Tải bản đầy đủ
5 Nhận diện những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế của hệ thống KSNB

5 Nhận diện những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế của hệ thống KSNB

Tải bản đầy đủ

Cuối cùng, công tác giám sát trong hệ thống KSNB tuy đã được thiết lập nhưng
cũng chỉ ở mức tương đối và chưa mang lại hiệu quả thật sự như mong muốn. Trong
doanh nghiệp, các nhân viên cũng như các bộ phận chưa được tạo điều kiện để có thể
thực hiện việc giám sát lẫn nhau trong công việc hàng ngày. Bên cạnh đó, cũng còn
nhiều nhà quản lý chưa thực hiện tốt công tác đánh giá thường xuyên cũng như đánh
giá định kì hệ thống KSNB nên việc điều chỉnh và duy trì sự hữu hiệu của hệ thống
KSNB qua nhiều thời kì khác nhau chưa được đảm bảo.
Dù vẫn còn một vài khuyết điểm trong hệ thống KSNB của các DNNVV trên
địa bàn tỉnh Bình Dương, tuy nhiên đó chỉ là một số khuyết điểm cố hữu xuất phát từ
bản chất của loại hình DN này. Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận một điều là đã có
những nét cơ bản về sự hữu hiệu và tính hiệu rất tích cực trong việc thiết lập và vận
hành hệ thống KSNB trong các DNNVV trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Tuy nhiên, khi xét về góc độ từng loại hình doanh nghiệp (Nhỏ hoặc Vừa) theo
như kết quả khảo sát cho thấy được cái nhìn cụ thể hơn về hạn chế của hệ thống KSNB
của từng loại hình DN. Đối với hệ thống KSNB của DN Nhỏ chưa thật sự hữu hiệu đã
bộc lộ khá nhiều điểm cần khắc phục, trong khi hệ thống KSNB của DN Vừa tương đối
hữu hiệu hơn, tuy nhiên cũng cần phải lưu ý một số vấn đề để nhằm hoàn thiện hơn về
hệ thống KSNB của loại hình doanh nghiệp này.
- Qua thực tế khảo sát và tìm hiểu, những hạn chế trong hệ thống KSNB trong
DN Nhỏ hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương tồn tại hiện nay là do một số nguyên
nhân chủ yếu sau đây:
Nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ bản chất của loại hình doanh nghiệp này đó
chính là nguồn lực tài chính hạn chế (vốn ít). Trong khi để hệ thống KSNB hoạt động
thật sự hữu hiệu cần một khoản chi phí tương đối, tuy nhiên các DN Nhỏ sẽ không sẵn
lòng bỏ ra một khoản chi phí cao để triển khai và thực hiện một số thủ tục kiểm soát
nhằm đạt được sự hữu hiệu cho hệ thống KSNB.

+ Với nguồn lực tài chính hạn chế, DN Nhỏ khó có thể thành công trong một
nền kinh tế có mức độ cạnh tranh khốc liệt như hiện nay do phần lớn các DN Nhỏ
không có đủ điều kiện về nguồn lực tài chính để thường xuyên thay đổi công nghệ,
nâng cấp, đổi mới máy móc, thiết bị và phương pháp sản xuất tiên tiến, hiện đại. Qua
thực tế, hầu hết công nghệ đang được sử dụng trong các DN Nhỏ hiện được đánh giá là
lạc hậu. Hậu quả của vấn đề này sẽ làm hạn chế khả năng sản xuất, đa dạng hóa sản
phẩm, hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất.
Từ đó hạn chế năng lực cạnh tranh của các DN Nhỏ dẫn đến ảnh hưởng đến việc đạt
được mục tiêu chung của doanh nghiệp.
+ Bên cạnh đó, với nguồn lực tài chính hạn chế DN Nhỏ cũng còn khó khăn cả
việc đầu tư trang bị, nâng cấp hệ thống thông tin một cách kịp thời nhằm đáp ứng khả
năng xử lý số lượng thông tin ngày càng nhiều tương xứng với quy mô ngày càng mở
rộng của doanh nghiệp.
Nguyên nhân thứ hai là do nguồn nhân lực không đáp ứng được cả về lượng
lẫn về chất, điều này đã được kiểm định qua thực tế:
+ Phần lớn các doanh nghiệp chỉ thuê một số ít các nhân viên kế toán để thực
hiện công tác kế toán, thậm chí chỉ thuê duy nhất một kế toán tiền mặt (chỉ ghi chép thu
- chi hàng ngày và làm một số báo cáo riêng cho nhà quản lý còn gọi là kế toán nội bộ)
còn công việc kế toán công ty thuê các công ty dịch vụ kế toán hoặc công ty kiểm toán
kiêm luôn làm kế toán, chủ yếu là làm BCTC và làm một số tờ khai quyết toán thuế
nhằm đối phó với các cơ quan chức năng. Một số nhà quản lý cho rằng công việc quan
trọng nhất chính là hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
+ Hầu hết các DN Nhỏ không đủ nhân lực để thực hiện việc phân chia trách
nhiệm. Do đó, để tận dụng tối đa nguồn nhân lực ít ỏi của DN nên một người có thể
đảm đương nhiều công việc cùng một lúc. Do đó, việc vi phạm nguyên tắc bất kiêm
nhiệm trong các doanh nghiệp này là điều khó tránh khỏi đồng nghĩa với việc bảo vệ tài

sản và sổ sách kế toán cũng sẽ không chặt chẽ. Chính điều này có thể dẫn đến những
sai sót, vi phạm, gian lận cố ý không quy được trách nhiệm một cách cụ thể.
+ Các doanh nghiệp này thường không có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, không
tổ chức chương trình đào tạo cũng như không cử nhân viên tham gia các khóa đào tạo
ngắn hay dài hạn bên ngoài tổ chức nhằm nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho
nhân viên. Do đó, trình độ nhân viên trong các doanh nghiệp này không đảm bảo về độ
chuyên sâu dẫn đến việc dự phòng nguồn nhân lực chất lượng cao cho những vị trí
quan trọng khi cần thiết là chưa có.
+ Chính sách sử dụng lao động chưa tốt nên không tạo động lực khuyến khích
nhiệt tình lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhân viên và chưa có những
biện pháp cần thiết để giữ người lao động gắn bó làm việc lâu dài. Bên cạnh đó, trong
công việc chưa tạo điều kiện tự kiểm tra cũng như giám sát lẫn nhau giữa các nhân viên
trong doanh nghiệp. Do đó, lực lượng lao động chưa hoàn thành tốt các yêu cầu nhiệm
vụ từ đó tác động đến tính có hiệu lực của các thủ tục kiểm soát.
Nguyên nhân thứ ba là do năng lực quản lý còn thấp và sự hiểu biết của nhà
quản lý về hệ thống KSNB còn nhiều hạn chế do các nhà quản lý cao cấp trong các DN
này thường không được đào tạo chuyên sâu về KSNB. Trong khi các chương trình đào
tạo dành riêng cho các nhà quản lý cao cấp thường chủ yếu tập trung nhiều về kiến thức
quản trị kinh doanh, không có hoặc rất ít các chuyên đề về KSNB.
Nguyên nhân thứ tư là do cơ chế giám sát chưa được thực hiện một cách
nghiêm túc cũng như chưa thực sự được đảm bảo:
+ Hệ thống KSNB chưa tạo điều kiện để nhân viên cũng như các bộ phận có thể
giám sát lẫn nhau trong công việc hàng ngày.
+ Nhà quản lý chưa thực hiện một cách chặt chẽ và đúng mực trong việc giám
sát đối với nhân viên trong công ty.
+ Việc giám sát định kỳ tuy có được thực hiện tuy nhiên vẫn chưa đạt được như
mong muốn để có thể có những điều chỉnh, bổ sung cần thiết nhằm khắc phục kịp thời

những yếu kém của hệ thống KSNB cho phù hợp với tình hình của từng giai đoạn và
duy trì sự hữu hiệu của hệ thống KSNB qua những thời kì khác nhau.
Nguyên nhân thứ năm là do quản trị rủi ro (nhận dạng và đánh giá rủi ro) trong
DN Nhỏ chưa được quan tâm đúng mực và chưa thực hiện bài bản quy chuẩn.
+ DN Nhỏ còn thiếu những kế hoạch, chiến lược phát triển dài hạn và phổ biến
rộng rãi đến mọi thành viên trong doanh nghiệp. Điều này làm cho doanh nghiệp có
khả năng không xem xét hết các rủi ro và không có các chiến lược trong dài hạn để chủ
động đối phó với rủi ro một cách hiệu quả.
+ Nhà quản lý trong các DN Nhỏ thường không đủ kiến thức và công cụ để
lượng hóa các rủi ro. Việc lượng hóa vẫn bị chi phối nhiều bởi yếu tố cảm tính, vì vậy
có thể nhận dạng không hết các rủi ro hoặc đánh giá rủi ro không chính xác dẫn đến
hiệu quả của việc quản trị rủi ro thấp.
+ Chưa có hướng dẫn của Nhà nước hoặc hội nghề nhiệp về quản lý rủi ro, cũng
như chưa quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc công bố và quản lý rủi ro.
Điều này làm cho các nhà quản lý không có sự quan tâm đúng mực đến việc quản lý rủi
ro.
Nguyên nhân thứ sáu là do DN Nhỏ thiếu cả về lượng lẫn về chất của thông
tin. Thiếu không chỉ thông tin về giá cả, thị trường, marketing, thông tin về đối thủ
cạnh tranh mà còn thiếu cả thông tin về công nghệ, kỹ thuật, cơ chế chính sách của nhà
nước. Nhằm tiết kiệm các khoản chi phí, DN Nhỏ thường không thành lập thêm các
phòng ban như marketing; nghiên cứu thị trường; thu thập phân tích các thông tin, sự
kiện thường xuyên thay đổi có phát sinh các rủi ro tiềm ẩn đi kèm…
- Đối với DN Vừa, bên cạnh những kết quả đạt được qua đánh giá hệ thống
KSNB cũng còn tồn tại một số hạn chế là do một số nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân thứ nhất là do nguồn nhân lực tuy có đáp ứng được về lượng
nhưng vẫn còn hạn chế trong việc thiết lập và thực hiện chính sách, cơ chế phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao do đó một khi những vị trí quan trọng trong doanh

nghiệp cần có sự thay thế, bổ sung thì cấp quản lý thấp hơn cũng như các nhân viên bên
dưới không đủ trình độ, khả năng đáp ứng cho vị trí đó.
Nguyên nhân thứ hai là do chưa thực hiện bài bản quy chuẩn trong việc kiểm
soát rủi ro nhất là đối với rủi ro tiềm tàng từ những sự thay đổi của một số nhân tố tác
động. Các nhà quản lý vẫn chỉ dựa trên kiến thức, khả năng, kinh nghiệm của mình
trong việc nhận dạng, đánh giá và đối phó với các rủi ro, chưa thành lập một bộ phận
chuyên trách về vấn đề này.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn đã mô tả thực trạng hệ
thống KSNB của các DNNVV thông qua việc sử dụng công cụ đánh giá COSO ở một
số DNNVV trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Qua thực thế khảo sát cho thấy các doanh nghiệp đã có cố gắng vận dụng lý
thuyết KSNB vào thực tế để kiểm soát và quản lý các hoạt động của doanh nghiệp
nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, việc thiết kế này hầu như chỉ cơ bản hiệu
quả đối các DN Vừa, trong khi ở các DN Nhỏ việc thiết kế này chỉ mang tính tự phát,
không hệ thống nên mức độ đạt được chưa cao, vẫn còn nhiều hạn chế làm cho hệ
thống KSNB chưa phát huy hết hiệu quả như về tổ chức nhân sự, phân chia trách
nhiệm, quyền hạn, đánh giá và phân tích các rủi ro ở DN...
Qua việc xác định được những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế của hệ thống
KSNB trong DN Nhỏ và DN Vừa có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chương tiếp theo
sẽ trình bày về một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KSNB cho từng loại hình
doanh nghiệp giúp vận hành hữu hiệu hơn trong thời gian tới.

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC DNNVV CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các DNNVV có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Qua nghiên cứu hệ thống KSNB của 40 doanh nghiệp Nhỏ và Vừa có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả nhận thấy sự cần thiết của
việc hoàn thiện hệ thống KSNB qua các khía cạnh sau:
* Vai trò, vị trí hệ thống KSNB ngày càng được khẳng định trong công tác quản
lý của DN, đặc biệt là trong các DNNVV. Các DN này cần nhận thức đầy đủ hơn tầm
quan trọng của hệ thống KSNB, quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống này. Việc hoàn thiện hệ thống KSNB được coi là cần thiết, phải thực hiện
thường xuyên liên tục.
* Hệ thống KSNB đang dần trở nên phổ biến không chỉ về mặt lý luận và cả về
thực tiễn. KSNB ra đời và phát triển dựa theo yêu cầu của hoạt động quản lý. Các nhà
quản lý của doanh nghiệp chỉ có thể kiểm soát được tình hình hoạt động kinh doanh
một cách tương đối dễ dàng khi quy mô hoạt động của các doanh nghiệp chưa phát
triển. Tuy nhiên, đến khi quy mô của các doanh nghiệp này phát triển hơn thì lúc đó vai
trò của hệ thống KSNB sẽ thể hiện rõ ràng hơn bởi vì các nhà quản lý lúc này sẽ gặp
khó khăn trong việc nhận dạng, giám sát và kiểm tra tất cả các rủi ro nếu chỉ dựa vào
kinh nghiệm giám sát của bản thân, do đó các nhà quản lý phải quan tâm nhiều hơn đến
việc xây dựng hệ thống KSNB. Khi hoạt động của doanh nghiệp ngày càng phát triển
hoạt động KSNB cũng phải tương ứng đáp ứng nhu cầu phát triển đó. Các nhà quản lý
phải thường xuyên xem xét, đánh giá kịp thời để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống

KSNB nếu muốn hệ thống này hoạt động hữu hiệu.
* Kể từ khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh
tế Việt Nam đã và đang chuyển biến mạnh sang nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa,
hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu của thời đại. Việt Nam không thể đứng
ngoài xu thế đó, hiện Việt Nam không chỉ là thành viên của WTO, mà còn là thành
viên của rất nhiều tổ chức quốc tế khác, chẳng hạn như: ASEAN, AFTA, APEC,
ASEM... Để đứng vững trong môi trường cạnh tranh, thích ứng được với các điều kiện
kinh doanh mang tính quốc tế, ngay từ bây giờ hoàn thiện hệ thống KSNB, tăng cường
công tác quản lý là bước đi cần thiết đầu tiên của các doanh nghiệp trong tiến trình đổi
mới và hội nhập.
* Hệ thống KSNB chủ yếu thực hiện bởi con người. Một khi hệ thống này vững
mạnh, những gian lận và sai sót sẽ được giảm thiểu ở mức thấp nhất. Thói quen làm
việc, đạo đức con người trong xã hội cũng sẽ thay đổi theo hướng tốt hơn như: cẩn
trọng, trung thực, có trách nhiệm hơn trong công việc…
3.2 Phương hướng và nguyên tắc hoàn thiện hệ thống KSNB trong các DNNVV
có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương
v Phương hướng hoàn thiện hệ thống KSNB:
Xuất phát từ thực trạng hệ thống KSNB trong các DNNVV có vốn FDI tại tỉnh
Bình Dương, từ nhu cầu và sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống KSNB trong DNNVV
nói chung và trong các DNNVV có vốn FDI tại tỉnh Bình Dương nói riêng để xây dựng
một hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu trong doanh nghiệp, việc hoàn thiện hệ thống
KSNB cần phải xác định phương hướng như sau:
- Một môi trường văn hóa nhấn mạnh đến sự chính trực, giá trị đạo đức và phân
công phân nhiệm rõ ràng, cụ thể;
- Quy trình hoạt động và quy trình KSNB được xác định rõ ràng bằng văn bản
và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ doanh nghiệp;
- Các hoạt động rủi ro được phân tách rõ ràng giữa các nhân viên với nhau;