng vất, nhức đầu, nặng
hơn sẽ đau bụng dữ dội và xấu nhất có thể tử vong.
Theo Y học cổ truyền nước ngoài:
Ở Ấn Độ dùng là chùm ruột đâm nát đắp ngoài để điều trị đau thần kinh tọa,
đau lưng và thấp khớp.
Xi-rô từ nước ép quả chùm ruột được sử dụng để trị bịnh dạ dày, và có tác
dụng bổ gan.
Lá nấu chín đắp lên mụn nhọt giúp hút mủ rất tốt.
Người ta còn nhai lá chùm ruột để xoa dịu các chứng viêm họng và miệng.
Thân cây chùm ruột được đưa vào các trị liệu dân gian do khả năng làm hạ
sốt nhanh chóng.
Ở Java, ngâm trong nước đun sôi rễ cây Chùm ruột Phyllanthus acidus, sử
dụng cho bệnh hen suyễn.
Ở Bornéo, dùng với tiêu poivre, một thuốc dán cao của lá cataplasme để
chữa trị: Đau lưng và đau thần kinh toạ.
Ở Bangladesh sử dụng cho những bệnh ngoài da: tróc lở, nhọt ung mủ, mụn
trứng cá…
Theo Tây Y:
Theo Les plantes médicales, rễ cây tươi và lá chùm ruột có khả năng trị bệnh
scorbut (một bệnh do thiếu hụt vitamin C).
Các nghiên cứu ở Ấn Độ cho biết trong quả chùm ruột (P. acidus) có chứa 4hydroxybenzoic axit, axit caffeic, adenosine, kaempferol andhypogallic acid. Các
chất này có tác dụng thanh lọc và bổ gan.
Chùm ruột được Tây y xác định là có tác dụng giải độc, là một trong những
loại thực vật được đưa vào chương trình giải độc cơ thể, trị các bệnh về da. [18,20,21,22]
1.4. Một số nghiên cứu về chùm ruột
► Những nghiên cứu khoa học được thực hiện với Cây Chùm ruột
Cicca acida (Phyllanthus acidus)

22