Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4Khuyến nghị về mặt chính sách

CHƯƠNG 4Khuyến nghị về mặt chính sách

Tải bản đầy đủ

60

- Thông tư số 112/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan;
- Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 07/04/2009 của Bộ Tài chính hướng
dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Thông tư số 194/2009/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính hướng
dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Mỗi lần thay đổi ngành Hải quan phải tốn nhiều thời gian để tập huấn cho
công chức hải quan cũng như cộng đồng doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập
khẩu và phải mất một thời gian để công chức hải quan, doanh nghiệp nắm bắt và
áp dụng vào thực tế công việc. Sau thời gian thực hiện Tổng cục Hải quan phải
tập hợp các vướng mắc từ các hải quan địa phương, doanh nghiệp, rồi sau đó
tổng hợp trả lời các vướng mắc để thực hiện; bên cạnh đó, Bộ Tài chính, Tổng
cục Hải quan thường xuyên ban hành các văn bản vụ việc để hướng dẫn, trả lời
các vướng mắc khi thực hiện. Qua đó, ta cũng có thể thấy tính pháp lý trong
công tác hải quan không cao, thiếu ổn định, lại không rõ ràng dẫn đến khó thực
hiện. Vì vậy, khung pháp lý hoạt động sản xuất xuất khẩu là nhân tố có mức độ
ảnh hưởng cao đến rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất
khẩu. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo sát và phân tích ở chương 3.
4.1.2. Vấn đề quản lý nhà nước về hải quan của cơ quan hải quan
Để triển khai công tác quản lý nhà nước về hải quan ngành hải quan ban hành
các quy trình thủ tục hải quan để hướng dẫn thống nhất tuần tự các bước thực
hiện, các công việc cụ thể từng bước, cụ thể hóa trách nhiệm của từng các cá
nhân tham gia thực hiện trong các quy trình.

61

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cơ quan hải quan
từng bước chuyển từ tiền kiểm (kiểm tra trong thông quan) sang hậu kiểm (kiểm
tra sau thông quan) trên cơ sở đánh giá tính chấp hành pháp luật hải quan của các
đối tượng hoạt động xuất nhập khẩu. Hạn chế việc kiểm tra ở khâu thông quan,
tăng cường thu thập thông tin, kiểm soát, phúc tập hồ sơ, kiểm tra sau thông
quan, kiểm tra – thanh tra việc thực hiện pháp luật hải quan của các cấp ngành
hải quan.
Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các hiệp định
song phương, đa phương thì hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng.
Cũng như đáp ứng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế đối với hoạt động xuất nhập
khẩu thì việc thực hiện thủ tục hải quan truyền thống (hay còn gọi thủ tục hải
quan thủ công) không còn phù hợp nữa. Ngành hải quan đang từng bước áp dụng
thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Đây được xem là bước đột phá trong cải cách
thủ tục hải quan.
Còn đối với công tác quản lý hải quan hoạt động sản xuất xuất khẩu ngành
hải quan đã xây dựng quy trình quản lý hàng sản xuất xuất khẩu (theo Quyết
định số 1279/QĐ-TCHQ ngày 25/6/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục hải
quan), quy trình hoàn thuế, không thu thuế hàng sản xuất xuất khẩu (theo Quyết
đinh số 2424/QĐ-TCHQ ngày 27/11/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục hải
quan), triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử loại hình sản xuất xuất khẩu,
triển khai thanh khoản, hoàn thuế, không thu thuế hàng sản xuất xuất khẩu bằng
phần mềm.
Để thực hiện được các công việc trên cơ quan hải quan phải xây dựng hệ
thống thủ tục hải quan tuân thủ chuẩn mực, thông lệ quốc tế; Tiếp nhận đầy đủ,
phản hồi nhanh chóng, giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại

62

của khách hàng; Thực hiện cơ chế đảm bảo sự giám sát của khách hàng đối với
hoạt động nghiệp vụ hải quan (tức là xây dựng tính minh bạch). Đồng thời,
thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức hải quan thông thạo
nghiệp vụ, xử lý công việc tuân thủ đúng quy trình, thủ tục quy định; nhiệt tình,
tận tụy với công việc; văn minh, lịch sử trong hoạt động và ứng xử (tức là xây
dựng tính chuyên nghiệp). Đây là công việc lâu dài, thường xuyên. Từ đó, giảm
tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và thời gian thông
quan; Đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước về lĩnh vực Hải quan, và quản lý sự
tuân thủ pháp luật hải quan một cách hiệu quả (đây là tính hiệu quả).
Nhưng thực tế các quy trình thủ tục hải quan chưa thực sự đơn giản, còn
rườm rà, chưa rõ ràng, dễ hiểu nhầm. Bên cạnh đó, trình độ và nhận thức của cán
bộ, công chức hải quan không đồng đều và ngành hải quan áp dụng việc luân
chuyển cán bộ, công chức thường xuyên nhằm đào tạo một cách toàn diện cũng
như ngăn ngừng tiêu cực. Cho nên, việc thực hiện các công việc trên gặp không
ít trở ngại. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế còn phổ biến. Do
đó, rủi ro trong công tác hải quan nói chung công tác quản lý hải quan đối với
hoạt động sản xuất xuất khẩu nói riêng còn cao.
Vì vậy, một khi cơ quan hải quan hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu
quả thì tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế giảm xuống tức là rủi
ro trong công tác hải quan nói chung, công tác quản lý hải quan đối với hoạt
động sản xuất xuất khẩu nói riêng thấp. Ngược lại, một khi cơ quan hải quan
hoạt động chưa chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả thì tình trạng buôn lậu, gian
lận thương mại gia tăng tức là rủi ro trong công tác hải quan nói chung, công tác
quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu nói riêng tăng cao. Điều
này hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo sát và phân tích ở Chương 3.

63

4.1.3. Vấn đề phối hợp giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp trong hoạt
động sản xuất xuất khẩu
Trước đây, trong công tác quản lý nhà nước về hải quan doanh nghiệp được
coi là đối tượng quản lý. Mọi thủ tục hải quan từ khai báo liên quan chính sách,
chế độ mặt hàng đến áp mã, xác định trị giá, tính thuế đều do cơ quan hải quan
áp đặt. Do đó, doanh nghiệp luôn bị động khi thực hiện hoạt động xuất nhập
khẩu.
Từ khi Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, WTO, WCO,...
việc quản lý như trên không còn phù nữa. Nó không chỉ cản trở hoạt động
thương mại mà còn không phù với các chuẩn mực quốc tế khi Việt Nam đã
thành viên. Doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu phải được xem là đối tác, là
khách hàng cùng hợp tác với cơ quan hải quan khi thực hiện các hoạt động xuất
nhập khẩu. Việc này không chỉ giúp cho doanh nghiệp chủ động thực hiện thủ
tục hải quan, giảm bớt chi phí mà còn giúp cho cơ quan trong công tác quản lý
nhà nước về hải quan. Như mọi thủ tục hải quan đều do doanh nghiệp tự khai
báo trên cơ sở pháp luật về hải quan, tự chịu trách nhiệm về việc khai báo của
mình và cơ quan chỉ cần kiểm tra đại diện việc khai báo của doanh nghiệp trên
cơ sở xem xét quá trình chấp hành pháp luật về hải quan của doanh nghiệp.
Một khi doanh nghiệp chấp tốt pháp luật về hải quan như khai báo chính xác
các thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu, khai báo đầy đủ các thủ tục về
hoàn thuế, không thu thuế, khai báo trung thực về định mức... cũng như hợp tác
với cơ quan hải quan trong đấu tranh chống các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực;
một khi đội ngũ công chức hải quan có trình độ chuyên môn cao, được trang bị
máy móc, thiết bị hiện đại; và một khi các quy trình thủ tục hải quan rõ ràng,
minh bạch, phân rõ trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp và cơ quan hải

64

quan thì việc kiểm tra đại diện của cơ quan hải quan mới phát huy hiệu quả; mới
tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan, cũng như hạn
chế rủi ro cho cơ quan hải quan như buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế.
Ngược lại, một khi thiếu sự hợp tác từ phía doanh nghiệp thì công tác quản lý
nhà nước về hải quan của cơ quan hải quan gặp rất nhiều khó khăn và đầy rủi ro.
Điều này phù với kết quả khảo sát và phân tích ở Chương 3.
4.1.4. Về bản thân doanh nghiệp hoạt động sản xuất xuất khẩu
Các yếu tố liên quan đến doanh nghiệp là quy mô của doanh nghiệp như lớn,
vừa hay nhỏ; loại hình doanh nghiệp như cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tư nhân,
công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước
ngoài..., là doanh nghiệp đơn thuần hoạt động thương mại hay sản xuất, chế biến;
hàng hóa xuất nhập khẩu là loại có thuế suất cao hay thấp, có nhiều hay ít chủng
loại; trình độ và kinh nghiệm của Ban lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên trực
tiếp thực hiện thủ tục hải quan đều có ảnh hưởng đến rủi ro trong quản lý hải
quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu.
Thực tế những doanh nghiệp có quy mô lớn, là công ty cổ phần, nhất là có
vốn đầu tư từ nước ngoài, là công ty có hoạt động sản xuất, chế biến hàng hóa,
kinh doanh những mặt hàng có thuế suất thấp, với Ban lãnh đạo có trình độ cao,
nhiều kinh nghiệm, cũng như nhân viên trực tiếp thực hiện thủ tục hải quan am
hiểu sâu về pháp luật hải quan thì rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động
sản xuất xuất khẩu của những doanh nghiệp này là thấp. Ngược lại, những doanh
nghiệp là có quy mô nhỏ, là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH, là công
ty hoạt động chủ yếu về lĩnh vực thương mại, kinh doanh những mặt hàng có
thuế suất cao, với Ban lãnh đạo và nhân viên thực hiện thủ tục hải quan có ít
kinh nghiệm, chưa nắm vững pháp luật về hải quan thì rủi ro trong quản lý hải

65

quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu sẽ cao. Điều này, phù hợp với kết quả
khảo sát và phân tích ờ Chương 3.
4.2. Khuyến nghị chính sách
Kết thúc quá trình nghiên cứu, tác giả có một số khuyến nghị về mặt chính
sách nhằm giảm thiểu rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất
xuất khẩu.
4.2.1. Nâng cao tính pháp lý trong pháp luật hải quan
Bộ Tài chính thông qua Tổng cục Hải quan cần nhanh chóng tập hợp ý kiến
từ các chuyên gia trong và ngoài nước, các quy định, thông lệ quốc tế về hoạt
động hải quan mà Việt Nam tham gia, dự đoán trước các mối quan hệ phát sinh
trong tương lai qua việc học tập kinh nghiệm từ các nước và các hướng dẫn giải
quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 154/2005/NĐCP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hải
quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan để trình lên Chính phủ ban
hành Nghị định mới quy định chi tiết về công tác hải quan và thống nhất quy
định thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan thủ công để thay thế Nghị định
trên nhằm nâng cao giá trị pháp lý, tính nhất quán trong thủ tục hải quan. Cũng
như hạn chế phải ban hành thêm các Thông tư để hướng dẫn, đặc biệt hạn chế
ban hành các văn bản hướng dẫn tiến tới nội luật hóa chi tiết các quy định về
công tác hải quan.
4.2.2. Đào tạo và tổ chức thực hiện
Do loại hình sản xuất xuất khẩu là mảng công việc phức tạp và tốn nhiều
công sức để thực hiện. Trải qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng, tiếp nhận Danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu.
Bước 2: Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư.

66

Bước 3: Xây dựng, tiếp nhận định mức sản phẩm.
Bước 4: Xuất khẩu sản phẩm.
Bước 5: Thanh khoản hàng sản xuất xuất khẩu.
Cho nên, sắp xếp, bố trí công chức thực hiện phải có kiến thức chuyên môn
sâu về lĩnh vực sản xuất xuất khẩu. Trong quá trình luân chuyển cán bộ, công
chức cần chú ý theo hướng chuyên sâu.
Theo mỗi phân cấp quản lý mà mỗi đơn vị cần chủ động đào tạo tại chỗ cán
bộ, công chức thuộc quyền có đầy đủ kiến thức và thuần thục các thao tác trên
các phần mềm quản lý liên quan đến sản xuất xuất khẩu. Khi có điều kiện thì sắp
xếp, bố trí luân phiên tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu hoặc học tập kinh
nghiệm tổ chức thực hiện ở các đơn vị trong ngành.
Đồng thời, thành lập các Tổ giải quyết vướng mắc là những người có kinh
nghiệm, kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng giao tiếp tốt để hướng dẫn
doanh nghiệp các quy định về hoạt động sản xuất xuất khẩu, tháo gỡ các vướng
mắc cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
4.2.3. Hiện đại hóa công tác quản lý hàng sản xuất xuất khẩu
Với khối lượng công việc tăng liên tục trên 15% mỗi năm trong khi biên chế
không tăng thì công tác quản lý nhà nước về hải quan theo phương thức thủ công
không còn phù hợp nữa. Bước đầu triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử đã
mang lại nhiều lợi ích cho cả phía hải quan cũng như doanh nghiệp như giảm
thời gian thông quan lô hàng, tiết kiệm chi phí cho việc in ấn, đi lại, hạn chế tiếp
xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và hải quan.
Thực hiện thủ tục hải quan điện tử đã góp phần giảm tải mảng loại hình sản
xuất xuất khẩu. Trong 5 bước thực hiện thì từ bước 1 đến bước 4 đã thực hiện
được trên chương trình thông quan điện tử. Riêng bước 5 (thanh khoản thuế) đa

67

phần còn phải thực hiện thủ công. Trong khi bước 5 lại là bước phức tạp và mất
nhiều thời gian nhất mà hiện nay đa phần các phần mềm khai báo hải quan điện
tử doanh nghiệp sử dụng đều không có chức năng thanh khoản. Để thực hiện
được thanh khoản doanh nghiệp phải mua phần mềm có bản quyền mà các phần
mềm này tương đối tốn kém đối với các doanh nghiệp nhỏ có số lượng tờ khai
không nhiều. Việc thanh khoản bằng phần mềm không chỉ mang lại lợi ích cho
phía doanh nghiệp mà còn cả cho phía hải quan. Để động viên doanh nghiệp mua
phần mềm ngành hải quan cần hợp tác với các nhà cung cấp phần mềm, có thể
chọn một công ty có uy tín bán phần mềm có trợ giá, lấy nguồn trợ giá từ nguồn
thu lệ phí hải quan. Về lâu dài ngành hải quan nên mua phần mềm và cung cấp
lại miễn phí cho doanh nghiệp thì lợi ích mang lại sẽ to lớn hơn và hạn chế sai
sót trong quá trình thực hiện.
4.2.4. Quản lý rủi ro hoạt động sản xuất xuất khẩu
Áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan đã được thực hiện
từ đầu năm 2006 thông qua việc Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số
2148/QĐ-TCHQ về Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải
quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại, có hiệu lực áp dụng từ
ngày 01/01/2006. Đến ngày 04/7/2008 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số
48/2008/QĐ-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ
hải quan và ngày 10/7/2009 Tổng cục Hải quan ban hành Quyết định số 35/QĐTCHQ quy định chi tiết áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại. Việc áp dụng quản lý rủi ro trong
hoạt động nghiệp vụ hải quan đã có những bước chuyển biến quan trọng trong
việc tạo thuận lợi thương mại đồng thời đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp
luật hải quan. Những kết quả này đã được lãnh đạo Bộ Tài chính, các Bộ, ngành

68

liên quan và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá và ghi nhận. Nhưng việc quản lý
rủi ro hoạt động sản xuất xuất khẩu vẫn chưa được chú trọng. Mặc dù, quản lý
nhà nước về hải quan hoạt động sản xuất xuất khẩu là công việc phức tạp, ngành
hải quan phải tốn nhiều công sức để quản lý nhưng tình hình gian lận về thuế qua
hoạt động sản xuất xuất khẩu còn cao. Công việc hoàn thuế, không thu thuế hàng
sản xuất xuất khẩu còn thực hiện thủ công. Việc đánh giá đối tượng ưu tiên trong
công tác thanh khoản thuế vẫn còn nhiều bất cập, chưa định lượng cụ thể.
Để giảm bớt áp lực đối với ngành hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động sản
xuất xuất khẩu, ngành hải quan nhất thiết phải áp dụng sâu rộng quản lý rủi ro
vào công tác quản lý hoạt động sản xuất xuất khẩu. Đặc biệt, áp dụng quản lý rủi
ro đối với công tác hoàn thuế, không thu thuế hàng sản xuất xuất khẩu trên cơ sở
xây dựng các tiêu chí rủi ro hoạt động sản xuất xuất khẩu và ứng dụng CNTT
vào công tác thanh khoản thuế hàng sản xuất xuất khẩu.
4.2.5. Xây dựng cơ chế tiếp nhận và phản hồi thông tin từ doanh nghiệp và
cơ chế giám sát hoạt động hải quan
Ngày nay, doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu được xem là đối tác của
cơ quan hải quan trong thực thi pháp luật về hải quan. Sự phối hợp từ phía doanh
nghiệp đã đóng góp rất lớn giảm tải công việc cho cơ quan hải quan, hạn chế rủi
ro cho công chức hải quan khi thực hiện nhiệm vụ. Điều này đã được lãnh đạo
Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan chỉ đạo, quán triệt cho toàn thể ngành hải quan.
Trong bối cảnh mới doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ là đối tác
mà phải được xem là khách hàng khi thực hiện thủ tục hải quan. Điều này được
quy định trong Tuyên ngôn phục vụ khách hàng với phương châm hành động
“Chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả” mà ngành hải quan đã đề ra. Để cụ thể
hóa Tuyên ngôn trên cần phải xây dựng “cơ chế tiếp nhận và phản hồi thông tin

69

từ doanh nghiệp” nhằm tạo cho doanh nghiệp (được xem là khách hàng) có điều
kiện phản ánh các bất cập về thủ tục hải quan, chính sách thuế xuất khẩu, nhập
khẩu hoặc thái độ phục vụ của công chức hải quan, cũng như nhận được việc
cung cấp thông tin và phản hồi thông tin từ cơ quan hải quan. Đồng thời, xây
dựng “cơ chế giám sát hoạt động hải quan” để mọi người dân có điều kiện phản
ánh các hoạt động hải quan của cơ quan hải quan, doanh nghiệp xuất nhập khẩu
cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan.
* Kết luận chương 4
Qua kết quả khảo sát và phân tích ở những chương trước đã xác định 4 nhóm
nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất
xuất khẩu. Trên cơ sở đó, trong chương này tác giả đã đề xuất 5 khuyến nghị.
Mỗi khuyến nghị đều nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của các nhóm
nhân tố ảnh hưởng để tiến đến mục tiêu làm giảm thiểu rủi ro trong quản lý hải
quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu. Tác giả hy vọng các khuyến nghị này
sẽ là các giải pháp hữu ích, có thể áp dụng ngay vào thực tiễn góp phần nâng quả
hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động sản xuất
xuất khẩu.

70

KẾT LUẬN
Quản lý HQ hoạt động SXXK là một mảng công tác phức tạp. Giống như
hoạt động gia công XK, hoạt động SXXK cũng là hình thức XK lao động tại
chỗ. Việc quản lý HQ hoạt động SXXK ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của cơ
quan quản lý còn phải tạo điều kiện cho hoạt động SXXK phát triển. Điều đó,
không chỉ góp phần giải quyết công ăn, việc làm mà còn góp phần đưa hàng hóa
Việt Nam xâm nhập vào thị trường ngoài nước. Trong các năm qua hoạt động
XNK trên địa bàn quản lý của Cục Hải quan TP. Cần Thơ liên tục tăng, nhất là
loại hình SXXK, là loại hình có số lượng tờ khai HQ xuất khẩu, nhập khẩu và
kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu chiếm tỉ lệ cao nhất. Do đó, vấn đề đặt ra là làm
sao quản lý hoạt động SXXK hiệu quả nhất trong khi khối lượng công việc ngày
càng tăng mà biên chế tăng không đáng kể, từ đó góp phần phát triển kinh tế, xã
hội ở địa phương. Luận văn đã bước đầu định danh và định lượng được 4 nhóm
nhân tố có ảnh hưởng đến RR trong quản lý HQ đối với hoạt động SXXK. Qua
đó, Luận văn cũng đã đề xuất 5 khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu
quả của 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng. Việc triển khai đồng bộ 5 khuyến nghị này
vào thực tiễn, tác giả hy vọng rằng công tác QLNN về HQ đối với hoạt động
SXXK sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, thúc đẩy hoạt động SXXK phát triển, nâng
cao vị thế của cơ quan HQ, góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương.
Kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo:
Qua nghiên cứu, tác giả đã xác định được những nhân tố ảnh hưởng và đề
xuất các khuyến nghị để giảm thiểu RR trong quản lý HQ đối với hoạt động
SXXK. Từ kết quả nghiên cứu này, có thể mở rộng hơn để tìm ra mô hình giảm
thiểu RR trong quản lý HQ đối với hoạt động XNK. Theo tác giả đây sẽ là đề tài
mang tính thực tiễn cao, góp phần cải cách công tác quản lý nhà nước về HQ.