Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2Quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu thuộcđịa bàn Hải quan Cần Thơ

CHƯƠNG 2Quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu thuộcđịa bàn Hải quan Cần Thơ

Tải bản đầy đủ

28

đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực và hoạt động xuất nhập
khẩu trên địa bàn.
Trong các năm qua, mặc dù so với khu vực miền Đông Nam bộ hoạt động
xuất nhập khẩu trên địa bàn Hải quan Cần Thơ còn khiêm tốn, nhưng tốc độ hoạt
động xuất nhập khẩu liên tục tăng trong các năm qua. Năm 2006 kim ngạch xuất
nhập khẩu qua Hải quan Cần Thơ đạt 1.193 triệu USD, với số lượng tờ khai đăng
ký làm thủ tục hải quan là 13.400 tờ khai thì đến năm 2010 kim ngạch xuất nhập
khẩu qua Hải quan Cần Thơ đạt 1.530 triệu USD, với số lượng tờ khai đăng ký
làm thủ tục hải quan là 21.000 tờ khai.
Với lợi thế là vùng có nguồn nguyên liệu nông sản, thủy hải sản lớn, khí hậu
ôn hòa, hệ thống giao thông thuận lợi, có lực lượng lao động dồi dào phần lớn là
lao động trẻ, có tay nghề, có khả năng tiếp thu và vận hành được các quy trình
công nghệ hiện đại, với giá nhân công thấp là yếu tố thuận lợi cho hoạt động sản
xuất xuất khẩu. Trong các năm qua hoạt động sản xuất xuất khẩu luôn chiếm tỉ
trọng cao trong hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn, với các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu là nông sản, thủy hải sản đã qua chế biến, may mặc, giày dép và
với nguồn nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu sản xuất giày dép,
quần áo, các loại hóa chất. Qua đó, đã giải quyết vấn đề đầu ra cho nông thủy hải
sản của khu vực và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Năm 2006 kim
ngạch qua hoạt động sản xuất xuất khẩu trên địa bàn chiếm tỉ trọng 25% kim
ngạch xuất nhập khẩu, số lượng tờ khai chiếm 35% số lượng tờ khai đã đăng ký.
Đến năm 2010 kim ngạch qua hoạt động sản xuất xuất khẩu trên địa bàn chiếm tỉ
trọng 35% kim ngạch xuất nhập khẩu, số lượng tờ khai chiếm 47% số lượng tờ
khai đã đăng ký.

29

2.1.2. Mô hình quản lý hoạt động SXXK của Hải quan Cần Thơ

Cục Hải quan TP Cần Thơ
Giám sát, kiểm tra

Chi cục Hải quan trực thuộc

Tổ chức, thực hiện

Đội / Bộ phận quản lý
Trực tiếp, thực hiện

Công chức quản lý
Quy trình quản lý
hoạt động SXXK

Công chức quản lý
Quy trình thanh
khoản thuế nhập khẩu
Phối hợp

Công chức quản lý
Quy trình quản lý
rủi ro
Phối hợp

Hình 2.1: Mô hình quản lý hoạt động SXXK của Hải quan Cần Thơ
2.2. Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với nguyên liệu, vật tư nhập
khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu
2.2.1. Quy trình sản xuất xuất khẩu

30

Trong lĩnh vực hải quan hoạt động sản xuất xuất khẩu được hiểu là hoạt
động nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng hóa nhằm mục đích xuất
khẩu. Hoạt động này trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn một là hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, vật tư.
Trong giai đoạn này doanh nghiệp sản xuất trong nước tiến hành ký kết hợp
đồng mua bán (gọi là hợp đồng nhập khẩu) với đối tác nước ngoài để nhập khẩu
nguyên liệu, vật tư.
- Giai đoạn hai là hoạt động sản xuất hàng hóa.
Trong giai đoạn này doanh nghiệp sản xuất trong nước tiến hành hoạt động
sản xuất hàng hóa từ toàn bộ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu trong giai đoạn một
hoặc từ nguồn nhập khẩu trong giai đoạn một với một phần mua trong nước.
- Giai đoạn ba là hoạt động xuất khẩu hàng hóa.
Trong giai đoạn này doanh nghiệp sản xuất trong nước tiến hành ký kết hợp
đồng mua bán (gọi hợp đồng xuất khẩu) với đối tác nước ngoài để xuất khẩu
hàng hóa được sản xuất trong giai đoạn hai.
Trong hoạt động sản xuất xuất khẩu hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất
khẩu là hai hợp đồng riêng biệt nhau.
So với hoạt động gia công cho đối tác nước ngoài, hoạt động sản xuất xuất
khẩu có những điểm giống và khác nhau như sau:
- Giống nhau:
+ Về bản chất cả hai đều là xuất khẩu lao động tại chỗ.
+ Về quy trình hoạt động cả hai đều trải qua ba giai đoạn: Nhập khẩu
nguyên liệu, vật tư - sản xuất hàng hóa - xuất khẩu hàng hóa.
+ Về chính sách thuế GTGT cả hai đều không phải chịu thuế GTGT ở khâu
nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu.

31

- Khác nhau:
+ Về tính độc lập tự chủ của chủ thể kinh doanh:
Trong hoạt động sản xuất xuất khẩu doanh nghiệp sản xuất trong nước có
quyền nhập khẩu nguyên liệu, vật tư của những đối tác ở những nước khác nhau
và xuất khẩu hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu trên cho
một hay nhiều đối tác khác nhau ở những nước khác nhau. Trong hoạt động sản
xuất xuất khẩu hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu là hai hợp đồng riêng
biệt nhau.
Còn trong hoạt động gia công cho đối tác nước ngoài, bên nhận gia công
phụ thuộc vào bên đặt gia công về mẫu mã hàng hóa, nguyên liệu, vật tư nhập
khẩu, số lượng, thị trường xuất khẩu. Trong hoạt động gia công cho đối tác nước
ngoài chỉ có duy nhất một hợp đồng gia công cho cả hoạt động nhập khẩu
nguyên liệu, vật tư lẫn hoạt động xuất khẩu hàng hóa.
- Về chính sách thuế nhập khẩu:
Hoạt động gia công cho đối tác nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối
với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu.
Còn hoạt động sản xuất xuất khẩu phải chịu thuế nhập khẩu đối với nguyên
liệu, vật tư nhập khẩu và sẽ được xét hoàn thuế, không thu thuế đối với nguyên
liệu, vật tư nhập khẩu sau khi xuất khẩu hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu,
vật tư nhập khẩu trên.
2.2.2. Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với nguyên liệu, vật tư nhập
khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu
Theo Quyết định số 1279/QĐ-TCHQ ngày 25 tháng 6 năm 2009 của Tổng
cục trưởng Tổng cục Hải quan quy định về Quy trình nghiệp vụ quản lý đối với

32

nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu thì Quy trình này
được thực hiện qua 05 bước sau:
Bước 1: Thủ tục đăng ký Danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu
Bước 2: Thủ tục hải quan nhập khẩu nguyên liệu, vật tư
Bước 3: Thủ tục đăng ký Danh mục sản phẩm xuất khẩu
Bước 4: Thủ tục thông báo, điều chỉnh định mức nguyên liệu, vật tư
Bước 5: Thủ tục hải quan xuất khẩu sản phẩm
So với Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với hàng gia công xuất
khẩu thì quy trình này có những nét tương đồng.
- Giống nhau: 02 quy trình đều trải qua 05 bước cơ bản như trên.
- Khác nhau:
+ Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu thì
tại Bước 1 là thủ tục đăng ký hợp đồng gia công (trong đó, bao gồm cả thủ tục
đăng ký Danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu). Việc quản lý hải quan đối với
hoạt động gia công hàng xuất khẩu là quản lý theo từng hợp đồng. Trong suốt
quy trình quản lý thì chỉ có duy nhất 01 hợp đồng (thường có hiệu lực trong 01
năm).
+ Còn Quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối với nguyên liệu, vật tư
nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thì việc quản lý hải quan là theo Danh
mục nguyên liệu, vật tư (Doanh nghiệp căn cứ kế hoạch sản xuất sản phẩm xuất
khẩu để đăng ký Danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu SXXK với cơ quan hải
quan). Việc quản lý hải quan đối với nhập khẩu nguyên liệu, vật tư và xuất khẩu
sản phẩm trên cơ sở 02 hợp đồng khác biệt nhau.
2.3. Quy trình thanh khoản thuế của nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản
xuất hàng xuất khẩu

33

Quy trình gồm 04 bước như sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ thanh khoản
Kiểm tra tính đầy đủ, đồng bộ, hợp lệ của bộ hồ sơ thanh khoản.
- Nếu hồ sơ đầy đủ, đồng bộ, hợp lệ thì tiếp nhận hồ sơ.
- Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, đồng bộ, hợp lệ thì hướng dẫn doanh nghiệp bổ
sung hoặc trả lời từ chối tiếp nhận hồ sơ.
Bước 2: Phân loại hồ sơ
Phân loại hồ sơ thanh khoản thành hai loại: Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế
trước, kiểm tra sau và Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau.
- Nếu hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì thực hiện tiếp bước
3, 4 dưới đây.
- Nếu hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì thực hiện bước 3
sau khi đã hoàn thành bước 4.
Bước 3: Xử lý hồ sơ thanh khoản của doanh nghiệp
Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì thực hiện:
a) Nếu thanh khoản thủ công:
a.1) Kiểm tra, đối chiếu số liệu trên tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu, định mức
với hồ sơ thanh khoản của doanh nghiệp. Đối với những tờ khai có nghi vấn thì
đối chiếu với tờ khai lưu tại Chi cục Hải quan.
a.2) Kiểm tra kết quả tính toán trên bảng thanh khoản.
b) Nếu thanh khoản bằng máy tính: Đối chiếu số liệu các tờ khai xuất khẩu,
nhập khẩu, định mức, hồ sơ thanh khoản của doanh nghiệp với số liệu trên máy.
c) Trường hợp số liệu thanh khoản của doanh nghiệp có sai sót thì yêu cầu
doanh nghiệp giải trình và báo cáo Lãnh đạo xem xét chỉ đạo xử lý.
Bước 4: Thủ tục hoàn thuế, không thu thuế

34

Ra quyết định hoàn thuế, không thu thuế
Xử lý kết quả hoàn thuế, không thuế
“Nguồn: Quyết định số 2424/QĐ-TCHQ ngày 27/11/08 của Tổng cục HQ”
Hiện tại các Chi cục hải quan trực thuộc Cục Hải quan TP Cần Thơ tổ chức
thực hiện quy trình này như sau:
Bước 1, bước 4 của Quy trình do Đội Tổng hợp thực hiện còn bước 2, bước
3 do Đội quản lý hàng sản xuất xuất khẩu thực hiện. Mô hình tổ chức thực hiện
này thể hiện nhiều bất cập như sau:
- Việc Đội Tổng hợp thực hiện tiếp nhận hồ sơ thanh khoản (bước 1) thể
hiện nhiều sơ hở: Thứ nhất, nhiệm vụ chính của Đội Tổng hợp là báo cáo tổng
hợp và văn thư-lưu trữ, công chức ở Đội này ít được đào tạo chuyên sâu và am
hiểu lĩnh vực sản xuất xuất khẩu. Cho nên, khi doanh nghiệp nộp hồ sơ thanh
khoản thì không xác định được doanh nghiệp có nộp hồ sơ trễ hạn không để tiến
hành các biện pháp xử lý vi phạm hành chính kịp thời. Ngoài ra, bộ hồ sơ thanh
khoản gồm nhiều loại chứng từ để chứng minh hàng hóa đã thực nhập khẩu,
thực xuất khẩu, thanh toán ngoại thương, nộp thuế … dẫn đến rất khó xác định
doanh nghiệp có nộp đủ chứng từ hay không. Thứ hai, sau khi hồ sơ được bàn
giao sang bước 2, bước 3 thì do Đội quản lý hàng SXXK thực hiện, thì phải có
ký nhận bàn giao hồ sơ giữa hai Đội và công chức trong Đội quản lý hàng
SXXK phải làm lại động tác kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ thiếu chứng từ thì phải
liên hệ doanh nghiệp để bổ sung trong khi công việc này có thể thực hiện ngay
tại bước 1. Hơn nữa, nếu hồ sơ trễ hạn thì phải do Đội quản lý hàng SXXK thực
hiện, đến lúc này các biện pháp xử lý vi phạm đưa ra đã không còn kịp thời.
- Sau khi hoàn thành các bước 2, bước 3 hồ sơ thanh khoản lại trả về cho
Đội Tổng hợp lại phát sinh thêm việc bàn giao hồ sơ.

35

Việc tổ chức mô hình này tiềm ẩn nhiều rủi ro và sẽ khảo sát ở chương 3.
2.4. Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan gồm 4 bước:
Bước 1: Thu thập thông tin, xác định rủi ro;
Bước 2: Phân tích, đánh giá rủi ro;
Bước 3: Xử lý rủi ro;
Bước 4: Theo dõi, kiểm tra và điều chỉnh, bổ sung nội dung, chương trình
áp dụng quản lý rủi ro.

Bước 1: Thu thập thông tin, xác
định rủi ro
- Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi
- Phân tích các yếu tố liên quan
- Thiết lập tiêu chí đánh giá rủi ro
- Thu thập thông tin
- Xác định rủi ro

Trao đổi,
hướng dẫn

Phản hồi,
báo cáo
Bước 4: Theo dõi, kiểm tra, đánh
giá lại & điều chỉnh, bổ sung
- Theo dõi quá trình xử lý rủi ro
- Kiểm tra, đánh giá lại
- Phản hồi thông tin
- Đo lường tuân thủ
- Điều chỉnh, bổ sung

Bước 2: Phân tích – đánh giá
- Tần suất rủi ro
- Hậu quả rủi ro
- Mức độ rủi ro
- Phân loại rủi ro chấp nhận/ Không
chấp nhận
- Xếp hạng ưu tiên xử lý rủi ro

Trao đổi,
hướng dẫn
Bước 3: Xử lý rủi ro
- Lựa chọn hình thức, biện pháp
- Xây dựng phương án, kế hoạch
- Tiến hành xử lý

Trao đổi,
hướng dẫn

Hình 2.2: Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
“Nguồn: Quyết định số 35/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2009 của Tổng cục HQ”
Quy trình quản lý rủi ro mà Cục hải quan TP Cần Thơ đang áp dụng theo
Quyết định số 35/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2009 của Tổng cục hải quan bước đầu

36

đã góp phần cải cách thủ tục hành chính cho mảng công tác tiếp nhận, đăng ký tờ
khai, nhất là khi triển khai thủ tục hải quan điện tử. Nhưng việc áp dụng quy
trình này vào quản lý hoạt động sản xuất xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế, tình
trạng gian lận qua định mức sản phẩm xuất khẩu, công tác thanh khoản, hoàn
thuế, không thu thuế vẫn còn phổ biến; công tác kiểm soát tính tuân thủ của
doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu chưa cao, chưa tạo điều kiện thông thoáng cho
doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật cũng như chưa kiểm soát được các đối
tượng thường xuyên sai phạm.
Do đó, việc nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh
hưởng đến rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu tại
Cục Hải quan TP Cần Thơ sẽ được tiến hành ở chương 3 càng có ý nghĩa thiết
thực.

37

* Kết luận Chương 2
Chương 2 của luận văn trình bày đặc điểm và tình hình hoạt động sản xuất
xuất khẩu trên địa bàn Hải quan Cần Thơ trong các năm vừa qua, các quy trình
nghiệp vụ quản lý nhà nước về hải quan hoạt động sản xuất xuất khẩu và quy
trình quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Do đặc thù riêng hoạt
động sản xuất xuất khẩu trên địa bàn Hải quan Cần Thơ luôn chiếm tỉ trọng cao
và biên chế công chức hải quan ít. Để quản lý tốt hoạt động sản xuất xuất khẩu
các Chi cục Hải quan trực thuộc Hải quan Cần Thơ thành lập Đội quản lý hoặc
bộ phận chuyên quản lý hoạt động sản xuất xuất khẩu và mỗi quy trình phân
công một cán bộ theo dõi từ bước đầu đến bước kết thúc nhằm đảm bảo tính
thống nhất từ phía khai báo của doanh nghiệp đến sự quản lý của cơ quan hải
quan và tăng tính chuyên môn hóa. Việc chuyên môn hóa sâu này, mô hình và
cách thức thực hiện hiện tại có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả công tác
quản lý hoạt động sản xuất xuất khẩu của Hải quan Cần Thơ sẽ được luận văn
xây dựng, khảo sát và đánh giá tại Chương 3 và Chương 4.

38

CHƯƠNG 3
Đánh giá mức độ rủi ro trong quản lý hải quan đối với
hoạt động sản xuất xuất khẩu thuộc địa bàn Hải quan TP Cần Thơ.
Trên cơ sở lý thuyết nền của Chương 1 về rủi ro, các nhân tố ảnh hưởng đến
rủi ro và công tác quản lý hải quan hoạt động sản xuất xuất khẩu, Chương 3 sẽ
trình bày kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu thu được từ các Phiếu khảo sát
bằng phần mềm SPSS 11.5. Nội dung gồm mô tả kết quả thu thập dữ liệu, kết
quả phân tích, kiểm định thang đo, kết quả phân tích sự tác động của các biến
độc lập đến biến phụ thuộc. Kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng phân tích
tương quan, hồi quy đa biến và phân tích ANOVA. Qua đó, xây dựng mô hình
đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến rủi ro trong quản lý hải quan đối
với hoạt động sản xuất xuất khẩu.
3.1. Mô hình khảo sát
Như đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ tập
trung chủ yếu vào việc nghiên cứu sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến
rủi ro trong công tác hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu trên địa bàn
quản lý của Cục hải quan TP Cần Thơ.
Xuất phát từ thực tiễn công tác, cũng như kết quả của các nghiên cứu ở mục
1.4.3 tác giả đã nghiên cứu tìm ra các nhóm nhân tố và xây dựng, điều chỉnh mô
hình về rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động sản xuất xuất khẩu. Mô
hình khảo sát sau khi được điều chỉnh xây dựng xoay quanh nội dung:
- Nhóm nhân tố về cơ chế, chính sách về SXXK.
- Nhóm nhân tố liên quan đến doanh nghiệp hoạt động SXXK.
- Nhóm nhân tố liên quan đến cơ quan hải quan quản lý SXXK.