Tải bản đầy đủ
1 Thực trạng chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua

1 Thực trạng chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua

Tải bản đầy đủ

31

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn (Xem phụ lục 1).

32

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn (Xem phụ l ục 2 ).
2.1.1.2

Mức cổ tức mỗi cổ phần qua các năm

Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có khuynh
hướng chi trả cổ tức theo sau lợi nhuận. Tuy nhiên, sự biến động của cổ tức bằng
phẳng hơn sự biến động của lợi nhuận. Khi xem xét các giá trị mức cổ tức mỗi cổ
phần, lợi nhuận mỗi cổ phần và giá cổ phiếu niêm yết trung bình của thị trường trong
giai đoạn này có thể đưa ra một số nhận xét sau:
- Từ năm 2004 đến năm 2007: Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng
đi kèm là cả lợi nhuận, giá cổ phiếu, cổ tức đều tăng.
- Năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ: lợi
nhuận mỗi cổ phiếu đạt 1.926 đồng/cổ phiếu giảm 4,22% so với năm 2007; cổ tức đạt
1.715 đồng/cổ phiếu (giảm 10%); giá cổ phiếu đạt 9503 (giảm 72%).

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn

33

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn
- Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011: giá cổ phiếu có xu hướng biến động
giống lợi nhuận, còn cổ tức có xu hướng biến động ngược lại. Năm 2009, Chính phủ
thực hiện các biện pháp ổn định nền kinh tế vĩ mô và giảm ảnh hưởng của khủng
hoảng như miễn thuế chuyển nhượng cổ phiếu để giúp tăng tính thanh khoản cho cổ
phiếu dẫn đến giá cổ phiếu niêm yết tăng 91,73% so với năm 2008, trong khi cổ tức
chi trả sụt giảm 9,73% so với năm 2008. Đến năm 2011, Chính phủ lại áp dụng miễn
thuế thu nhập từ cổ tức, khiến cho các doanh nghiệp tăng cường chi trả cổ tức để giúp
các nhà đầu tư tránh thuế nên mức cổ tức mỗi cổ phần tăng 11,63% so với năm 2010
đạt 1744 đồng/cổ phiếu.
- Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013: Cùng với các biện pháp thúc đẩy nền
kinh tế vĩ mô của Chính phủ, thị trường chứng khoán cũng dần tăng trưởng trở lại
nên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết cũng tăng. Tuy nhiên xu hướng chi
trả bằng tiền mặt giảm, thay vào đó là hình thức chi trả bằng cổ phiếu hay quyền ưu

34

đãi mua cổ phiếu để doanh nghiệp vừa có thêm tiền mặt để hoạt động vừa tăng vốn
điều lệ. Xu hướng này khiến cho mức cổ tức mỗi cổ phần trung bình của thị trường
giảm dần.
Tuy nhiên, một số công ty vẫn duy trì chính sách chi trả cổ tức cao như công ty
cổ phần cơ khí khoáng sản Hà Giang (Mã chứng khoán: HGM), năm 2012 chi trả với
tỷ lệ 120%, qua năm 2013 là 50%, giá cổ phiếu của công ty này cũng biến động mạnh
mẽ từ 37.500 đồng vào năm 2012 đã tăng lên 54.700 đồng vào năm 2013; Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre (Mã chứng khoán: ABT) đứng thứ 2 về tỷ lệ
chi trả, với 45%, tỷ lệ này giảm 15% so với năm 2012. Cũng chia cổ tức 45% là Công
ty cổ phần Dịch vụ phân phối tổng hợp dầu khí (Mã chứng khoán: PSD). So với năm
2012 mức cổ tức này không có gì thay đổi. Đây đều là những đơn vị có chính sách cổ
tức cao và ổn đinh nên giá cổ phiếu các công ty này đều có sự tăng trưởng qua các
năm.
2.1.1.3

Tỷ lệ chi trả cổ tức qua các năm

Để khẳng định hơn nữa sự đồng điệu trong xu hướng biến động của chính sách
cổ tức và giá cổ phiếu niêm yết, ta xem xét sự biến động của tỷ lệ chi trả cổ tức. Từ
số liệu thống kê được của cổ tức mỗi cổ phần và thu nhập mỗi cổ phần cùng kỳ chúng
ta tính toán được tỷ lệ chi trả cổ tức. Chỉ tiêu này đo lường chính sách cổ tức của các
doanh nghiệp tốt hơn so với chỉ tiêu cổ tức mỗi cổ phần đã phân tích ở trên.

35

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn
Nhìn chung, tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp qua các năm có sự dao
động mạnh đặc biệt là từ năm 2004 đến năm 2009 (hình 2.5). Mức chi trả cổ tức của
các doanh nghiệp trên thị trường ở mức thấp nhất vào năm 2004 khoảng 24%. Nghĩa
là các doanh nghiệp đang có xu hướng giữ lại phần lớn lợi nhuận. Nhưng một năm
sau đó, sự gia tăng mạnh mẽ trong tỷ lệ chi trả cổ tức lên đến mức 51% vào năm 2005
và tăng dần đến năm 2007 đạt mức 78% cao nhất trong kì nghiên cứu. Trong giai
đoạn này, chứng tỏ rằng có nhiều doanh nghiệp trên thị trường đã chi trả phần lớn lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh cho các cổ đông. Sự biến động này cũng rất phù hợp
với sự biến động của giá cổ phiếu niêm yết trong cùng thời kì. Và các năm sau đó, tỷ
lệ chi trả cổ tức đã giảm trở lại và duy trì trong khoảng từ 40% - 60% làm cho sự dao
động của giá cổ phiếu cũng giảm hơn trong khoảng từ 9.000 đồng đến 16.000 đồng/cổ
phiếu. Một số doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức trên 100% do duy trì chi trả cổ tức
mỗi cổ phần ổn định qua các năm nên đã chi trả cổ tức nhiều hơn hơn rất nhiều so
với thu nhập mỗi cổ phần (xem phụ lục 3). Dòng tiền để chi trả cổ tức cho các cổ
đông phần lớn lấy từ lợi nhuận của các năm trước đó.
2.1.1.4Tỷ suất cổ tức qua các năm
Qua những số liệu đã phân tích ở trên, ta có thể thấy rằng sự biến động của giá
cổ phiếu là quá lớn so với sự biến động tuyệt đối của cổ tức. Do vậy, để phản ánh
chính xác hơn tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu niêm yết theo thời gian
như thế nào cần đến chỉ tiêu đó là tỷ suất cổ tức qua các năm. Từ số liệu thống kê
mức cổ tức mỗi cổ phần và giá của cổ phần đó vào cuối năm, chúng ta có thể tính
toán được tỷ suất cổ tức mỗi cổ phần. Đây được xem là tỷ số phản ánh tỷ suất sinh
lợi từ cổ tức của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu vào cuối kỳ.
Nhìn vào đồ thị hình 2.6 chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng tỷ suất cổ tức của thị
trường chứng khoán biến động nhiều trong thời kì nghiên cứu.

36

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn
Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006: Tỷ suất cổ tức tăng đều đặn từ 3,98%
vào năm 2004 đến 5,83% vào năm 2006. Nghĩa là cứ mỗi 10.000 đồng đầu tư vào
một cổ phiếu trên thị trường vào cuối năm thì trung bình nhà đầu tư sẽ nhận được 398
đồng từ cổ tức trong năm 2004, và mức này sẽ tăng lên đến 583 đồng vào năm 2006.
Những lý do khiến tỷ suất cổ tức trong giai đoạn này ổn định là giá cổ phiếu trên thị
trường tăng trưởng ổn định và mức cổ tức mỗi cổ phần cũng tăng trưởng ổn định.
Giai đoạn sau năm 2006: Ngược lại so với giai đoạn trước, tỷ suất cổ tức
trong giai đoạn này đã thể hiện một sự biến động thất thường. Từ 5,83% vào năm
2006, tỷ suất cổ tức đã giảm xuống bất thường vào năm 2007 và đạt mức 2,57%;
nguyên nhân là do năm này thị trường tăng trưởng nóng, dẫn đến giá chứng khoán
tăng cao bất thường, mức giá mỗi cổ phiếu trung bình của thị trường đạt 33.964
đồng. Và một năm sau đó, năm 2008, khi giá cổ phiếu trung bình giảm mạnh chỉ còn
9.503 đồng thì tỷ suất cổ tức đã tăng lên rất cao và đạt mức 9,46%, cao nhất trong cả

37

giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2009. Và tỷ suất cổ tức đã giảm trở lại vào năm 2009
và đạt mức 5,65% xấp xỉ với năm 2006 tương ứng với mức giá là 18.221 đồng và
mức cổ tức là 1.549 đồng. Sự biến động mạnh trong tỷ suất cổ tức lại tiếp tục diễn
ra vào các năm sau đó. Nhìn vào đồ thị thống kê mức cổ tức mỗi cổ phần tương ứng
trong giai đoạn này (hình 2.3), chúng ta thấy rằng cổ tức mỗi cổ phần dường như
không biến động. Vậy, những biến động trong tỷ suất cổ tức trên thị trường chắc
chắn do biến động bất thường trong giá cổ phiếu của các doanh nghiệp, tăng vào
năm 2009, 2010 và sụt giảm vào năm 2011, 2012; trong khi cổ tức lại có xu hướng
ngược lại.
2.1.2 Phân tích theo ngành
Danh sách phân ngành được lấy từ dữ liệu từ website: http://cafef.vn và được
trình bày trong phụ lục 11. Danh sách 681 doanh nghiệp nghiên cứu được sắp xếp
thành mười một ngành chính là bất động sản và xây dựng, công nghệ, công nghiệp,
dịch vụ, hàng tiêu dùng, năng lượng, nguyên vật liệu, nông nghiệp, tài chính, viễn
thông, y tế.
2.1.2.1Mức cổ tức mỗi cổ phần của các ngành
Khi xem xét mức cổ tức một cổ phần và giá cổ phiếu trong năm của các doanh
nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chúng ta thấy rằng mức cổ tức mỗi cổ
phần trung bình và giá cổ phiếu niêm yết của các ngành qua các năm không chênh
lệch nhau nhiều và xu hướng biến động khá giống nhau.
Các ngành đều gia tăng cổ tức vào năm 2007 khiến cho giá cổ phiếu tăng cao,
sụt giảm ngay sau đó vào năm 2008 và gia tăng trở lại vào năm 2009 đến năm 2011.
Trong đó, ngành y tế và nông nghiệp có mức chi trả cổ tức mỗi cổ phần cao và ổn
định qua các năm khiến cho giá cổ phiếu của hai ngành này cũng cao hơn các ngành
khác trong cùng thời kì nghiên cứu. Nguyên nhân do ngành y tế là ngành dịch vụ
công cộng, ít mang tính chu kỳ, tốc độ tăng trưởng của ngành là không cao, còn ngành
nông nghiệp vốn là ngành chủ đạo của nước ta nên các doanh nghiệp trong hai ngành
đã duy trì mức cổ tức mỗi cổ phần đều đặn và cao qua các năm. Ngành công nghệ thì
mức chi trả cổ tức cao từ năm 2007 trở về trước, còn từ năm 2008 trở đi lại sụt giảm

38

khiến cho giá cổ phiếu những năm sau đó thấp dần. Trong khi đó ngành viễn thông
lại có xu hướng ngược lại, từ năm 2009 trở lại đây, mức cổ tức mỗi cổ phần đều cao,
đặc biệt năm 2011 đạt 2.800 đồng/cổ phiếu, sự gia tăng trong chính sách cổ tức này
cũng góp phần làm giá cổ phiếu tăng dần.
Do kinh tế suy giảm nên hoạt động kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp
đều gặp khó khăn trong năm 2008 và đặc biệt là năm 2009. Vì vậy, trái ngược với
năm 2007, các ngành đều công bố mức cổ tức mỗi cổ phần cao, mà hai năm sau đó
các ngành đều đã cắt giảm mức cổ tức mỗi cổ phần. Trong đó, ngành công nghệ là
ngành mà các doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm cổ tức mỗi cổ phần rõ rệt nhất,
mức cổ tức mỗi cổ phần từ 2.200 đồng vào năm 2007 xuống còn 963 đồng năm 2008
(giảm hơn 56,23%). Ngành viễn thông giảm 58,33% từ mức 1.200 đồng năm 2007
xuống còn 500 đồng vào năm 2008. Tuy nhiên với chính sách miễn thuế chuyển
nhượng cổ phần và các chính sách ổn định nền kinh tế vĩ mô nên giá cổ phiếu của các
ngành năm 2009 đều tăng so với năm 2008.

39

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn (Xem phụ lục 4 ).

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn (Xem phụ lục 5 ).
Một điểm đáng chú ý nữa là vào năm 2008,trong khi tất cả các ngành đều sụt
giảm mức cổ tức cổ phần thì ngành bất động sản lại tăng 33,26% so với năm 2007 và
đạt mức 2.372 đồng/cổ phiếu, cao nhất trong các ngành vào năm 2008 và sụt giảm
liên tục những năm sau đó. Nguyên nhân là do vào hai năm 2007 và 2008, thị trường
bất động sản tăng trưởng bất ngờ và mạnh mẽ khi luật kinh doanh bất động sản có
hiệu lực; nguồn vốn FDI tăng trưởng mạnh; lợi nhuận từ chứng khoán góp phần tạo
nguồn vốn vững chắc cho thị trường kết hợp giá vàng giai đoạn này không có sự biến
động lớn như trước. Người mua và người bán đều yên tâm, góp phần làm cho việc
giao dịch nhanh chóng và hiệu quả hơn. Sự gia tăng bất ngờ này đã không làm tăng
giá cổ phiếu cho ngành này đúng như nhận định các nhà đầu tư quan tâm đến sự thay
đổi cổ tức trong dài hạn hơn.

40

Năm 2011, hầu hết các ngành đều gia tăng mức cổ tức cổ phần trở lại. Lý do
được giải thích ở đây chính là chính sách miễn thuế thu nhập đánh trên cổ tức của
Chính phủ nên các doanh nghiệp đẩy mạnh chi trả cổ tức ở mức cao cho nhà đầu tư
để tránh thuế. Năm 2013 vừa qua, mức cổ tức cổ phần cao phải kể đến các ngành: y
tế, nông nghiệp, hàng tiêu dùng và công nghiệp. Trong đó ngành y tế chi trả 1.657
đồng/cổng phiếu, ngành nông nghiệp là 1.676 đồng/cổ phiếu, hàng tiêu dùng là 1.548
đồng và công nghiệp là 1.613 đồng. Các ngành còn lại cũng đạt mức từ 1.000 đồng
đến 1.300 đồng, chỉ riêng hai ngành là tài chính và viễn thông vẫn duy trì ở mức 900
đồng/ cổ phiếu.

Nguồn: tổng hợp từ http://cophieu68.com, http://fpts.com.vn, http://cafef.vn,
http://hsc.com.vn
2.1.2.2Tỷ lệ chi trả cổ tức của các ngành
Phân loại tỷ lệ chi trả cổ tức theo ngành, chúng ta thấy rằng tỷ lệ chi trả cổ tức
trung bình mỗi ngành liên tục biến đổi theo thời gian.

41

Nhìn vào đồ thị hình 2.10 có thể nhận thấy có hai điểm đặc biệt. Đó là vào năm
2009, khi các ngành đang trên đà sụt giảm trong tỷ lệ chi trả cổ tức thì ngành bất động
sản và xây dựng và ngành công nghệ lại có sự gia tăng cao. Đến năm 2012, trong khi
tỷ lệ chi trả cổ tức các ngành đang dần bình ổn và đều nhau tỷ lệ chi trả ngành viễn
thông lại tăng mạnh. Vì đây là những ngành có tính chu kỳ cao trong nền kinh tế nên
lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thường xuyên biến động. Ngành công nghệ có
mức cổ tức mỗi cổ phần chi trả qua các năm cũng biến động mạnh, vì vậy ta có thể
khẳng định rằng các doanh nghiệp trong ngành đang ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tái
đầu tư. Chính sách này là hoàn toàn phù hợp với đặc thù của ngành công nghệ, một
ngành còn non trẻ và có tốc độ tăng trưởng rất cao do vậy các nhà đầu tư cũng đánh
giá cao cổ phiếu các ngành này. Ngược lại, ngành công nghiệp lại có xu hướng các
doanh nghiệp trong ngành áp dụng chính sách cổ tức tiền mặt ổn định. Vì mức cổ tức
mỗi cổ phần qua các năm của ngành là ổn định, đã làm cho tỷ lệ chi trả cổ tức biến
động mạnh khi lợi nhuận biến đổi nên giá cổ phiếu của ngành công nghiệp cũng biến
động nhiều. Ngành công nghiệp ở Việt Nam còn nhiều cơ hội để phát triển, nhưng
các doanh nghiệp trong ngành là các doanh nghiệp có quy mô lớn, ngành có tính chất
cạnh tranh mạnh mẽ, và các doanh nghiệp cũng đang dần dần đi vào ổn định. Nên
ngành có chính sách cổ tức chi trả cổ tức tiền mặt mỗi cổ phần với mức cổ tức ổn
định hơn.