Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮATHÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TỶ SUẤT SINH LỢICHỨNG KHOÁN

CHƯƠNG 2CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮATHÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TỶ SUẤT SINH LỢICHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ

7

Cũng ở Indonesia, Dwi Martani, Mulyono, Rahfiani Khairurizka (2009) đã
khảo sát sự liên quan của thông tin kế toán trong việc giải thích tỷ suất lợi nhuận
chứng khoán. Bài nghiên cứu sử dụng khả năng sinh lợi, tính thanh khoản, tỷ số nợ,
chỉ số thị trường, quy mô và dòng tiền đại diện cho thông tin kế toán. Lợi nhuận
gộp và lợi nhuận thị trường đã điều chỉnh được sử dụng như các biến tỷ suất sinh lợi
cổ phiếu. Mẫu nghiên cứu là các công ty trong ngành công nghiệp chế tạo từ năm
2003-2006 ở thị trường chứng khoán Indonesia.
Mô hình hồi quy được sử dụng trong bài nghiên cứu này như sau:
RET = β0 + β1 NPM + β2 ROE + β3 CR + β4 DER + β5 TATO + β6 PBV + β7
CFO/Sales + β8 LogTA (1)
Biến phụ thuộc bao gồm hai biến lợi nhuận: suất sinh lợi thị trường được điều chỉnh
và suất sinh lợi bất thường.
(1) Suất sinh lợi thị trường điều chỉnh là tỷ suất sinh lợi chứng khoán trừ đi suất
sinh lợi thị trường:

(2) Suất sinh lợi bất thường là tỷ suất sinh lợi chứng khoán trừ đi tỷ suất sinh lợi
chứng khoán kỳ vọng:

Suất sinh lợi kỳ vọng được suy ra từ mô hình thị trường E(Ri) = α1 + β1 Rm
Biến độc lập bao gồm tám biến cụ thể NPM (Hệ số biên lợi nhuận ròng), ROE (Lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu), CR (Chỉ số khả năng thanh toán hiện hành), DER (Nợ
trên vốn chủ sở hữu), TATO (Vòng quay tổng tài sản), PBV (tỷ lệ giá cổ phiếu trên
giá trị sổ sách), TA (Tổng tài sản), CFO/Sales (Dòng tiền từ hoạt động trên doanh
thu).

8

Nghiên cứu đưa ra những kết luận quan trọng như:
-

Có thể kết luận rằng chỉ số tài chính, kích thước công ty và dòng tiền từ hoạt
động cùng ảnh hưởng lên lợi nhuận thị trường điều chỉnh và lợi nhuận bất
thường. Sự biến động của lợi nhuận được giải thích tốt nhất bằng dữ liệu quý
2.

-

Các biến mà có ý nghĩa phù hợp lên lợi nhuận điều chỉnh và lợi nhuận bất
thường là các chỉ số khả năng sinh lời (NPM và ROE), TATO, và tỷ số giá
trị thị trường (PBV). Điều này cho thấy rằng theo quan điểm của nhà đầu tư
thì chỉ số tài chính hữu dụng để đưa ra quyết định đầu tư.

Hobarth (2006) nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số tài chính và tính hiệu
quả của 1.672 công ty niêm yết Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2004
bằng cách sử dụng 17 chỉ số tài chính và ba biến để đo lường hiệu quả của doanh
nghiệp, cụ thể là hiệu quả hoạt động trên thị trường (đo bởi mức thay đổi của giá cồ
phiếu), tính hiệu quả dòng tiền (đo bằng cổ tức tiền mặt phân phối cho các cổ đông),
và lợi nhuận thực hiện đo bằng lợi tức đầu tư. Việc lựa chọn 17 biến như các chỉ số
tiềm năng một phần dựa vào các nghiên cứu trước đây và một phần dựa trên những
xem xét của tác giả. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng để phân tích với các hệ số
hiệu ứng cố định bằng cách sử dụng kỹ thuật sai số ít nhất. Ngoài ra, một bài kiểm
tra đặc điểm kỹ thuật được tiến hành để quyết định xem một hiệu ứng ngẫu nhiên
hay cố định được sử dụng. Kết quả cho thấy các công ty với chỉ số tỷ lệ thấp giá kế
toán trên giá trị trường, quản lý vốn lưu động hiệu quả, thanh khoản thấp, nhiều vốn
cổ phần và nợ phải trả ít hơn, và lợi nhuận giữ lại cao cho các mục đích tái đầu tư sẽ
có hoạt động lợi nhuận tốt hơn đo bằng lợi tức đầu tư. Các công ty có ý kiến không
đủ tiêu chuẩn từ kiểm toán viên, nợ nhiều hơn và vốn chủ sở hữu ít hơn, ít tài sản và
lợi nhuận giữ lại thấp có tính hiệu quả dòng tiền tốt hơn (đo bằng cổ tức tiền mặt).
Hơn nữa, các doanh nghiệp có tỷ lệ giá kế toán trên giá thị trường thấp, quản lý vốn
lưu động hiệu quả, nhiều vốn cổ phần và nợ phải trả ít hơn, tổng tài sản thấp, và tỷ
suất EBIT cao có tính hiệu quả thị trường tốt hơn (được đo bởi những thay đổi trong

9

giá cổ phiếu). Kết quả đã chỉ ra rằng, có tồn tại một mối quan hệ giữa hiệu suất của
công ty và các chỉ số tài chính.
Nghiên cứu khác về thông tin kế toán để dự đoán lợi nhuận trên cổ phần cũng
được tiến hành tại Indonesia. Daniat và Suhairi (2006) cho thấy rằng dòng tiền từ
hoạt động đầu tư, lợi nhuận gộp, và kích thước của công ty ảnh hưởng đáng kể đến
lợi nhuận kỳ vọng trên cổ phiếu. Mặt khác, dòng tiền từ hoạt động không ảnh
hưởng đáng kể đến lợi nhuận kì vọng. Meythi (2006) nghiên cứu 100 công ty sản
xuất ở BEJ trong 1999-2002 và kết luận, với lợi nhuận ổn định như một biến số can
thiệp, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Tại Mỹ, Lev và Thiagarajan (1993) thực hiện một nghiên cứu về mối tương
quan giữa 12 biến cơ bản và lợi nhuận bất thường của doanh nghiệp trong giai đoạn
1974-1988, bằng cách sử dụng các thay đổi trong hàng tồn kho, các khoản phải thu,
vốn chi tiêu, R&D, tỷ suất sinh lợi, doanh thu và chi phí hành chính, cung cấp phải
thu khó đòi, thuế hiệu quả, phiếu đặt hàng, lực lượng lao động, thu nhập LIFO, và
kiểm toán đủ điều kiện như là các biến độc lập. Kết quả cho thấy thay đổi trong
hàng tồn kho, phải thu, chi phí vốn, tỷ suất lợi nhuận, bán hàng và chi phí hành
chính, phiếu đặt hàng ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận, với α = 5%. Họ cũng quan
sát thấy rằng sự tương quan giữa lợi nhuận và biến cơ bản sẽ mạnh mẽ hơn khi xét
đến những biến số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GNP.
Abarbanell và Bushee (1998) đã kiểm tra rằng việc áp dụng phân tích cơ bản có
thể mang lại lợi nhuận đáng kể nào không. Sử dụng một bộ tập hợp các tín hiệu
phản ánh quy tắc truyền thống của phân tích cơ bản liên quan đến những những
thay đổi xảy ra cùng lúc trong hàng tồn kho, các tài khoản phải thu, lợi nhuận gộp,
chi phí bán hàng, chi phí vốn, các mức thuế suất hiệu quả, phương pháp kiểm kê,
trình độ kiểm toán, và năng suất lao động của lực lượng bán hàng, bài viết lập nên
những danh mục đầu tư kiếm được lợi nhuận bất thường trung bình 12 tháng tích
lũy đã điều chỉnh quy mô 13,2%. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 9.764 công ty
trong thời gian 1974-1988.
Bài viết đã trình bày bằng chứng cho thấy những tín hiệu dựa trên số liệu kế

10

toán được xác định để phản ánh những khái niệm quen thuộc về phân tích cơ bản có
thể được sử dụng để dự đoán lợi nhuận bất thường trong tương lai. Kết quả cho thấy
thay đổi trong hàng tồn kho, tổng lợi nhuận, bán hàng và chi phí hành chính cung
cấp thông tin về lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp liên kết với thu nhập
công bố trong tương lai. Trong số tất cả các biến trong nghiên cứu này, những thay
đổi trong hàng tồn kho, chi phí vốn, thuế suất hiệu quả là các chỉ số mạnh trong việc
dự đoán thu nhập tương lai của công ty. Các tín hiệu liên quan đến những thay đổi
trong tỷ suất lợi nhuận gộp và chi phí bán hàng cũng xuất hiện để nắm bắt thông tin
ít được sử dụng bởi thị trường về thu nhập một năm và/hoặc rủi ro. Hầu hết lợi
nhuận bất thường xảy ra trong thời gian trước và sau khi thông báo thu nhập trong
năm.
Những kết quả khác nhau đến từ nghiên cứu thực hiện bởi Warfrield và Wild
(1992) cho thấy bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan trái chiều giữa khả
năng giải thích các khoản thu nhập của doanh nghiệp và độ dài của kỳ báo cáo. Sử
dụng báo cáo quý từ 24.150 công ty trong giai đoạn 1983-1986 làm mẫu, họ kết
luận rằng sức mạnh giải thích của thu nhập trong việc giải thích lợi nhuận trong một
báo cáo hàng quý là chỉ có 25% báo cáo bán niên, và ít hơn 10% của báo cáo hàng
năm. R2 đã điều chỉnh trong lợi nhuận hàng quý là ít hơn 1%, nhưng hơn 39% trong
4 năm thu nhập.
Dựa trên một nghiên cứu của Lev, Thiagarajan (1993), Anggraini, Setiawati
và Desembriarto (2004) đã cố gắng để tìm hiểu các ảnh hưởng của biến cơ bản về
lợi nhuận bất thường trong thời gian khủng hoảng và giai đoạn không khủng hoảng.
Thời gian nghiên cứu là 1995-2002, năm 1998 được coi là giai đoạn khủng hoảng.
Bài viết này sử dụng bảy biến cơ bản: hàng tồn kho, các khoản phải thu, lợi nhuận
gộp, tiếp thị và chi phí hành chính, trợ cấp tài khoản phải thu khó đòi liên quan đến
bán hàng, thuế hiệu quả, tỷ lệ và trình độ kiểm toán. Trong giai đoạn khủng hoảng,
chỉ lợi nhuận gộp ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường một cách đáng kể, trong khi
ở giai đoạn không khủng hoảng hàng tồn kho, báo cáo tài chính, và trình độ kiểm
toán có ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường. Điều quan trọng là R2 điều chỉnh thấp

11

chỉ có 0,5% (đối với giai đoạn khủng hoảng) và 0,8% (đối với khoảng thời gian
không khủng hoảng). Điều này cho thấy khả năng thấp của tín hiệu cơ bản để giải
thích biến đổi sự lợi nhuận trong thị trường vốn.
Manao và Nur (2001) quan sát thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ tài chính và lợi
nhuận cổ phiếu trong thời gian khủng hoảng kinh tế Indonesia bằng cách thêm vào
quy mô doanh nghiệp như là một biến. Sử dụng 120 công ty sản xuất được liệt kê
trên BEJ năm 2004 như là một mẫu, nghiên cứu này sử dụng các chỉ tiêu tài chính
(QR, Tato, CLTA, Ldta, GPM, ROE, PBV và EPS). Những công ty này được chia
thành ba loại kích cỡ (nhỏ, vừa và lớn) dựa trên tổng tài sản. Kết quả cho thấy PBV
và EPS có ảnh hưởng đáng kể trên tất cả các mô hình.
Sparta và Februwaty (2005) đã nghiên cứu ảnh hưởng của ROE, EPS, và
CFO lên lợi nhuận cổ phiếu của ngành sản xuất công nghiệp trong BEJ bằng cách
sử dụng dữ liệu của 32 công ty sản xuất trong thời gian 1999-2002. Kết quả cho
thấy ROE chỉ ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận chứng khoán (α = 5%) trong khi
EPS và CFO có tác động tiêu cực không đáng kể trên lợi nhuận chứng khoán.
Mais (2005) thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ tài chính, bao gồm
cả NPM, ROA, ROE, DER, và EPS, giá cổ phiếu của các công ty được liệt kê trên
Index Jakarta Hồi giáo năm 2004. Kết quả của nghiên cứu này giải thích rằng thống
kê tất cả các biến ngoại trừ DER là đáng kể và có tác động tích cực đến giá cổ
phiếu.
Kennedy (2005) phân tích hiệu quả của ROA, ROE, EPS, tỷ suất lợi nhuận,
doanh thu tài sản, DTA, DER trên lợi nhuận chứng khoán bằng cách sử dụng các
mẫu cổ phiếu từ chỉ số 45 LQ trong BEJ trong giai đoạn 2001-2002. Nghiên cứu
này phát hiện ra Tato, ROA, EPS, và DER có tác động tích cực, trong khi ROE và
DTA có tác động tiêu cực, lên lợi nhuận cổ phiếu. Tuy nhiên, tất cả các biến được
thống kê rằng không ảnh hưởng lợi nhuận chứng khoán.
Roswati (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của CR, TATO, DER, ROE, EPS, và
PBV trên giá cổ phiếu của ngành sản xuất công nghiệp với năm tiểu ngành công
nghiệp bao gồm cả thực phẩm, bán lẻ và đồ uống, thuốc lá, ô tô, và dược phẩm. Các

12

kết quả cho thấy các chỉ tiêu tài chính đáng kể trong ngành công nghiệp bán lẻ là
ROE, EPS, và PBV, thực phẩm và đồ uống là EPS và PBV; trong ngành công
nghiệp thuốc lá là CR, TATO, DER, EPS và PBV, ngành công nghiệp ô tô là DER,
ROE, EPS, và PBV; trong khi trong ngành công nghiệp dược phẩm là CR, EPS, và
PBV. Trong năm ngành công nghiệp tổng thể, các tỷ lệ tài chính có ảnh hưởng là
TATO, DER, EPS, và PBV. Hơn nữa, nghiên cứu này cho thấy sự dao động của giá
cổ phiếu trung bình vẫn có thể được giải thích cặn kẽ bằng tỷ lệ tài chính trong giai
đoạn 1-3 tháng sau khi phát hành báo cáo tài chính hàng năm.
Hamzah (2007) đã phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ tài chính, bao gồm cả
tỷ lệ thanh khoản (tỷ lệ hiện tại), lợi nhuận tỷ lệ (Return on Investment), tỷ lệ hoạt
động (Tổng tài sản trên doanh thu), và tỷ lệ khả năng trả nợ (Nợ trên vốn chủ sở
hữu), và cả lãi vốn (lỗ) và cổ tức trong 135 công ty sản xuất được liệt kê trên
Jakarta Stock Exchange. Nghiên cứu này phát hiện ra rằng tất cả các tỷ lệ này có
mối tương quan thuận với tăng vốn (lỗ). Tuy nhiên, chỉ có chỉ số hiện hành là có ý
nghĩa thống kê (α = 5%). Hơn nữa, mối tương quan với tỷ lệ cổ tức, chỉ có vòng
quay tổng tài được chứng minh là đáng kể (α = 10%).
Witkowska (2005) xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận tương lai của cổ
phiếu và những chỉ số cơ bản dành cho các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch
chứng khoán Warsaw ở Ba Lan. Bài nghiên cứu sử dụng phân tích thực nghiệm dựa
trên mô hình dữ liệu của 187 công ty trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2003 chỉ
ra rằng cổ tức tương lai của cổ phiếu chủ yếu liên quan đến 3 chỉ số cơ bản là lợi
nhuận bán hàng, chi phí bán hàng và quản lý, ROA. Cổ tức cũng quan hệ rất mật
thiết với tỷ lệ P/E (hệ số giá trên thu nhập). Hầu hết các mối quan hệ này không
đúng trong ngắn hạn. Trong dài hạn thì tầm quan trọng của các biến số cơ bản sẽ
được thể hiện rõ hơn.
Trường hợp 1 năm trở lên: 3 chỉ số (lợi nhuân bán hàng, chi phí bán hàng và
quản lý, ROA) là rất quan trọng, từ 3 tháng trở lên nên xem xét kỹ các chỉ số lợi
nhuận bán hàng và đòn bẩy tài chính, trong trường hợp 1 tháng trở lên chỉ nên xem
xét đòn bẩy tài chính. Các phát kiến trên đã chứng minh cho giả thuyết rằng phân

13

tích cơ bản chỉ dùng cho đầu tư dài hạn. Ngoài các nhân tố rủi ro của mô hình Fama
và Frech, chỉ duy nhất chỉ số P/E là có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích cổ
tức trong tương lai của cổ phiếu. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của nó trong việc xác
định cổ tức 1 năm trở lên thì không hề nhỏ.
Một nghiên cứu về tỷ lệ PBV được thực hiện bởi Utama và Đảo Sentosa
(1998) trên 128 công ty niêm yết trên Jakarta Stock Exchange vào năm 1995.
Nghiên cứu này chứng minh rằng tỷ lệ PBV có thể được sử dụng trong việc thiết lập
chiến lược đầu tư, vì bằng cách sử dụng tỷ lệ PBV, nhà đầu tư có thể dự đoán cổ
phiếu sẽ bị đánh giá thấp và định giá quá cao để họ có thể đạt được lợi nhuận đáng
kể. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng thảo luận về các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến
PBV là bao gồm ROE, triển vọng tăng trưởng, mức độ rủi ro, chính sách cổ tức. Kết
quả xác nhận rằng chỉ ROE là có mối tương quan thuận với PBV nhất quán và đáng
kể.
Một số nhà nghiên cứu đã được nghiên cứu về tác động của thông tin về lưu
lượng tiền mặt. Manurung (1998) đã phân tích tác động của dòng tiền vào chứng
khoán lợi nhuận bằng cách sử dụng dữ liệu từ 40 công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Jakarta trong năm 1994 và 1995. Đó là kết luận rằng sự tương quan
giữa lưu chuyển tiền tệ, điều hành, đầu tư và hoạt động tài chính, và lợi nhuận
chứng khoán yếu, nhưng trở nên mạnh mẽ hơn mỗi năm. Tương quan với dòng tiền
từ hoạt động kinh doanh là tích cực, nhưng thống kê không đáng kể cho cả hai năm
1994 và giai đoạn 1995. Hơn nữa, mối tương quan với dòng tiền từ hoạt động đầu
tư và tài chính là tích cực trong năm 1994 và tiêu cực trong năm 1995, và theo
thống kê thì không đáng kể cho cả hai năm.
Nghiên cứu khác về dòng tiền được thực hiện bởi Daniati và Suhairi (2006)
với công ty ô tô và dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Jakarta năm 19992004 như mẫu. Họ đã phân tích có hay không thông tin về dòng tiền (điều hành,
đầu tư và tài chính), lợi nhuận gộp, và kích thước của công ty ảnh hưởng đến lợi cổ
phiếu của doanh nghiệp đáng kể. Kết quả chứng minh rằng dòng tiền từ hoạt động
đầu tư, lợi nhuận gộp, và kích thước của công ty liên quan đáng kể với lợi nhuận

14

chứng khoán, trong khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không ảnh hưởng đến lợi
nhuận một cách đáng kể.
Nghiên cứu về tài chính cho thấy rằng đặc điểm của doanh nghiệp (ví dụ như
tăng trưởng, hiệu quả sử dụng, quy mô công ty) có thể dự đoán giá cổ phiếu trong
tương lai. Johnson và Soenen (2003) đã phân tích 478 công ty tại Mỹ trong thời
gian 1982-1998 và kết luận công ty lớn và lợi nhuận với chi phí quảng cáo cao có
kết quả tốt hơn trong ba chỉ số đo.
Bên cạnh những nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài, tại Việt Nam tác giả
còn tìm thấy tài liệu đề cập đến suất sinh lợi của chứng khoán cũng như công thức
xác định tỷ suất sinh lợi chứng khoán (Nguyễn Anh Phong, Tạp chí Phát triển Kinh
tế số 264 tháng 10 năm 2012). Bài nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thanh khoản
và rủi ro thanh khoản lên suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết tại thị trường chứng
khoán Việt Nam. Nghiên cứu đo tính thanh khoản bằng ba cách khác nhau: thứ nhất
là đo bằng tỷ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang
lưu hành (turnover), giá trị giao dịch bình quân trong tháng của cổ phiếu và tỷ lệ
giữa giá trị giao dịch bình quân trong tháng so với giá trị giao dịch bình quân toàn
thị trường. Bài nghiên cứu cho thấy tỷ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch chia cho
số lượng cổ phiếu đang lưu hành không có ảnh hưởng đến suất sinh lời và rủi ro các
cổ phiếu niêm yết, ngược lại hai chỉ số thanh khoản còn lại có quan hệ với suất sinh
lời, trong khi chỉ số beta có quan hệ khá mờ nhạt đến suất sinh lời của các cổ phiếu.
Suất sinh lời của cổ phiếu (Ri) và danh mục thị trường (Rm) lần lượt được tính bởi
công thức sau: Ri / Rm =

Pt − Pt −1
, trong đó Pt và Pt-1 là mức giá cuối tháng này và
Pt −1

mức giá cuối tháng trước.

15

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các bài nghiên cứu thực nghiệm theo các tiêu chí biến độc
lập, biến nghiên cứu và biến có ý nghĩa:
Bài nghiên cứu

Biến độc lập

Robertus Tri
Brata Jauhari
(2003)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

Dwi Martani,
Mulyono,
Rahfiani
Khairurizka
(2009)

Lợi nhuận
chứng thị
trường được
điều chỉnh và
lợi nhuận bất
thường
(Tỷ suất sinh
lợi chứng
khoán)

Biến phụ thuộc

Biến có ý nghĩa

Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
DER, P/BV, ROE
(DER), hệ số giá cổ phiếu/giá trị
và DPR
sổ sách (P/BV), lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ số
giá trên thu nhập (PER), tỷ lệ
chi trả cổ tức (DPR)
NPM (Hệ số biên lợi nhuận
ròng), ROE (Lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu), CR (Chỉ số khả
năng thanh toán hiện hành),
DER (Nợ trên vốn chủ sở hữu),
TATO (Vòng quay tổng tài sản
trên doanh thu), PBV (Giá trị sổ
sách), TA (Tổng tài sản),
CFO/Sales (Dòng tiền từ hoạt
động trên doanh thu)

Khả năng sinh lời
(NPM và ROE),
TATO, và hệ số
giá cổ phiếu/ giá
trị sổ sách (PBV)

O’Conor (1973)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

33 chỉ số tài chính

Tổng nợ phải
trả/giá trị ròng,
thu nhập từ cổ
phiếu phổ thông
đến giá trị ròng,
dòng tiền từ số cổ
phiếu phổ thông,
nợ ngắn hạn,
hàng tồn kho,
EPS đến giá cổ
phiếu

Lev và
Thiagarajan
(1993)

Lợi nhuận bất
thường

Thay đổi trong hàng tồn kho,
các khoản phải thu, vốn chi tiêu,
R & D, tỷ suất sinh lợi, doanh
thu & chi phí hành chính, cung
cấp phải thu khó đòi, thuế hiệu
quả, phiếu đặt hàng, lực lượng
lao động, thu nhập LIFO, và
kiểm toán

Thay đổi trong
hàng tồn kho,
phải thu, chi phí
vốn, tỷ suất lợi
nhuận, bán hàng
và chi phí hành
chính, phiếu đặt
hàng

16

Thay đổi trong hàng tồn kho,
các tài khoản phải thu, tổng lợi
nhuận, chi phí bán hàng, chi phí
vốn, các mức thuế suất hiệu
quả, phương pháp kiểm kê, trình
độ kiểm toán, và năng suất lao
động của lực lượng bán hàng

Thay đổi trong
hàng tồn kho,
tổng lợi nhuận,
chi phí bán hàng

Abarbanell &
Bushee (1998)

Lợi nhuận bất
thường

Hobarth (2006)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán
(giá trị thị
trường)

Anggraini,
Setiawati và
Desembriarto
(2004)

Lợi nhuận bất
thường

Hàng tồn kho, các khoản phải
thu, lợi nhuận gộp, tiếp thị và
chi phí hành chính, trợ cấp tài
khoản phải thu khó đòi liên
quan đến bán hàng, thuế hiệu
quả, tỷ lệ, và trình độ kiểm toán

Trong giai đoạn
khủng hoảng, lợi
nhuận gộp. Trong
khi ở giai đoạn
không khủng
hoảng hàng tồn
kho, báo cáo tài
chính, và trình độ
kiểm toán

Manao và Nur
(2001)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

QR, TATO, CLTA, LDTA,
GPM, ROE, PBV, EPS

PBV, EPS

Prasetya (2000)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

Hệ số giá trên thu nhập 1/PER
(EPP), hệ số giá cổ phiếu trên
giá trị sổ sách 1/PBV (BPP),
Chỉ số nợ trên tổng tài sản
(DTA), lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu (ROE), hệ số biên lợi
nhuận ròng (NPM), hệ số lợi
nhuận hoạt động (OPM)

Giai đoạn tăng
trưởng: EPP,
BPP, DTA, OPM,
Log Mcap. Giai
đoạn suy yếu:
BPP, DTA, ROE

Chỉ số tỷ lệ giá kế toán trên giá Tỷ lệ giá kế toán
trị trường, quy mô, tốc độ tăng trên giá thị trường
trưởng ổn định, ROA, cấu trúc thấp, quản lý vốn
vốn, vòng quay chuyển đổi tiền
lưu động hiệu
mặt, R&D, chi phí quảng cáo,
quả, nhiều vốn cổ
chi phí đầu tư, ý kiến kiểm toán, phần và đánh giá
chỉ số p, chỉ số thanh toán
cổ phiếu thấp,
nhanh, thay đổi phần trăm
tổng tài sản thấp,
doanh thu, EBIT, xếp hạng tín
và tỷ suất EBIT
dụng dài hạn, xếp hạng tín dụng
cao, khả năng
ngắn hạn, tỷ lệ cổ phiếu phổ
sinh lợi cao
thông)

17

Purnomo
(1998)

Giá chứng
khoán

EPS, PER, DER, ROE, DPS

DER

Sparta và
Februwaty
(2005)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

ROE, EPS và CFO

ROE

Mais (2005)

Giá chứng
khoán

NPM, ROA, ROE, DER, EPS

NPM, ROA,
ROE, DER, EPS

Kennedy (2003)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

ROA, ROE, EPS, lợi nhuận
biên, vòng quay tổng tài sản,
DTA, DER

-

Roswati (2007)

Giá chứng
khoán

CR, TATO, DER, ROE, EPS,
PBV

TATO, DER,
EPS, PBV

Hamzah (2007)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán,
cổ tức

CR, ROI, TATO, DER

Tỷ suất sinh lợi:
CR, Cổ tức:
TATO

Utama và
Sentosa (1998)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán,
PBV

Tỷ suất sinh lợi: PBV; PBV:
ROE, tăng trưởng, beta, cổ tức.

Tỷ suất sinh lợi:
PBV; PBV: ROE

Daniati và
Suhairi (2006)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

Dòng tiền từ hoạt động SXKD,
đầu tư và hoạt động tài chính,
tổng lợi nhuận, quy mô công ty

Dòng tiền từ hoạt
động đầu tư, tổng
lợi nhuận, quy mô
công ty

Manurung
(1998)

Tỷ suất sinh lợi
chứng khoán

Dòng tiền từ hoạt động SXKD,
đầu tư và hoạt động tài chính

-

Meythi (2006)

Giá chứng
khoán

Dòng tiền từ hoạt động SXKD

-

Restrainingsih
(2007)

Lợi nhuận

Tích lũy, dòng tiền, thu nhập
ròng, cổ tức, PBV

Tích lũy, dòng
tiền, thu nhập
ròng, cổ tức, PBV

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Phần trình bày trên đã khái quát một số nghiên cứu thực nghiệm tại các thị
trường khác nhau về các thông tin kế toán đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Tiếp
theo, đề tài đề cập đến các giải thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định trong mô hình
thực nghiệm.