Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CỔ TỨC NHẰM TỐI ĐA HÓA GIÁ TRỊ CỔ PHẦN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CỔ TỨC NHẰM TỐI ĐA HÓA GIÁ TRỊ CỔ PHẦN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

60

Để thực hiện những mục tiêu trên, thì định hướng phát triển cho thị trường
chứng khoán như sau:
Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm. Thông qua
các biện pháp: thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, gắn cổ phần hóa với
niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên hệ thống Upcom; hoàn thiện các quy định, cơ
chế giao dịch trên Upcom; Khuyến khích các công ty niêm yết cung cấp thông tin
bằng tiếng Anh, cũng như khắc phục các sai sót trong kiểm toán báo cáo tài chính;
nâng cao chất lượng cổ phiếu thông qua việc nâng cao chất lượng quản trị công ty,
tăng cường tính minh bạch; Phát triểm các sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán
phái sinh; xây dựng các tiêu chí thống nhất cho cả hai sở giao dịch,…
Thứ hai, cần kích cầu, khơi thông dòng vốn trong nước. Đó là việc nâng tỷ lệ
sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam cũng như xây
dựng các quy định rõ ràng về giao dịch và công bố thông tin để bảo đảm quyền lợi
nhà đầu tư nhỏ.
Thứ ba, tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán và các thành
viên thị trường. Cần thu hẹp số lượng và nâng cao chất lượng đi kèm việc nâng cao
kiểm soát hoạt động cũng như tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính và xây
dựng hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán phù hợp.
Thứ tư, đẩy mạnh tái cấu trúc các tổ chức thị trường chứng khoán là hai Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội, Thành phố Hồ Chính Minh và Trung tâm Lưu kí chứng
khoán, thực hiện đề án thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam để thị trường
có thể vận hành thông thoáng và hiệu quả.
Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới cần nâng cao
hiệu quả quản lý, chức năng giám sát, cũng như xử lý vi phạm; đồng thời đẩy mạnh
công tác tuyên truyền quảng bá thị trường chứng khoán Việt Nam với các nhà đầu tư
nước ngoài,…
3.1.2

Định hướng chính sách cổ tức

Để thực hiện những mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán tăng trưởng bền
vững và ổn định cũng như được quốc tế đánh giá cao, thì việc xây dựng chính sách

61

cổ tức phù hợp có thể giúp tối đa hóa giá trị doanh nghiệp cũng như tối đa hóa tài sản
cổ đông cũng là một biện pháp có hiệu quả không nhỏ. Do vậy các doanhnghiệp niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần phải khắc phục được những mặt hạn
chế của chính sách cổ tức hiện có cũng như tìm ra được một chính sách cổ tức tối ưu,
phù hợp với doanh nghiệp của mình.
Thứ nhất, xây dựng chính sách cổ tức đi kèm với sự tăng trưởng bền vững
của doanh nghiệp. Trên thị trường chứng khoán thì hầu như tất cả các công ty đều
cố gắng duy trì mức cổ tức ổn định và thậm chí cao hơn so với sức mạnh cũng như
khả năng tài chính của doanh nghiệp. Để có mức cổ tức cao, thậm chí doanh nghiệp
phải chia hết lợi nhuận thu được, không dự phòng tài chính cho các khoản nợ ngắn
hạn. Mức cổ tức cao là một tín hiệu tốt cho nhà đầu tư nhưng thực tế giá trị cổ phần
trong dài hạn và tiềm năng phát triển dài hạn của doanh nghiệp không phản ánh
được. Do vậy, việc xây dựng chính sách cổ tức phù hợp với vòng đời phát triển của
doanh nghiệp là cần thiết.
Thứ hai, xây dựng chính sách cổ tức để tối đa hóa tài sản nhà đầu tư. Thu
nhập của nhà đầu tư gồm cả lãi vốn và cổ tức. Vậy việc lựa chọn hình thức chi trả
cổ tức phù hợp trong từng điều kiện, hoàn cảnh cần được các nhà quản trị quan tâm
để có thể tác động đến giá cổ phiếu theo mong muốn.
Thứ ba, xây dựng chính sách cổ tức phải có mục tiêu dài hạn. Đặt chính sách
cổ tức trong mối tương quan với chính sách đầu tư và chính sách tài trợ để có thể
xác định các cấu trúc vốn mục tiêu, cơ hội đầu tư, khả năng vay nợ, khả năng thanh
khoản, rủi ro kinh doanh,… để xác định tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu cũng như mức
độ ổn định của chính sách cổ tức và dự báo được sự biến động trong giá cổ phiếu.
Do vậy, việc xây dựng hệ thống dự báo tình hình tăng trưởng, phát triển và xây dựng
các kế hoạch phát triển ngắn và dài hạn là cần thiết.
Thứ tư, xây dựng chính sách cổ tức cần xác định nhà đầu tư chiến lược –
những nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ cổ phiếu lâu dài và sẵn sàng hy sinh lợi
nhuận ban đầu (cổ tức) để dành vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp. Mục tiêu cuối
cùng của doanh nghiệp vẫn là tăng trưởng và lợi nhuận. Do vậy, chính sách cổ tức

62

phù hợp cũng nhằm mục đích nâng cao giá trị của doanh nghiệp, nâng cao giá trị cổ
phần, chứ không phải để thỏa mãn các nhà đầu tư ngắn hạn. Nhưng chính các nhà
đầu tư này lại mang lại tính thanh khoản cho cổ phiếu của doanh nghiệp.
3.2 Lựa chọn chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức nói chung bao gồm ba thành tố quan trọng. Thứ nhất, đó là
tỷ lệ chi trả cổ tức là bao nhiêu, thứ hai, nên thực hiện chi trả cổ tức dưới hình thức
nào, và cuối cùng, việc chi trả cổ tức nên được thực hiện với mức độ ổn định như
thế nào, tức là quỹ phân phối hàng năm ở một mức độ ổn định hay thay đổi thường
xuyên.
3.2.1

Tỷ lệ chi trả cổ tức

Mô hình (1) ở chương 2 đã xác định mối tương quan cùng chiều giữa chính
sách cổ tức và giá cổ phiếu niêm yết. Cụ thể, giá cổ phiếu niêm yết (P) biến động
cùng chiều với mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DIV), lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
(EPS) và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại (r). Điều này có các ý nghĩa sau:
- Tăng 1 đồng cổ tức sẽ làm giá cổ phiếu tăng 1,130821 đồng trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi (mối quan hệ cùng chiều giữa DIV và P);
- Tăng 1 đồng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu sẽ làm giá cổ phiếu tăng 1,495694
đồng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (mối quan hệ cùng chiều giữa EPS
và P);
- Tăng 1% tỷ lệ lợi nhuận giữ lại sẽ làm giá cổ phiếu tăng 0,24303122 đồng
trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (mối quan hệ cũng chiều giữa r và P)
Do vậy một doanh nghiệp muốn tối đa hóa giá trị cổ phần cần phải có một sự
tăng trưởng cao và ổn định, đồng thời phải cân đối được mức cổ tức chi trả và lợi
nhuận giữ lại để tái đầu tư hợp lý. Nếu lợi nhuận tăng trưởng cao và đều đặn thì nhà
quản trị có thể vừa nâng cao mức cổ tức chi trả và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tác động
đến giá cổ phiếu theo mong muốn. Nhưng nếu lợi nhuận giảm hoặc không đổi qua
các năm thì sự đánh đổi của việc chi trả cổ tức cao sẽ dẫn đến lợi nhuận giữ lại thấp,
do vậy giá cổ phiếu chưa chắc đã tăng thậm chí có thể sụt giảm. Do vậy, việc xây
dựng một tỷ lệ chi trả cổ tức tối ưu không hề đơn giản và cần xem xét các nhân tố:

63

Thứ nhất, các cơ hội đầu tư của công ty.
Chu kì sống của một công ty bao gồm bốn giai đoạn: Tăng trưởng, phát triển,
bão hòa và suy thoái. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, nhu cầu về lượng tiền mặt của
doanh nghiệp là khác nhau. Về mặt lý thuyết, chỉ giai đoạn phát triển là giai đoạn mà
doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư và phát triển nhất do đó cần phát huy tối đa chính
sách chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để có thể giữ lại lợi nhuận – nguồn vốn có chi phí
sử dụng thấp nhất – dùng cho tái đầu tư mở rộng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác
định ranh giới của bốn giai đoạn trên là không đơn giản. Mặt khác, nếu đã là một
công ty đang hoạt động liên tục, không có dấu hiệu phá sản thì chu kỳ sống trên chỉ
được coi là đơn nhất, còn toàn bộ chu kỳ sống của một doanh nghiệp thông thường
bao gồm rất nhiều chu kỳ phát triển nối tiếp, gối đầu nhau. Do vậy cần chú trọng đến
các yếu tố như: nhu cầu luồng tiền, vị thế công ty trên thị trường. Các doanh nghiệp
trên thị trường phần lớn là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là ở sàn giao
dịch chứng khoán Hà Nội, quy mô của các doanh nghiệp là còn nhỏ hơn nhiều so với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là một bất lợi của các doanh nghiệp
niêm yết khi cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp nước ngoài.
Cơ hội đầu tư của công ty còn phụ thuộc vào tình hình chung của nền kinh tế.
Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam đang ở mức tăng trưởng nhanh, vào là một trong
những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Thị trường tài chính nói chung
và thị trường chứng khoán nói riêng còn non trẻ và đang từng bước hoàn thiện, nhưng
lại có mức tăng trưởng cao, nhà đầu tư ngày càng có kiến thức và am hiểu lĩnh vực
này. Các doanh nghiệp đã tận dụng được các điều kiện kinh tế thuận lợi của đất nước
để đạt được các tốc độ tăng trưởng ngày càng cao. Theo chiến lược phát triển kinh tế
đến năm 2020, nước ta sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, do vậy,
các cơ hội tăng trưởng dành cho các doanh nghiệp ngày càng nhiều. Do đó, các doanh
nghiệp nên giữ lại lợi nhuận để sẵn sàng đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư này. Nghĩa
là tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức thấp nên được các doanh nghiệp áp dụng trong thời gian
tới.
Thứ hai, cơ cấu vốn mục tiêu của công ty và chi phí sử dụng vốn bên

64

ngoài.
Cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty là khác nhau tùy theo đặc điểm của
công ty và của ngành mà công ty đó đang hoạt động. Nhưng do chi phí sử dụng vốn
từ nguồn vốn bên ngoài đặc biệt là nguồn vốn vay trong nhiều thời kỳ là tương đối
cao, cụ thể là trong những năm mà chính phủ thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát.
Chẳng hạn như năm 2011, chính phủ đang thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm
phát ở mức 7%, lãi suất ngân hàng đã tăng lên cao, làm cho các doanh nghiệp không
thể vay được vốn cho hoạt động kinh doanh cũng như huy động vốn trên thị trường
trái phiếu. Như vậy, xu hướng về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam nên
thiên về vốn cổ phần thường, trong đó nguồn vốn giữ lại phải mang ý nghĩa chiến
lược cho các doanh nghiệp. Nghĩa là các doanh nghiệp nên ưu tiên giữ lại lợi nhuận
ở mức cao và chi trả cổ tức thấp để đáp ứng yêu cầu cấu trúc vốn này.
Thứ ba các ưu tiên của cổ đông về mức cổ tức cao hay thấp.
Các ưu tiên này của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam là
chưa rõ ràng. Các nhà đầu tư đều có tâm lý thích chi trả cổ tức ở mức cao. Tuy nhiên,
ở nhóm các nhà đầu tư dài hạn, xu hướng lựa chọn mức chi trả cổ tức vừa phải để
dành vốn cho tái đầu tư vẫn cao hơn ở nhóm các nhà đầu tư ngắn hạn. Nhưng có một
mâu thuẫn ở đây, các nhà đầu tư ngắn hạn là các nhà đầu tư tiến hành giao dịch nhiều
để hưởng lãi vốn, nguồn thu nhập chủ yếu của họ vẫn được xem là lãi vốn, thì các cổ
phiếu có cổ tức cao dẫn đến mức biến động giá lớn thường được các nhà đầu tư này
chú trọng. Họ muốn cổ phiếu có mức cổ tức cao là để đạt được các mức lãi vốn hấp
dẫn. Vì vậy, doanh nghiệp rất khó có thể thỏa mãn đồng thời tất cả các sở thích của
nhà đầu tư. Vừa có thể chi trả cổ tức bằng tiền mặt cao vừa đồng thời có vốn tích lũy
để tái đầu tư mở rộng sản xuất là hai nhu cầu không thể đáp ứng cùng lúc. Vì vậy,
cũng như các tổ chức kinh doanh khác phải phân đoạn thị trường, chọn đoạn thị
trường mục tiêu, xác định và lựa chọn nhóm khách hàng phục vụ, các công ty cổ
phần cũng phải xác định các cổ đông chiến lược của mình, thông thường đó là
những nhà đầu tư chiến lược, đầu tư dài hạn, luôn sẵn

65

sàng góp vốn vào công ty, chấp nhận cổ tức ban đầu thấp để kỳ vọng vào một mức
cổ tức cao hơn hoặc một khoản lãi vốn trong tương lai. Tuy nhiên, xu thế này là không
tồn tại mãi mãi khi thị trường chứng khoán ngày càng phát triển, nhà đầu tư ngày
càng có trình độ đầu tư cao.
Tổng quát các biến số trên, chúng ta có thể thấy rằng chính sách cổ tức với tỷ
lệ chi trả thấp hoặc có thể không chi trả cổ tức là phù hợp với các doanh nghiệp trên
thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh.
3.2.2

Hình thức chi trả cổ tức tối ưu

Để có thể lựa chọn hình thức chi trả cổ tức nào, Ban quản lý cũng phải phân tích
ưu, nhược điểm của từng phương thức và cân nhắc cả đặc điểm của công ty cũng như
đặc điểm của thị trường hiện tại. Hình thức cổ tức tối ưu phụ thuộc vào ưu tiên của
nhà đầu tư là muốn nhận thu nhập bằng lãi vốn hay bằng tiền mặt. Nếu như từ năm
2007 trở về trước chỉ một số ít các nhà đầu tư ngắn hạn thích chi trả cổ tức bằng tiền
mặt, còn lại phần lớn đều thích chi trả bằng cổ phiếu hoặc vừa bằng cổ phiếu vừa
bằng tiền mặt thì từ năm 2008 trở đi, hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu không
còn được nhiều nhà đầu tư ưa thích do thị trường bị suy giảm.
Nếu xét về thuế thu nhập cá nhân thì có lẽ Chính phủ đang ủng hộ chi cổ tức
bằng tiền mặt áp dụng mức thuế suất 5% trên cổ tức và 20% trên lãi vốn tính cho
cả năm (hoặc 0,1% trên mỗi lần giao dịch). Trong ngắn hạn những năm tới, mức
thuế suất này sẽ không đổi. Nhưng về dài hạn thì chắc chắn mức thuế suất thuế thu
nhập cá nhân sẽ tăng lên khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên.
Đồng thời, để cho thị trường tài chính Việt Nam phát triển lành mạnh thì chính sách
thuế thu nhập cá nhân sẽ có xu hướng tiến đến sự không phân biệt giữa cổ tức tiền
mặt và lãi vốn như chính sách thuế của Mỹ. Hiện nay, các hình thức chia cổ tức
bằng cổ phiếu thưởng hay mua lại cổ phần cũng được áp dụng. Nhưng về dài hạn,
việc mua lại cổ phần để trả cổ tức là ít thích hợp đối với một thị trường chứng khoán
còn mới mẻ và cần huy động nhiều vốn, cũng như cần nhiều hàng hoá để phát triển
như thị trường chứng khoán Việt Nam. Vậy, hình thức cổ tức

66

tiền mặt vẫn là hình thức chủ đạo theo quan điểm của bài nghiên cứu này. Ngoài ra,
các doanh nghiệp có thể linh động áp dụng các hình thức cổ tức bằng cổ phần hoặc
cổ tức bằng tài sản cũng như chia, tách cổ phiếu nhằm đạt sự phù hợp với nguyện
vọng của các cổ đông và tối đa hóa giá trị cổ phần.
3.2.3

Mức độ ổn định của chính sách chi trả cổ tức

Mô hình (2) ở những phần trên đã kiểm định mối quan hệ giữa sự thay đổi trong
cổ tức chi trả và sự thay đổi trong giá cổ phiếu trên thị trường và đã chỉ ra rằng các
doanh nghiệp có chính sách cổ tức ổn định hay chi trả với mức cổ tức tăng nhẹ
thường xuyên thường có xu hướng là giá cổ phiếu tăng với tốc độ rất cao qua các
năm. Cụ thể, trung bình nếu một doanh nghiệp không thay đổi cổ tức qua các năm
thì doanh nghiệp này có giá cổ phiếu trên thị trường tăng lên tới 58% trong năm đó.
Còn nếu tỷ suất cổ tức tăng 1% sẽ làm giá cổ phiếu tăng 1,987846% trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi. Mô hình cũng khuyên các doanh nghiệp không nên có
những biến động giảm tỷ suất cổ tức quá cao, khi tỷ suất cổ tức giảm trên 29,22%
thì giá cổ phiếu trên thị trường lại có xu hướng giảm. Như vậy, một doanh nghiệp có
mức cổ tức ổn định được các nhà đầu tư ưa thích hơn là các doanh nghiệp có mức
cổ tức thay đổi. Đây dường như là đặc trưng về tác động phát tín hiệu của chính sách
cổ tức. Nhưng các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán phần lớn là còn có quy
mô nhỏ, tốc độ tăng trưởng cao nên chính sách cổ tức lợi nhuận giữ lại thụ động
được ưu tiên như lập luận ở các phần trên, thì bằng cách nào các doanh nghiệp có
thể thực hiện chi trả cổ tức với các mức ổn định qua các năm? Các doanh nghiệp
hoàn toàn có thể áp dụng cho mình chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động nhưng vẫn
giữ được mức cổ tức ổn định, bằng cách kết hợp linh hoạt giữa các chính sách cổ tức
này với chính sách cổ tức tiền mặt ổn định và chính sách cổ tức định kỳ thấp cộng
với cổ tức tăng thêm.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có thể
thực hiện hai cách sau đây. Đầu tiên, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận khá cao
trong những năm có nhu cầu vốn cao. Nếu công ty tiếp tục tăng trưởng, các giám
đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ

67

tức. Thứ hai, doanh nghiệp có thể vay vốn cho nhu cầu vốn mà mình cần và do đó
tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh trường hợp giảm cổ tức.
Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính
sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức. Sau đó, doanh nghiệp có thể
giữ lại lợi nhuận hay bán cổ phần mới để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về với mức
thích hợp.
Đồng thời, các doanh nghiệp cũng phải hiễu rõ mục tiêu cũng như cách thức
thực hiện chính sách lợi nhuận giữ lại với các bước như sau:
Thứ nhất, dự đoán thu nhập và các cơ hội đầu tư ở mức trung bình trong một
khoảng thời gian ít nhất là năm năm tới.
Thứ hai, sử dụng những thông tin này để xác định lượng thu nhập trung bình
để trả cổ tức, tỷ lệ trả cổ tức theo chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động trong khoảng
thời gian mà doanh nghiệp đã lập kế hoạch.
Thứ ba, sau đó, đề ra chính sách trả cổ tức mục tiêu dựa trên các dữ liệu đã dự
đoán. Như vậy, những doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam nên sử
dụng mô hình lợi nhuận giữ lại thụ động để thiết lập tỷ lệ trả cổ tức mục tiêu trong
dài hạn, chứ không phải là cách thức xác định tỷ lệ chi trả cổ tức cho mỗi một năm.
Từ đó, các doanh nghiệp có thể duy trì được mức cổ tức ổn định qua các năm.
Các công ty nên sử dụng chính sách này một cách có nguyên tắc và phải được
thực hiện bằng một mô hình dự báo tài chính trên máy vi tính. Thông tin về chi phí
sử dụng vốn dự kiến và yêu cầu vốn luân chuyển được đưa vào mô hình cùng với các
dự báo lượng hàng bán, lợi nhuận biên, khấu hao, và các yếu tố khác cần thiết cho
việc dự báo dòng tiền. Cấu trúc vốn mục tiêu cũng phải được xác định rõ ràng. Mô
hình này sẽ tính ra lượng vốn vay và vốn cổ phần để đáp ứng yêu cầu ngân sách vốn
trong khi duy trì được cấu trúc vốn mục tiêu. Các công ty có thể dùng mô hình này
để thiết lập một tỷ lệ chi trả cổ tức trong một khoảng thời gian dự kiến để đảm bảo
vốn cổ phần đủ để hỗ trợ ngân sách vốn mà không cần phải bán ra cổ phiếu phổ thông
mới hay thay đổi cấu trúc vốn mục tiêu.

68

3.3 Giải pháp nâng cao giá trị cổ phần của doanh nghiệp
Giá cổ phiếu do rất nhiều yếu tố tác động. Việc phân chia hợp lý một tỷ lệ giữa
trả cổ tức và lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư như đã trình bày ở trên chỉ là một trong
những biện pháp để nâng cao hình ảnh công ty niêm yết. Việc cần làm là xây dựng
nên bộ ba chính sách cổ tức, tài trợ và đầu tư phù hợp để duy trì tình hình tài chính
lành mạnh, quản trị tài chính tốt mới chính là yếu tố tác động tích cực đến giá cổ
phiếu niêm yết trên thị trường.
3.3.1

Giải pháp về đầu tư

Dựa vào kết quả nghiên cứu mô hình 1 ta thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ
lệ lợi nhuận giữ lại và giá cổ phiếu niêm yết. Theo lý thuyết phân phối lợi nhuận thì
lợi nhuận giữ lại được ưu tiên nhất, kế đó là phát hành cổ phần mới và cuối cùng là
vốn vay. Trong khi đó, ở Việt Nam, chủ yếu nâng vốn bằng biện pháp vay vốn, nhất
là vay ngân hàng, việc phát hành trái phiếu rất ít. Đây là một cách thức không an toàn,
biến doanh nghiệp thành con nợ, và phải chịu áp lực lãi suất rất lớn. Việc này sẽ làm
sụt giảm giá cổ phiếu trong thời gian dài.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chủ yếu là
các doanh nghiệp yếu kém, cổ phần hóa để cải cách điều hành, vực dậy doanh nghiệp,
lẽ ra phải ưu tiên đẩy mạnh quá trình tích lũy vốn thì hầu hết lại chi trả cổ tức cho cổ
đông ở mức cao. Đối với các doanh nghiệp cổ phần đã niêm yết, nâng vốn chủ sở hữu
có thể thông qua phát hành cổ phần mới, nhưng cách này lại tốn chi phí. Do vậy chủ
yếu các doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền mặt dẫn đến hao hụt nguồn tiền. Vậy
làm sao để cân đối lợi nhuận để chi trả cổ tức và giữ lại để tái đầu tư. Việc cần làm là
xác định nhu cầu đầu tư.
Việc đầu tư được nói đến ở đây trước hết là đầu tư công nghệ mới. Bởi yếu tố
công nghệ, kỹ thuật là một trong những yếu tố năng động nhất chứa nhiều cơ hội và
thách thức đối với doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Hiện nay, trình độ công nghệ và tảng thiết bị của hầu hết các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn còn lạc hậu so với thế giới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế thì đây là
trở ngại lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc cạnh tranh với các công ty

69

nước ngoài. Và đổi mới công nghệ là nhu cầu không thể thiếu của các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung và các công ty niêm yết nói riêng nhằm nâng cao giá trị doanh
nghiệp.
Phát triển công nghệ luôn đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Do đó, để đảm bảo hiệu
quả đầu tư thì khi đầu tư đổi mới công nghệ, các công ty niêm yết phải xem xét trên
mọi phương diện; dự đoán đúng cung cầu sản phẩm, dịch vụ của thị trường; tính chất
cạnh tranh; phân tích, đánh giá và lựa chọn công nghệ phù hợp. Dự án đầu tư phải
đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro; chiến lược huy động vốn
đầu tư thích hợp trên cơ sở phát huy cao nhất năng lực nội tại và khai thác tối đa
nguồn vốn trong và ngoài nước để tăng trưởng giá trị cổ phần trong dài hạn.
3.3.2

Giải pháp về quản lý

Quản trị công ty trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay vốn là vấn
đề rất khó. Việc đưa ra các quyết định tài chính chính xác và hiệu quả lại càng khó
hơn. Do vậy, ngay từ đầu, các nhà quản trị cần hiểu rõ tầm quan trọng của cả ba quyết
định tài chính: phân phối, tài trợ và đầu tư.
Mỗi công ty có một đặc điểm riêng, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và
chịu tác động của những nhân tố khác nhau. Trong từng hoàn cảnh, điều kiện kinh
doanh cụ thể, các công ty phải có chiến lược và quan điểm kinh doanh của riêng mình.
Vì vậy không thể xây dựng một chính sách cổ tức hay một công thức chuẩn mực
chung cho tấc cả các công ty ở mọi thời điểm. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng
của chính sách cổ tức là điều kiện tiên quyết để xây dựng một chính sách cổ tức nhằm
tối ưu hóa giá trị cổ phần.
Sau khi lựa chọn được một chính sách cổ tức phù hợp tạo ra nguồn vốn tối ưu.
Việc cần thiết là doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ đó. Do vậy, doanh
nghệp cần xây dựng một chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn và
dài hạn. Chiến lược phát triển cần phải hướng đến hay thỏa mãn mọi đối tượng: khách
hàng, người lao động, cổ đông và cộng đồng. Chính những điều nàu góp phần tạo nên
sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp.
Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực cũng là vấn đề được quan tâm của các

70

doanh nghiệp nói chung và công ty niêm yết nói riêng. Trên cơ sở xây dựng một môi
trường làm việc tốt để thu hút, sử dụng, phát triển và giữ chân người tài. Môi trường
làm việc gồm cả hai yếu tố là phần cứng và phần mềm. Phần cứng ở đây là cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho công việc; còn phần mềm là quan hệ giữa đồng nghiệp,
cấp trên cấp dưới, đó chính là sự tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.
Thực hiện công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp cũng là một khâu rất
quan trọng để gia tăng sự tin tưởng của các cổ đông nhà đầu tư, từ đó làm gia tăng
giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Công ty nào cung cấp cho nhà đầu tư nhiều thông tin
tốt thì đương nhiên sẽ mời gọi nhà đầu tư dễ dàng hơn. Do vậy, doanh nghiệp niêm
yết cần xây dựng phòng công bố thông tin để cung cấp những thông tin tài chính của
công ty cũng như trả lời được những thắc mắc của cổ đông và cơ quan báo chí.
3.3.3

Giải pháp gia tăng lợi nhuận

Gia tăng lợi nhuận tức là có thể gia tăng cổ tức và nguồn vốn giữ lại để tái đầu
tư. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp đạt được cả hai mục đích là tối đa hóa tài sản cổ
đông và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Cụ thể, gia tăng lợi nhuận của hoạt động sản
xuất kinh doanh thì doanh nghiệp vừa phải tăng doanh thu, vừa phải giảm chi phí .
Để tăng doanh thu thì công ty cần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ dựa trên
việc nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu của khách hàng cũng như mở rộng thị trường tiêu
thụ, đẩy mạnh kênh phân phối và nâng cao hoạt động quảng cáo, marketing,...
Để kiểm soát được chi phí thì việc xây dựng các định mức chi phí nguyên vật
liệu, vật tư hàng hóa cũng như chi phí lao động, chi phí quản lý là điều cần thiết.
Tránh trường hợp để tồn kho nguyên vật liệu quá lớn mà không có nhu cầu sản xuất
gây ứ đọng và lãng phí vốn. Do vậy cần tăng cường công tác kiểm tra về quản lý, sử
dụng vật tư, hàng hóa chặt chẽ. Đồng thời nâng cao năng suất lao động, giảm bớt các
khâu trung gian không cần thiết để tiết kiệm chi phí tối đa.
3.4 Một số đề xuất khác
Đề xuất về chính sách thuế thu nhập từ cổ tức và thuế chuyển nhượng cổ phiếu:

Để thu hút các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán, cần có cơ chế
khuyến khích, trong đó thuế là một công cụ quan trọng.