Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU

Tải bản đầy đủ

21
trong các lĩnh vực: huy động vốn, cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, thanh toán
quốc tế và cung ứng nguồn lực tại hội sở.
Năm 2005, SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB. Ngân hàng triển khai
giai đoạn hai của chương trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, bao gồm các cấu
phần: nâng cấp máy chủ, thay thế phần mềm xử lý giao dịch thẻ ngân hàng bằng
một phần mềm mới có khả năng tích hợp với nền công nghệ lõi hiện có, lắp đặt hệ
thống máy ATM.
2006 – 2010: ACB niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào
tháng 11/ 2006. Năm 2007, thành lập mới 31 chi nhánh và phòng giao dịch, thành
lập công ty cho thuê tài chính ACB, hợp tác với các đối tác như Open Solution
(OSI) – Thi n Nam để nâng cấp hệ ngân hàng cốt lõi, hợp tác với Microsoft để áp
dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý.
Năm 2008, ACB thành lập mới 75 chi nhánh và phòng giao dịch, hợp tác với
American Express về séc du lịch, triển khai dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ JCB.
ACB tăng vốn điều lệ lên 6.355 tỷ đồng. Và tăng th m 51 chi nhánh và phòng giao
dịch trong năm 2009. Trong giai đoạn 2010, ACB đẩy nhanh việc mở rộng mạng
lưới huy động, đã thành lập mới và đưa vào hoạt động 223 chi nhánh và phòng giao
dịch.
Năm 2011: “Định hướng chiến lược phát triển của ACB giai đoạn 2011 –
2015 và tầm nhìn 2020” được ban hành vào đầu năm. Trong đó nhấn mạnh đến
chương trình chuyển đổi hệ thống quản trị điều hành phù hợp với các quy định pháp
luật Việt Nam và hướng đến áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất. Trong năm,
ACB đưa vào hoạt động thêm 45 chi nhánh và phòng giao dịch.
Năm 2012: Sự cố tháng 8/ 2012 đã tác động đáng kể đến nhiều mặt hoạt động
của ACB, đặc biệt là huy động và kinh doanh vàng. Tuy nhi n, ACB đã ứng phó tốt
sự cố; và nhanh chóng khôi phục toàn bộ số dư huy động tiết kiệm VND chỉ trong
thời gian 2 tháng sau. ACB đã lành mạnh hóa cơ cấu bảng tổng kết tài sản thông
qua việc xử lý các tồn đọng li n quan đến hoạt động kinh doanh vàng theo chủ

22
trương của NHNN. ACB cũng thực thi quyết liệt việc cắt giảm chi phí trong 6 tháng
cuối năm và thành lập mới 16 chi nhánh và phòng giao dịch.
Năm 2013: Tuy kết quả hoạt động không như kỳ vọng nhưng ACB vẫn có
mức độ tăng trưởng khả quan về huy động và cho vay VND. Nợ xấu được kiểm
soát ở mức 3% sau những biện pháp mạnh về thu hồi nợ, xử lý rủi ro tín dụng và
bán nợ cho công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
ACB cũng kéo giảm hệ số chi phí/ thu nhập xuống còn khoảng 66%, giảm 7% so
với năm 2012. Tình hình hoạt động ba năm từ 2011 – 2013 cũng được đánh giá lại
và chiến lược phát triển ACB cũng điều chỉnh cho giai đoạn 2014 – 2018.
Cơ cấu tổ chức
Bảy khối: Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát
triển kinh doanh, Vận hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin.
Bốn ban: Kiểm tra – kiểm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính
sách và quản lý tín dụng.
Bốn phòng: Kế toán, Đầu tư, Quản lý rủi ro và thị trường, Quan hệ đối ngoại
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của ACB (phụ lục 6)
2.1.2.

Tình hình hoạt động kinh doanh

Cho đến hết năm 2013, kinh tế thế giới chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế toàn
cầu kể từ năm 2008 và những dư chấn nặng nề của khủng hoảng nợ công châu Âu
từ năm 2011, tạo n n nguy cơ suy thoái kéo dài, với những dự đoán bi quan về triển
vọng phục hồi mù mịt. Tổng hợp các báo cáo đánh giá mới nhất, chẳng hạn IMF và
WB, cho thấy năm 2013 có thể là năm kinh tế tăng trưởng thấp nhất từ năm 2011.
Trong đó khu vực các nước phát triển có chiều hướng phục hồi nhanh hơn, trong
khi các nước đang phát triển thì tăng trưởng chậm lại rõ rệt.
Cụ thể, năm 2013 Việt Nam tiếp tục đối mặt với hai cuộc khủng hoảng dẫn
đến sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng và lạm phát cao 2 chữ số (các năm 2007,
2008, 2010 và 2011). Những biện pháp điều hành linh hoạt, quyết liệt của chính phủ

23
theo hướng “ưu ti n ổn định vĩ mô, tăng trưởng hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội” gắn
với từng bước triển khai 3 chương trình tái cơ cấu (khu vực tài chính – ngân hàng,
đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước) đã đem lại những kết quả tích cực bước
đầu, thực hiện được mục tiêu mà chính phủ đưa ra: tăng trưởng cao hơn (5,42% so
với 5,25%), lạm phát thấp hơn (6,04% so với 6,81%) của năm 2013 so với năm
2012. Nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục tuy còn chậm và chưa đúng với tiềm năng.
Mặc dù vẫn dành ưu ti n cho ổn định vĩ mô, nhưng cân nhắc tương quan với
duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội, trong bối
cảnh toàn cầu, nhất là cầu nội địa, sụt giảm mạnh, Việt Nam đã linh hoạt và mạnh
dạn nới lỏng chính sách tiền tệ liên tục nhiều lần kể từ tháng 3/ 2012 đến hết năm
2013. Ri ng năm 2013, NHNN đã giảm 2% các mức lãi suất tái cấp vốn, tái chiết
khấu; giảm 3% mức lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu ti n; giảm
1% lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND; tiếp tục khống chế lãi suất tiền gửi
bằng USD là 1,25%/ năm đối với cá nhân và 0,25%/ năm đối với tổ chức có tiền gửi
ngoại tệ. So với đầu năm 2013, mặt bằng lãi suất cho vay đến cuối năm giảm
khoảng 3,5% trong khi các tổ chức tín dụng được phép thỏa thuận mức lãi suất huy
động có kỳ hạn tr n 180 ngày, nhưng mặt bằng lãi suất vẫn khá ổn định, hiện tượng
vượt trần lãi suất quy định về cơ bản đã chấm dứt, từ đó thanh khoản hệ thống được
đảm bảo.
Hoạt động ngân hàng bước đầu có những chuyển biến tích cực nhờ các biện
pháp ổn định vĩ mô, hỗ trợ thanh khoản, cơ cấu lại một số ngân hàng yếu kém có
nguy cơ đổ vỡ, nới lòng dần các biện pháp can thiệp hành chính và xúc tiến xử lý
một phần nợ xấu qua công ty mua bán nợ tập trung (công ty quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng Việt Nam - VAMC) cũng như nỗ lực của từng ngân hàng. So với
tháng 12/ 2012, đến tháng 12/ 2013, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam
tăng 12%, vốn chủ sở hữu tăng 4,6%, vốn điều lệ tăng 5,6% và tỉ trọng nợ xấu theo
tổng hợp báo cáo của các tổ chức tín dụng là 3,63% tổng dư nợ, giảm so với đầu
năm 2012 (4,76%). Tuy nhi n, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn rất
khó khăn, tổng cầu sụt giảm, nhu cầu và khả năng vay vốn để đầu tư kinh doanh

24
hoặc để tiêu dùng của doanh nghiệp và dân cư bị hạn chế, môi trường kinh doanh
chưa được cải thiện và hoạt động ngân hàng vẫn còn nhiều rủi ro tiềm ẩn khó lường.
Đối với ACB, năm 2013, tuy vẫn còn chịu ảnh hưởng của biến cố tháng 8/
2012, ACB đã trụ vững, tiếp tục lành mạnh hóa bảng tổng kết tài sản, cũng cố các
hoạt động ngân hàng truyền thống và thu hẹp hoạt động đầu tư. Với thời gian hoạt
động mới hơn 20 năm, đây chưa phải là một thời gian dài đối với hoạt động của một
doanh nghiệp nhưng ACB đã không ngừng phát triển, dần khẳng định mình là một
trong những ngân hàng dẫn đầu trong khối NHTMCP. Biểu đồ sau thể hiện sự tăng
trưởng trong tổng tài sản của ACB trong những năm gần đây.
Bảng 2.1. Tăng trƣởng tổng tài sản qua các năm 2009 - 2013
(Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Tổng tài sản

2009

2010

2011

2012

2013

167.881

205.103

281.019

176.308

166.599

(Nguồn: Báo cáo thường niên NHTM cổ phần Á Châu năm 2009 - 2013)
2013

166599

Năm

2012

176308

2011

281019

2010

205103

2009

167881

0

100000
200000
Tổng tài sản hợp nhất (tỷ đồng)

300000

Hình 2.2. Biểu đồ thể hiện tổng tài sản của ACB năm 2009 – 2013

25
2.1.2.1. Tình hình huy động vốn
Với vị thế của một ngân hàng hàng đầu Việt Nam, ACB đã tạo được sự tin
tưởng của khách hàng thông qua chỉ tiêu vốn huy động được thể hiện trong biểu đồ
sau:
Năm 2013

150,988

Năm 2012

159500

Năm 2011

234,503

Năm 2010

183,132

Năm 2009

134,479
0

50,000

100,000

150,000

200,000

250,000

(Nguồn: Báo cáo thường niên NHTM cổ phần Á Châu năm 2009 - 2013)
Hình 2.3. Tổng vốn huy động tại ACB năm 2009 – 2013
Nhìn vào biểu đồ 2.3 ta thấy vốn huy động của ACB tăng nhanh trong giai
đoạn 2009 – 2011, vốn huy động năm 2010 tăng gấp 36,2% so với năm 2009 và tiếp
tục duy trì ở năm 2011 với con số huy động đạt 234.504 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ
tăng là 28% thấp hơn năm 2010, nguy n nhân chính là do tác động từ việc điều
chỉnh chính sách đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo Thông tư 13 thì nhu cầu từ thị
trường cấp 2 trở n n cần thiết hơn đối với tất cả các ngân hàng, không loại trừ ACB.
Đến 31/12/ 2012, huy động chỉ đạt 159.500 tỷ đồng, nguy n nhân chủ yếu là do
việc mở rộng mạng lưới hoạt động gặp khó khăn do chủ trương hạn chế của NHNN,
th m vào đó, trong số các ngân hàng lớn thì ACB chứng kiến luồng tiền rút ra khá
mạnh sau sự cố hồi tháng 8 (bắt một số nguy n lãnh đạo của ngân hàng). Tuy nhiên,
mặc dù tổng vốn huy động năm 2013 vẫn tiếp tục giảm nhưng tốc độ sụt giảm có sự
thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn ở mức -5% so với con số -32% của năm
2012. Đây có thể coi là kết quả từ việc ACB điều hành hoạt động huy động vốn
theo hướng ưu ti n cho an toàn thanh khoản và tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn;
chủ động điều chỉnh tốc độ tăng trưởng huy động cho phù hợp với khả năng sử

26
dụng vốn; đa dạng hóa sản phẩm huy động nhằm cải thiện cơ cấu kỳ hạn bình quân
của nguồn vốn và tăng tỷ trọng nguồn huy động không kỳ hạn để giảm chi phí vốn.
Đặc biệt, trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm thì nguồn vốn
huy động từ tiền gửi khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2013 là năm mà tỷ
trọng tiền gửi khách hàng chiếm đến 91% tổng nguồn vốn.
Bảng 2.2. Chi tiết nguồn vốn huy động tại ACB năm 2009 – 2013
(Đơn vị: tỷ đồng)
2009

2010

2011

2012

2013

16.452

39.305

13.707

21.017

71.197

89.886

102.499

110.453

115.094

Tiền gửi của TCTD 10.450

28.130

34.783

9.300

5.843

812

1.025

1.076

1.402

47.852

56.890

24.964

7.632

183.132

234.503

159.500

150.978

Tiển gửi của doanh 15.292
nghiệp
Tiển gửi của cá nhân

khác
Các đối tượng khác

431

Nguồn vôn huy động 37.109
khác
TỔNG

134.479

(Nguồn: Báo cáo thường niên NHTM cổ phần Á Châu năm 2009 - 2013)
2013

137,513

2012

125,236

2011

142,829

2010

107,150

2009

86,920
0

50,000

100,000

150,000

Hình 2.4. Tổng vốn huy động tiền gửi khách hàng tại ACB năm 2009 – 2013

27
Nguồn vốn huy động từ khách hàng doanh nghiệp và cá nhân của ACB tăng
liên tục qua các năm, điều đó cho thấy ACB đã tạo được niềm tin đối với khách
hàng. Vốn huy động năm 2009 thấp nhất trong 5 năm gần đây. Nguy n nhân chính
là do tác động của khủng hoảng, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thu nhập người
dân giảm. Năm 2010 nền kinh tế Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới. Bên cạnh đó, những biểu hiện bất ổn li n quan đến
lạm phát và tỷ giá như hệ quả của những yếu điểm trong cấu trúc nền kinh tế đất
nước có phần trở nên gay gắt hơn. Trong bối cảnh mới bước ra khỏi cuộc khủng
hoảng 2008-2009 với những chương trình nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy
tăng trưởng, nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phải điều chỉnh
sang chính sách thắt chặt để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô cuối năm 2010. Trong
bối cảnh ấy, ACB đã cố gắng điều chỉnh hoạt động một cách linh hoạt để tổng huy
động tiền gửi khách hàng tăng 24,35% đảm bảo an toàn và duy trì hiệu quả kinh
doanh. Các chỉ tiêu về quy mô của ACB có bước tiến nhanh và bền vững trong năm
2011. Tổng tài sản đạt 281.019 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2010. Như vậy tổng
tài sản của ACB đến 31/12/2011 đã tương đương 9,64% tổng phương tiện thanh
toán, vị thế tăng 1,4% so đầu năm. Trong toàn bộ mức tăng tổng tài sản này, có đến
63% xuất phát từ nguồn vốn bền vững là tiền gửi khách hàng. Cụ thể, tiền gửi
khách hàng của ACB đạt 142.829 tỷ đồng, tăng gần 34% so với năm 2010 trong khi
bình quân ngành tăng trưởng 14,4%. Đó là do ngân hàng tăng lãi suất huy động
cũng như áp dụng các chương trình khuyến mãi, tung ra nhiều sản phẩm mới hấp
dẫn, có chính sách ưu đãi tốt đối với những khách hàng tiềm năng và li n tục mở
rộng về mạng lưới hoạt động trên khắp cả nước.
Như vậy, ta có thể thấy huy động vốn từ nền kinh tế có chuyển biến rõ rệt,
tăng li n tục trong 3 năm 2009 – 2011, vì trong giai đoạn này NHTM vẫn được
quyền sử dụng công cụ lãi suất để cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn
năm 2012 của NHTMCP bị chững lại, điều này một phần là do tác động của chính
sách trần lãi suất huy động cũng như giới hạn tín dụng của NHNN. Trần lãi suất huy
động khiến nhiều người lựa chọn ngân hàng có uy tín gửi tiền thay vì lựa chọn ngân

28
hàng có mức lãi suất cao hơn và ACB cũng không nằm ngoài danh sách phải đối
mặt với khó khăn này. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng tiền gửi của ACB còn bị sụt
giảm nghiêm trọng trong năm 2012 và đây là năm có thể coi là không may mắn đối
với ACB. Sự kiện có lẽ giới đầu tư cũng như các cổ đông của ACB sẽ khó có thể
qu n được, hôm 21/8 đã khiến giá gần như tất cả các cổ phiếu đồng loạt giảm sàn,
bất kể tốt xấu. Hàng tỷ USD giá trị cổ phiếu đã không cánh mà bay trong vòng vài
phiên. Cùng với những cú sốc và áp lực phải đóng trạng thái vàng theo yêu cầu của
NHNN – mà theo đó ACB lỗ 1.700 tỷ đồng, cổ phiếu ACB đã giảm mạnh một
mạch từ 25.900 đồng/ cổ phiếu xuống đến gần 15.000 đồng/ cổ phiếu, nếu so với
mức giá 40.000 đồng/ cổ phiếu hồi năm 2008 thì mức giá quanh 16.000 đồng/ cổ
phiếu năm 2012 là một dấu hiệu cho thấy niềm tin vào ngân hàng thương mại hàng
đầu Việt Nam ACB bị suy giảm mạnh. Đây có thể là một trong những nguyên nhân
dẫn đến sự đi xuống trong huy động vốn của ACB mà ta nhìn thấy rất rõ tại hình
2.4.
Đến 31/ 12/ 2013, tổng quy mô huy động tiền gửi khách hàng đạt gần 138
ngàn tỷ đồng, giảm khoảng 1,9% so với đầu năm, thực hiện được 88% kế hoạch huy
động. Nguyên nhân giảm chủ yếu do tất toán toàn bộ các khoản huy động vàng theo
đúng lộ trình của ngân hàng Nhà nước. Nếu loại trừ yếu tố tiền gửi bằng vàng thì
huy động tiền gửi khách hàng ACB tăng gần 13 tỷ đồng (từ 125.236 tỷ đồng lên
137.513 tỷ đồng), tương ứng tăng 9,8%.
2.1.2.2. Tình hình cấp tín dụng
Trong tình hình nhu cầu và khả năng vay vốn đầu tư kinh doanh hoặc tiêu
dùng của doanh nghiệp và dân cư bị hạn chế, việc tăng trưởng dư nợ của các ngân
hàng nói chung và ACB nói riêng gặp nhiều khó khăn; nhưng ACB đã thực thi
nhiều giải pháp nhằm củng cố và phát triển hoạt động cấp tín dụng. Hoạt động cấp
tín dụng năm 2013 của ACB có cải thiện so với năm 2012 và tăng trưởng khả quan
so với mức bình quân của toàn ngành; cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích
cực; các quy định của ngân hàng nhà nước trong lĩnh vực quản lý tín dụng được

29
tuân thủ. Đến 31/ 12/ 2013 dư nợ tín dụng ACB đạt 107.191 tỷ đồng, tăng 4,3% so
với đầu năm (nếu không tính đến khoản tất toán dư nợ vàng theo lộ trình của
NHNN thì tăng trưởng tín dụng năm 2013 đạt 14%, từ 93.357 tỷ đồng năm 2012 l n
106.361 tỷ đồng cuối năm 2013. Năm 2012 - 2013, tuy dư nợ cho vay tăng nhưng tỉ
lệ cho vay của ngân hàng vẫn ở mức trên 60% so với vốn huy động, điều này chứng
tỏ ACB vẫn đang khá thận trọng trong việc cho vay. Đặc biệt, tỷ lệ an toàn vốn
(CAR) tại các thời điểm trong năm đều ở mức tr n 12%, cao hơn tỷ lệ an toàn vốn
quy định của ngân hàng nhà nước là 9%.
Đối với tỷ lệ nợ xấu, trong năm 2013, ACB đã nổ lực thực hiện nhiều giải
pháp như kiện toàn bộ máy giám sát quản lý nợ để đánh giá chất lượng và khả năng
thu hồi các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro; đánh giá lại tài sản đảm bảo; khởi kiện, xử lý
tài sản đảm bảo để thu hồi nợ; tăng cường trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng
để xử lý nợ xấu; cơ cấu nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng có hoạt động sản
xuất kinh doanh có triển vọng tốt; và bán nợ cho VAMC. ACB cũng đã thực hiện
nghiêm túc việc phân nhóm nợ, thu hồi nợ và trích lập dự phòng đối với các khoản
nợ còn tồn đọng theo đúng lộ trình mà Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt. Đến
ngày 31/12/2013, tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 - nhóm 5) ở mức 3% tổng dư nợ.
2.1.2.3. Tình hình tiền gửi liên ngân hàng và đầu tƣ chứng khoán
Trước tình hình nguồn cung vốn trên thị trường ngân hàng dồi dào, lãi suất
giảm nhanh, hoạt động liên ngân hàng tại ACB trong năm 2013 chủ yếu là cơ cấu
lại danh mục tiền gửi, tích cực thu hồi các khoản tiền gửi còn tồn đọng tại một số tổ
chức tín dụng. Đến cuối năm 2013, tổng số tiền gửi liên ngân hàng khoảng 7.600 tỷ
đồng, giảm mạnh so với đầu năm.
Thực hiện theo định hướng đầu năm, trong năm 2013, ACB tích cực tìm kiếm
cơ hội thanh lý một số khoản đầu tư là cổ phiếu tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế.
ACB cũng tập trung đầu tư vào các giấy tờ có giá có độ rủi ro thấp nhằm tăng hiệu
quả sử dụng vốn đồng thời tăng khả năng thanh khoản. Đến 31/ 12/ 2013, danh mục

30
trái phiếu chính phủ và tín phiếu ngân hàng Nhà nước tại ACB xấp xỉ 24 tỷ đồng,
tăng 9.500 tỷ đồng với mức sinh lợi đáng kể.
2.1.3.

Kết quả hoạt động kinh doanh

2.1.3.1. Thu nhập
Bảng 2.3. Tăng trƣởng thu nhập của ACB qua các năm 2009 – 2010
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm 2009

Năm 2010 Năm

Năm 2012

Năm 2013

2011
Thu nhập lãi 2.081

4.174

6.608

6.871

4.386

1.319

1.039

(1.036)

1.263

5.493

7.647

5.835

5.650

thuần
Thu nhập ngoài 2.135
lãi
Tổng thu nhập

4.936

(Nguồn: Báo cáo thường niên NHTM cổ phần Á Châu năm 2009 - 2013)
thu nhập lãi thuần

thu nhập ngoài lãi

năm 2013
năm 2012
năm 2011
năm 2010
năm 2009
-2,000

0

2,000

4,000

6,000

8,000

10,000

Hình 2.5. Biểu đồ thu nhập của ACB qua các năm 2009 - 2013
Thu nhập lãi thuần và thu nhập hoạt động tăng đều qua các năm trong giai
đoạn 2009 – 2011; tuy nhi n đến năm 2012, do tình hình kinh tế khó khăn kèm theo
sự kiện không tốt ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ACB khiến cho thu
nhập lãi thuần chỉ tăng chưa đến 4% so với năm trước đó. Sự sụt giảm từ sự giảm
của tổng thu nhập hoạt động 69% khiến cho ACB sụt giảm tăng trưởng lợi nhuận

31
trước thuế 75% so với năm 2011. Hơn nữa, do thực hiện chỉ đạo tất toán trạng thái
vàng của NHNN đã khiến cho hoạt động kinh doanh vàng và ngoại hối bị lỗ nặng
khoản 1.864 tỷ đồng, th m vào đó lãi từ hoạt động dịch vụ chỉ đạt 703 tỷ đồng,
giảm 15% đã kéo tổng thu nhập thuần của ngân hàng xuống đến mức 22%.
Thu nhập thuần của ACB trong năm 2013 sụt giảm 3% so năm 2012, nhưng
mức giảm có thể xem như không đáng kể trong điều kiện dư nợ tín dụng của ACB
không tăng trưởng. Cơ cấu thu nhập của ACB năm 2013, so với năm 2012, nói
chung đã cải thiện về cơ bản. Thu nhập ngoài lãi/ tổng thu nhập thuần đạt trên 22%.
Đạt mức tỷ lệ này là do thu dịch vụ tăng trưởng ổn định, thu từ kinh doanh chứng
khoán tăng, và lỗ từ kinh doanh ngoại hối và vàng giảm mạnh.

thu nhập lãi
thuần

22,4%

77,6%

thu nhập ngoài
lãi

Hình 2.6. Cơ cấu thu nhập của ACB năm 2013.
2.1.3.2. Chi phí
Nếu chỉ tiêu chi phí/ thu nhập giai đoạn 2009 – 2011 của ACB có thể coi là
tốt, đều duy trì dưới 60%, chủ yếu là do việc tiếp tục công việc mở rộng mạng lưới
chi nhánh, phòng giao dịch, tăng cường đội ngũ nhân vi n và nâng cấp hệ thống
ngân hàng lõi nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh của ngân hàng; thì trong năm 2012
chi phí bị đội lên cao 4.271 tỷ đồng, trong khi thu nhập giảm mạnh, điều này khiến
cho tỷ lệ chi phí/ thu nhập tăng l n 73,2% (tr n 60%), nguy n nhân chủ yếu bắt
nguồn từ lỗ kinh doanh vàng, hơn nữa sự cố hồi tháng 8 khiến lượng tiền gửi giảm
đi rất nhiều, đặc biệt là tiền gửi có kỳ hạn làm cho tổng tài sản sinh lời giảm đến
31%, tuy nhiên chi phí trả lãi của ACB ngày lập tức giảm hơn 18%.